"Tình yêu và Bài toán Cam kết trong các Mối quan hệ
Lãng mạn và Tình bạn"
Love and the Commitment Problem in Romantic Relations and Friendship
Tác giả: Gian C. Gonzaga,
Dacher Keltner, Esme A. Londahl, and Michael D. Smith
Lược dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
Bài liên hệ: VALENTINE
Dựa trên mệnh đề cho rằng tình yêu thúc đẩy sự cam kết, các tác giả dự đoán rằng tình yêu sẽ kích hoạt các hành vi tiếp cận, có tín hiệu biểu hiện đặc trưng và tương quan với các quá trình củng cố sự cam kết khi mối quan hệ bị đe dọa. Các tác giả đã nghiên cứu các cặp đôi yêu nhau và những người bạn khác giới ở lứa tuổi thanh thiếu niên trong các tương tác khơi gợi tình yêu và đe dọa đến mối liên kết giữa họ. Đúng như kỳ vọng, trải nghiệm tình yêu có mối tương quan với các trạng thái liên quan đến hành vi tiếp cận (sự khao khát, sự đồng cảm). Cung cấp bằng chứng cho việc biểu lộ tình yêu phi ngôn ngữ, bốn tín hiệu gắn kết (gật đầu, nụ cười Duchenne, cử chỉ tay và hướng người về phía trước) có tương quan với các báo cáo tự đánh giá và mức độ đánh giá của đối phương về tình yêu. Cuối cùng, trải nghiệm và việc biểu lộ tình yêu có tương quan với các quá trình củng cố sự cam kết (ví dụ: giải quyết xung đột mang tính xây dựng, cảm giác tin tưởng) khi mối quan hệ bị đe dọa. Phần thảo luận tập trung vào tình yêu, cảm xúc tích cực và các mối quan hệ.
Những
thứ tầm thường, đê tiện, chẳng ra chi,
Tình yêu hóa phép thành cao quý, uy nghi,
Yêu chẳng nhìn bằng mắt, mà bằng tâm,
Nên Thần Cupid có cánh, mí luôn khép kín
Thơ —William Shakespeare, A Midsummer Night's Dream [thần Cupid thường được vẽ hoặc tạc tượng trong trạng thái bị bịt mắt hoặc nhắm nghiền mắt, chứ bản thân vị thần này không phải bị mù bẩm sinh.]
Trong những suy ngẫm của
Shakespeare về tình yêu, người ta tìm thấy một sự thật sâu sắc và đồng điệu với
trải nghiệm thực tế: Khi biến đổi những điều tầm thường thành sự thăng hoa,
tình yêu có vẻ như mù lòa, phi lý trí và tách rời khỏi những gì được coi là
chân thực và thực tế. Quan sát này hoàn toàn trùng khớp với phân tích lý thuyết
tiếp theo của chúng tôi về trải nghiệm nhất thời của tình yêu. Dẫu vậy, chúng
tôi cũng không đồng tình với những gì vị đại văn hào đã đúc kết về cảm xúc này.
Khác với Shakespeare, chúng tôi cho rằng con người cũng nhìn thấy tình yêu bằng
đôi mắt của họ; rằng tình yêu có một khía cạnh thể chất được biểu hiện rõ ràng
qua các chuyển động của khuôn mặt và cơ thể – chính những chuyển động này là
tác nhân thúc đẩy các hoạt động thăng hoa hơn của tâm trí.
Cụ thể hơn, chúng tôi đề xuất rằng trải nghiệm nhất thời
của tình yêu giúp các đối tác thân thiết duy trì sự cam kết lẫn nhau. Việc xem
xét tình yêu như một cơ chế cam kết này dẫn đến các giả thuyết sau đây. Về mặt
trải nghiệm của tình yêu, chúng tôi định vị rằng tình yêu sẽ tương quan với các
trạng thái liên quan đến hành vi tiếp cận. Về mặt biểu hiện của tình yêu, chúng
tôi kỳ vọng rằng trải nghiệm tình yêu sẽ được mã hóa thành một biểu hiện phi
ngôn ngữ đặc trưng mà người quan sát có thể dễ dàng diễn giải được. Về mặt hệ
quả của tình yêu, chúng tôi dự đoán rằng trải nghiệm và việc biểu lộ tình yêu sẽ
tương quan với các nhận thức và hành vi liên quan đến sự cam kết được khơi gợi
khi mối liên kết bị đe dọa. Chúng tôi đã kiểm chứng các giả thuyết này trong
các nghiên cứu về sự tương tác giữa các cặp đôi yêu nhau và những người bạn
khác giới.
1- Tình Yêu Như Một Cơ Chế Cam Kết
Các nghiên cứu gần đây đã tập
trung vào cách cảm xúc điều tiết các mối quan hệ giữa cá nhân với cá nhân. Theo cách tiếp cận này, sự sống còn của con người phụ
thuộc vào việc hình thành các liên minh hợp tác, các mối quan hệ phối ngẫu lâu
dài, việc sinh sản thành công và nuôi dạy những đứa con còn non nớt cho đến độ
tuổi sinh sản của chúng. Các trải nghiệm liên quan đến cảm xúc, hành vi biểu cảm,
quá trình nhận thức và sinh lý học giúp các cá nhân đáp ứng được những đòi hỏi
của các mối quan hệ này trong các tương tác tự phát. Cảm xúc là những phản ứng ngắn hạn, diễn ra ngay
trong khoảnh khắc đối với các vấn đề và cơ hội của các mối quan hệ xã hội.
Các học giả nghiên cứu theo truyền thống của thuyết gắn
bó và thuyết tiến hóa đã lập luận rằng cảm xúc giúp các cá nhân hình thành và
duy trì các mối quan hệ sinh sản. Chẳng hạn, sự ghen tuông thúc đẩy các cá nhân
bảo vệ mối quan hệ một vợ một chồng. Sự
ham muốn thúc đẩy hành vi tình dục để phản hồi lại các dấu hiệu thể chất về những
đặc điểm ở bạn tình tiềm năng – chẳng hạn như sức khỏe hoặc địa vị – những điều
có thể mang lại lợi thế tiến hóa cho thế hệ con cái. Tình yêu hoạt động như một cơ chế cam kết.
Cụ thể hơn, con người bước vào các mối quan hệ thân thiết
lâu dài vì nhiều lý do (ví dụ: để nuôi dạy con cái đến độ tuổi có khả năng tự
sinh tồn). Trong quá trình duy trì những mối liên kết lâu dài này, các cặp đôi
yêu nhau phải đối mặt với bài toán cam kết: Các đối tác phải
duy trì sự gắn kết với nhau trước những lựa chọn thay thế khác – vốn có thể hấp
dẫn lợi ích cá nhân nhất thời nhưng lại đặt ra những mối đe dọa rõ ràng cho mối
quan hệ . Những
bằng chứng về các vụ ngoại tình, ly hôn và các nguồn cơn của sự ghen tuông đã
chứng minh cho tần suất và tầm quan trọng của bài toán cam kết, tương tự
như sự phổ biến của các tập tục văn hóa nhằm thúc đẩy sự cam kết giữa những người
thân thiết (ví dụ: lời thề đám cưới, lễ kỷ niệm ngày cưới, các hội thảo dành
cho cặp đôi, hay sự can thiệp của gia đình bên vợ/bên chồng).
Tình yêu thúc đẩy sự cam kết theo hai cách:
Thứ nhất, trải
nghiệm tình yêu kích hoạt các hành vi tiếp cận đối với đối phương thân thiết
(điều này hiển nhiên làm giảm các hành vi tiếp cận hướng tới các lựa chọn cạnh
tranh khác), và khi đối phương vắng mặt, trải nghiệm này có khả năng làm đối trọng
kìm hãm cảm giác ham muốn đối với những người khác.
Thứ hai, việc
biểu lộ tình yêu ra bên ngoài qua lời nói, hành động và cử chỉ giúp truyền tải
sự cam kết tới đối phương, từ đó củng cố các quá trình bảo vệ và thắt chặt mối
liên kết (ví dụ: sự tin tưởng, sự phụ thuộc lẫn nhau, sự quý mến, lòng tử tế).
Khi sự phụ thuộc lẫn nhau, sự cam kết và niềm tin giữa hai người tăng lên, họ
có nhiều khả năng sẽ ngó lơ các lựa chọn lãng mạn thay thế khác, sẵn sàng hy
sinh vì mối quan hệ, và thể hiện ngày càng nhiều các hành vi ủng hộ mối quan hệ.
Chẳng hạn, các phân tích mô tả về hành vi tán tỉnh và tán tỉnh hẹn hò đã làm
sáng tỏ cách thức các biểu hiện phi ngôn ngữ của sự quan tâm lãng mạn đóng vai
trò là một phần trong tiến trình đầy hứng khởi hướng tới các mối quan hệ thân
thiết .
Phân tích này về trải nghiệm nhất thời của tình yêu đã được
dự đoán trước bởi các nhà lý thuyết từng mô tả vai trò của tình yêu trong sự
phát triển của các mối quan hệ lãng mạn. Những nhà lý thuyết này coi tình yêu
giống như một thái độ bền vững hoặc một tình cảm lâu dài đối với đối phương,
nhưng họ cũng đi đến cùng một kết luận. Sternberg (1986) đã đề xuất rằng sự cam
kết là một trong ba thành phần cốt lõi của
tình yêu. Hatfield và các đồng nghiệp thì mô tả một loại tình yêu gọi là "tình yêu bạn đồng hành"
(companionate love), dùng để chỉ "tình cảm mà chúng ta cảm nhận được dành
cho những người mà cuộc đời của chúng ta gắn kết sâu sắc với họ". Theo một
khuynh hướng tương tự, A. Aron và Aron (1991) đề xuất rằng tình yêu "gắn
liền với khao khát được bước vào hoặc duy trì một mối quan hệ thân thiết với một
đối tượng cụ thể). Phân tích dựa trên nền tảng cam kết của chúng tôi cùng với
những quan sát lý thuyết này chính là kim chỉ nam dẫn đến ba giả thuyết mà
chúng tôi tiến hành kiểm chứng trong nghiên cứu này.
2- Tình Yêu Như Một Tín Hiệu Nội Tại Để Tiếp
Cận
Một giả định được chấp nhận rộng
rãi là thành phần cảm giác của một cảm xúc sẽ phát tín hiệu về các trạng thái sự
việc quan trọng cho cá nhân, từ đó thúc đẩy hành vi phù hợp. Chẳng hạn, sự tức
giận thông báo cho cá nhân về các sự kiện bất công, từ đó thúc đẩy các hành vi
giúp giảm thiểu sự bất công này.
Phân tích dựa trên nền tảng cam kết của chúng tôi chỉ ra
rằng trải nghiệm nhất thời của tình yêu sẽ gắn liền với các xu hướng liên quan
đến hành vi tiếp cận [Ứng dụng chuyên ngành: xu hướng tiếp cận]. Nhiều quan sát
khác nhau đã tăng thêm độ tin cậy cho nhận định này [Ứng dụng chuyên ngành: củng
cố lập luận này]. Các nhà lý thuyết đã định vị rằng tình yêu bao gồm cảm giác kết
nối và gần gũi, sự quý mến, sự cam kết, và khao
khát được ở gần bên người mình yêu thương. Có một điều khá bất ngờ là chúng tôi không
tìm thấy bất kỳ nghiên cứu nào khảo sát về các yếu tố tương quan với trải nghiệm nhất thời của tình yêu. Tuy
nhiên, có ba hướng bằng chứng gián tiếp chỉ ra rằng trải nghiệm tình yêu sẽ
liên quan đến hành vi tiếp cận.
- Thứ nhất, những
người đang yêu (nghĩa là các cặp đôi lãng mạn) có khao khát mãnh liệt được ở
bên nhau, đôi khi phải đánh đổi bằng tình bạn, công việc và học tập.
- Thứ hai,
hành vi có thể liên quan đến trải nghiệm tình yêu, bao gồm một số kiểu cười nhất
định, giúp tăng cường các tương tác liên quan đến hành vi tiếp cận giữa trẻ nhỏ
và người chăm sóc.
- Thứ ba,
tình yêu dường như có mối tương quan với “oxytocin”– một
chất peptide thần kinh có liên quan đến hành vi gắn kết ở một số loài động vật
có vú, bao gồm cả con người.
Những nghiên cứu này chỉ ra rằng các yếu tố tương quan tiềm
năng của tình yêu (nghĩa là sự thân mật trong mối quan hệ, việc mỉm cười và oxytocin) có
liên quan đến hành vi tiếp cận. Nghiên cứu hiện tại là công trình đầu tiên ghi
nhận các yếu tố tương quan với trải nghiệm tự phát của tình yêu, giúp tránh được
các vấn đề (ví dụ: sai lệch ký ức) thường gặp trong các nghiên cứu hồi cứu về cảm
xúc. Chúng tôi đưa ra giả thuyết rằng trải nghiệm tình yêu sẽ tương quan thuận
với các trạng thái liên quan đến hành vi tiếp cận (ví dụ: sự khao khát và sự đồng
cảm).
3- Biểu Hiện Phi Ngôn Ngữ Của Tình Yêu
Một phân tích dựa trên nền tảng
cam kết định vị rằng việc đánh giá tình yêu của đối phương là điều thiết yếu để
duy trì mối quan hệ. Trong các giai đoạn đầu của mối quan hệ, việc biết
được trải nghiệm tình yêu của người kia sẽ góp phần thúc đẩy sự sẵn sàng đón nhận
và theo đuổi các mối quan hệ thân thiết. Khi
mối quan hệ tiến triển, việc cảm nhận được tình yêu của đối phương có khả năng
thúc đẩy sự cam kết theo nhiều cách khác nhau, từ việc trấn an đối phương trong
những thời điểm bất định cho đến việc kích thích các tương tác thân mật. Những
khẳng định này giả định trước rằng những người thân thiết truyền tải tình yêu cho
nhau, cả bằng lời nói lẫn bằng các biểu hiện phi ngôn ngữ.
Mặc dù khẳng định cho rằng trải
nghiệm tình yêu sở hữu một tín hiệu phi
ngôn ngữ đã có tiền lệ trong lĩnh vực này, nhưng chưa từng có nỗ lực thực nghiệm nào được thực
hiện nhằm thiết lập một biểu hiện như vậy. Các nghiên cứu đã ghi nhận các yếu tố
hành vi tương quan của sự gần gũi về mặt
tâm lý, sự ấm áp trong tương tác giữa cá nhân với cá nhân, sự cởi mở và hành vi
tiếp cận, cũng như các hành vi gắn kết, vốn có ảnh hưởng đến mức độ đánh giá của người tham gia về sự yêu thích
và hành vi tiếp cận. Các nghiên cứu về tập tính học cũng đã ghi nhận các hành
vi liên quan đến tán tỉnh và tán tỉnh hẹn hò – những hành vi có khả năng khơi gợi
tình yêu. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào liên
kết trải nghiệm nhất thời của tình yêu với hành vi tự phát (trên thực tế,
loại bằng chứng này rất hiếm gặp trong lĩnh vực nghiên cứu cảm xúc). Hơn nữa,
nhiều nghiên cứu trước đây đã khảo sát các hành vi được tạo dáng/diễn xuất thay
vì các hành vi tự phát, một phương pháp vốn gặp phải vô số vấn đề.
Bất chấp những hạn chế này, các
nghiên cứu được đề cập ở trên đều hội tụ vào bốn dấu hiệu hành vi tiềm
năng của tình yêu: (1) gật đầu, (2)nụ cười [1] Duchenne, (3) cử chỉ tay [2] khi nói chuyện và (4) hướng người về
phía đối phương. Chúng tôi gọi bốn hành vi này là các tín hiệu gắn kết,
và trong cuộc điều tra này, chúng tôi đã sử dụng các nghiên cứu mã hóa và giải
mã để xác định xem liệu các tín hiệu này có tạo nên một biểu hiện đáng tin cậy
của tình yêu hay không. Các nghiên cứu mã hóa đặt ra câu hỏi liệu trải nghiệm tự
phát của một cảm xúc có gắn liền với một biểu hiện phi ngôn ngữ đặc trưng hay
không. Việc nghiên cứu hành vi tự phát giúp tránh được những cạm bẫy của việc
nghiên cứu hành vi được tạo dáng/diễn xuất hoặc các mô tả bằng lời nói về hành
vi cảm xúc. Các nghiên cứu giải mã đặt ra câu hỏi liệu người quan sát có dễ
dàng nhận diện biểu hiện phi ngôn ngữ đó như một dấu hiệu của một cảm xúc cụ thể
hay không.
Chúng tôi đưa ra giả thuyết rằng
tình yêu có một tín hiệu phi ngôn ngữ bao gồm bốn tín hiệu gắn kết nêu trên. Dựa
trên mệnh đề này, chúng tôi kỳ vọng bốn tín hiệu này sẽ tương quan với trải
nghiệm tình yêu, đồng thời được diễn giải là tình yêu bởi cả đối phương thân
thiết lẫn những người quan sát khách quan.
Phụ thích
[1] Nụ
cười Duchenne huy động cả cơ gò má lớn (zygomatic major muscle), giúp kéo khóe
môi lên thành nụ cười, và cơ vòng mắt (orbicularis oculi), khi co lại sẽ tạo ra
các vết chân chim ở khóe mắt. Loại nụ cười này có mối liên hệ với các trạng
thái cảm xúc tích cực, khác với những nụ cười không có sự tham gia của cơ vòng
mắt (Ekman, Davidson, & Friesen, 1990).
[2] Cử
chỉ điệu bộ (Gesticulation) được định nghĩa là "bất kỳ chuyển động đáng
chú ý nào của cánh tay, bàn tay hoặc ngón tay mà không chạm vào một bộ phận
khác của cơ thể" (Rosenfeld, 1966a, 1966b, tr. 67). Chúng tôi kỳ vọng rằng
các cử chỉ điệu bộ sẽ biểu thị một dạng chú ý và sự gắn kết mang tính tích cực,
mặc dù rõ ràng là chúng cũng có thể biểu thị sự thù địch. Việc xem xét các tín
hiệu này cho thấy rất ít cử chỉ mang hàm ý thù địch.
4- Tình Yêu Cùng Các Hành Vi Và Nhận Thức Liên Quan Đến Sự
Cam Kết
Gần đây, các nhà nghiên
cứu đã bắt đầu ghi nhận những cách thức đáng kinh ngạc mà các tương tác ngắn ngủi
(ví dụ: sự đáp trả các cảm xúc tiêu cực) dự đoán các hệ quả dài hạn của mối
quan hệ. Trước những phát hiện này, thật ngạc nhiên khi chưa có nghiên cứu nào
giải quyết câu hỏi liệu tình yêu nhất thời
có dự đoán được các hệ quả quan trọng của mối quan hệ hay không, và cũng có
rất ít nghiên cứu xem xét một cách tổng quát hơn về tác động của cảm xúc tích cực.
Nghiên cứu gần đây nhất với chủ đề này là công trình tìm ra rằng các cặp đôi
tham gia vào các hoạt động mới mẻ và đầy hứng khởi (những hoạt động có khả năng
khơi gợi tình yêu) báo cáo chất lượng mối quan hệ cao hơn. Các nghiên cứu về
hành vi của những cặp đôi lãng mạn có mức độ hài lòng cao – những người có nhiều
khả năng trải nghiệm nhiều tình yêu hơn – cũng cung cấp nhiều thông tin giá trị.
Những đối tác lãng mạn hài lòng với mối
quan hệ có nhiều khả năng hỗ trợ các mục tiêu chung của nhau, trêu đùa theo
cách tinh nghịch thay vì thù địch, và lý tưởng hóa lẫn nhau. Các nghiên cứu
này đã thiết lập mối quan hệ giữa sự hài lòng trong mối quan hệ – một đặc tính
toàn cục và ổn định hơn của các mối quan hệ – với các hành vi và nhận thức liên
quan đến sự cam kết.
Cách tiếp cận của chúng tôi định vị rằng trải nghiệm và
việc biểu lộ nhất thời của tình yêu sẽ thúc đẩy và gìn giữ sự cam kết bền vững,
cả trong những giai đoạn êm đẹp lẫn khi mối quan hệ gặp thử thách — chẳng hạn
như bởi các tình địch, những cơ hội ngoại tình, xung đột, hay những căng thẳng
thường nhật của các mối liên kết thân thiết. Do đó, trong cuộc điều tra này,
chúng tôi đã đặt ra câu hỏi liệu tình yêu được đánh giá trong một bối cảnh có
liên quan đến các hành vi củng cố sự cam kết trong các bối cảnh khác mà mối
quan hệ bị đe dọa hay không. Chúng tôi dự đoán rằng trải nghiệm và việc biểu lộ
tình yêu sẽ liên quan đến việc giải quyết các xung đột theo những cách mang
tính xây dựng thay vì tranh chấp thù hằn, đến việc trêu đùa mang tính tinh nghịch
thay vì thù địch, và liên quan đến các thước đo tự báo cáo mang tính toàn cục về
sự cam kết (ví dụ: sự tin tưởng, các hoạt động chia sẻ cùng nhau, sự hỗ trợ lẫn
nhau).
5- Nghiên Cứu Hiện Tại
Chúng tôi trình bày ba nghiên cứu nhằm kiểm tra các giả
thuyết của mình liên quan đến trải nghiệm, biểu hiện và các yếu tố liên đới của
tình yêu nhất thời (momentary love).
Trong nghiên cứu đầu tiên,
chúng tôi đã quan sát các cặp đôi đang yêu khi họ tham gia vào những tương tác
tạo ra tình yêu và thử thách mối gắn kết của họ. Từ những tương tác này, chúng
tôi đã thu thập các thước đo về trải nghiệm cảm xúc cũng như hành vi, đồng thời
đặt câu hỏi liệu trải nghiệm tình yêu có tương quan với các trạng thái liên
quan đến sự tiếp cận (approach-related states) hay không, liệu nó có được đánh
dấu bằng một biểu hiện phi ngôn ngữ đặc trưng hay không, và liệu trải nghiệm đó
cùng với biểu hiện phi ngôn ngữ của tình yêu có dự đoán được hành vi thúc đẩy sự
cam kết khi mối gắn kết bị thử thách hay không.
Trong nghiên cứu thứ hai,
chúng tôi đã trình chiếu các đoạn video clip về các tín hiệu thân thuộc
(affiliation cues) và tín hiệu tình dục (sexual cues) cho những người quan sát
khách quan để xem xét liệu các biểu hiện phi ngôn ngữ của tình yêu và ham muốn
có khác biệt nhau hay không.
Trong nghiên cứu thứ ba,
chúng tôi đã quan sát các cặp bạn thân khác giới khi họ tương tác với nhau, và
một lần nữa xem xét liệu tình yêu có tương quan với sự tiếp cận, có biểu hiện đặc
trưng và có tương quan với các kết quả liên quan đến sự cam kết hay không.
6- Nghiên
Cứu 1: Tình Yêu Và Sự Cam Kết Trong Các Mối Quan Hệ Lứa Đôi
Trong Nghiên cứu 1, các cặp đôi đang yêu đã tham gia vào
các tương tác giúp tạo ra tình yêu (bộc lộ
bản thân một cách tích cực) và các tương tác thử thách sự cam kết của họ (tham gia vào xung đột, trêu chọc nhau).
Phân tích về tình yêu dựa trên nền tảng sự cam kết đã dẫn chúng tôi đến các dự
đoán sau đây.
Thứ nhất, với
tư cách là một tín hiệu nội tại của sự tiếp cận, chúng tôi dự đoán rằng trải
nghiệm tình yêu trong quá trình bộc lộ tích cực sẽ tương quan với các trạng
thái liên quan đến sự tiếp cận, bao gồm ham muốn và sự đồng cảm.
Thứ hai,
chúng tôi kỳ vọng bốn tín hiệu thân thuộc (affiliation cues) sẽ tương quan đáng
kể với báo cáo tự thân về tình yêu của cá nhân đó và sự nhìn nhận về tình yêu từ
phía đối phương.
Cuối cùng, chúng tôi kỳ vọng
trải nghiệm và biểu hiện của tình yêu trong quá trình bộc lộ tích cực sẽ tương
quan với: (a) các báo cáo tự thân tổng thể
về tầm ảnh hưởng lẫn nhau, các hoạt động chia sẻ chung và mức độ hài lòng; (b)
việc giải quyết xung đột mang tính xây dựng, những lời chỉ trích được đưa ra một
cách nhẹ nhàng và sự tin tưởng trong suốt quá trình xung đột; và (c) cách trêu
chọc thân mật, vui vẻ hơn.
Tóm tắt ngắn gọn để đưa vào bài nghiên cứu:
Nghiên cứu cho thấy trải nghiệm và biểu hiện tình yêu có
mối tương quan thuận với các yếu tố phản ánh sự cam kết trong mối quan hệ, bao
gồm việc tham gia các hoạt động chung, sự ảnh hưởng lẫn nhau trong mục tiêu cuộc
sống và mức độ hài lòng với mối quan hệ. Đặc biệt, mức độ tình yêu do cá nhân tự
báo cáo có mối liên hệ tích cực và có ý nghĩa thống kê với cả ba yếu tố trên.
Mối quan hệ giữa tình yêu, hành vi giải quyết
xung đột và sự trêu đùa thân mật
Nghiên cứu cho thấy việc thể hiện
tình yêu có mối liên hệ tích cực với sự tin tưởng và cách giao tiếp mang tính
vui đùa, thân mật giữa các cặp đôi. Những người thể hiện nhiều
tình yêu hơn có xu hướng sử dụng lời nói và cử chỉ vui đùa khi đưa ra lời phê
bình, đồng thời cảm thấy tin tưởng đối phương hơn.
1.
Tình yêu có mối liên hệ tích cực với hành vi trêu đùa và sự tin tưởng
2.
Tình yêu có xu hướng liên quan đến cách giải quyết xung đột mang tính xây dựng
3.
Tình yêu không có mối tương quan đáng kể với các hành vi tiêu cực
Ngoài ra, tình yêu có xu hướng liên quan đến những hành
vi giải quyết xung đột mang tính xây dựng, nhưng bằng chứng thống kê cho mối
liên hệ này còn hạn chế. Nghiên cứu cũng không tìm thấy mối liên hệ có ý nghĩa
thống kê giữa các biểu hiện tình yêu và hành vi thù địch hoặc phá hoại trong mối
quan hệ.
Tóm lại: Tình yêu có liên hệ
rõ ràng hơn với việc gia tăng các hành vi tương tác tích cực so với việc làm giảm
các hành vi tiêu cực trong mối quan hệ.
Nghiên cứu cho thấy trải nghiệm tình yêu có mối tương
quan tích cực với các hành vi duy trì và củng cố sự cam kết trong mối quan hệ.
Cụ thể, những người báo cáo mức độ tình yêu cao hơn có xu hướng:
- Thể
hiện nhiều hành vi giải quyết xung đột mang tính xây dựng hơn.
- Cảm
thấy tin tưởng đối phương hơn và nhận thấy đối phương cũng có sự tin tưởng
cao hơn.
- Có
xu hướng ít thù địch hơn trong lời nói.
- Thường
xuyên trêu đùa nhau theo cách thân mật, vui vẻ và ít mang tính thù địch hơn.
Tuy nhiên, tình yêu không có mối tương quan có ý nghĩa thống
kê với các hành vi xung đột mang tính phá hoại hoặc mức độ thù địch mà cá nhân
nhận thấy ở bản thân và đối phương.
Kết luận: Tình yêu có mối liên
hệ tích cực với sự tin tưởng, hành vi giải quyết xung đột mang tính xây dựng và
sự trêu đùa thân mật. Tuy nhiên, chưa có đủ bằng chứng cho thấy tình yêu có
liên hệ với việc giảm tất cả các hành vi tiêu cực trong mối quan hệ.
Ảnh hưởng của tính cách đến mối quan hệ giữa
tình yêu và sự cam kết
Nghiên cứu đặt ra câu hỏi liệu mối quan hệ giữa trải
nghiệm tình yêu nhất thời và mức độ cam kết trong mối quan hệ có thể được giải
thích bởi đặc điểm tính cách hay không.
Các nghiên cứu trước cho thấy tính hướng ngoại (extraversion)
và tính dễ chịu, hòa đồng (agreeableness) có liên quan đến cảm xúc tích
cực và chất lượng các mối quan hệ thân mật.
Để kiểm tra, các nhà nghiên cứu sử dụng phân tích hồi
quy bội theo từng bước, trong đó:
- Bước
1: Đưa đặc điểm tính cách (hướng ngoại hoặc dễ chịu)
vào mô hình.
- Bước
2: Bổ sung các tín hiệu gắn kết phi ngôn ngữ hoặc mức
độ tình yêu do cá nhân tự báo cáo.
Mục tiêu: Xác định liệu tình
yêu có thể giải thích thêm sự khác biệt về mức độ cam kết trong mối quan hệ sau
khi đã kiểm soát ảnh hưởng của tính cách hay không.
Kết luận: Các nhà nghiên cứu giả thuyết rằng tình yêu có khả năng dự đoán mức độ cam kết vượt ra ngoài ảnh hưởng của tính cách, thể hiện qua sự gia tăng có ý nghĩa thống kê của hệ số ΔR² ở bước thứ hai.
https://greatergood.berkeley.edu/dacherkeltner/docs/gonzaga.love.jpsp.2001.pdf





Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét