Thứ Bảy, 29 tháng 8, 2026

BÀI VIẾT TỪ BUDDHA WEEKLY



BÀI VIẾT TỪ BUDDHA WEEKLY


01- Đa Vũ Trụ Phật Giáo Vô Hạn — Bản Thể Vô Hạn Của Bạn: Kinh Hoa Nghiêm và Phật giáo tối thượng: cái đang là, tính như thật, tính toàn thể

02- Đức Phật Đã Giảng Dạy Về Vũ Trụ Học Thời Gian, Đa Vũ Trụ Và Thời Gian Phi Tuyến Tính

03- Bản Chất Của Thời Gian - Thiền Chánh niệm về Khả năng Phán đoán Khoảng thời gian và Mối quan hệ của nó đối với Trải nghiệm Chủ quan về Thời gian

04- Duyên Khởi Trả Lời Hầu Hết Mọi Tranh Luận Bằng Logic Hoàn Hảo

05- Người Phật Tử Chưa Từng Sợ Hãi Thời Gian – Tuổi già có thể trở thành sức mạnh trong xã hội hiện đại như thế nào.

06- Bổn Phận Hiếu Thảo: Góc Nhìn Phật Giáo Về Việc Chăm Sóc Đấng Sinh Thành Cao Tuổi — Nghiệp Lành

07- Tại Sao Bồ Tát Địa Tạng — VỊ Bồ Tát 'Được Kính Yêu Nhất

08- Thực Hành Tôn Kính Và Sùng Bái Theo Kinh Địa Tạng

09- Bốn Tiền Thân Hùng Lực Của Bồ Tát Địa Tạng

10- Bardo Thodol: Tử thư Tây Tạng – Giáo pháp Giải thoát thông qua sự Nghe, đến từ Tâm Giác ngộ của Đạo sư Liên Hoa Sinh

11- Pht Là Gì?: Các Công Án Và Câu Chuyện Của Thiền Tông

12- Bạn Có Tin Tái Sanh

13- Lễ Vu Lan - Câu Chuyện Mục Kiền Liên Và Bà Mẹ 

14- Giáo Pháp Trong Chuyển Động”: Pht Giáo, Mật Tông Kim Cang Thừa Và Thiền Có Nhiều Điểm Chung Với Võ Thuật Hơn Là Với Tôn Giáo?

15- Tánh Không và Sunyata

16- Việc thực hành thiền định Phật giáo trong giấc mơ có dễ dàng hơn không?

17- Bản đồ Vũ trụ Tâm thức — Mandala Ngũ Phật: một pháp tu tập hoàn hảo; một phương thuốc hoàn hảo cho năm độc tố

18- Sử dụng những âm thanh thiêng liêng cho giấc ngũ yoga! Mandala 5 Đức Phật giúp bạn ngũ như một baby

19- Vật Lý Lượng Tử Có Mối Liên Hệ Gì Với Ngũ Trí Như Lai

20- Đức Pht Ở Đâu? Tịnh Độ Ở Đâu? Nơi Nào Thiêng Liêng Nhất? Tâm Ta Nơi Ta Thấy Pht, Pháp, Tăng.

21-  Cây cầu nối giữa khoa học và Phật giáo, giữa nguyên tử và vô nguyên tử, giữa hữu thần và vô thần; thiền định bổn tôn Yidam và khoa học nhận thức của Tantra.

22- Tại Sao Pht Tánh Là Quan Trọng Nhất Trong Pht Giáo Đại Thừa

23- Đức Pht Có Phải Là Nhà Khoa Học Về Ý Thức Đầu Tiên?  Khoa Học Chỉ Mới Bắt Đầu Khám Phá Những Gì Phật Đã Dạy Cách Đây 2500 Năm?

24- Điều Đức Phật thật sự dạy về ‘luân hồi’ và cuộc sống sau cái chết.

25- Giấc Mơ Về Tái Sinh: Liệu Luân Hồi Có Thật Không?

26- Tái Sinh Vs. Luân Hồi: Nghiệp Vận Hành Thế Nào?

27- Luân Hồi Và Nghiệp Rất Quan Trọng Trong Pht Giáo

28- Thiền Định Và Não Bộ Trẻ Em. Khoa Học Nói Gì


Thứ Tư, 26 tháng 8, 2026

VIDEO TUYỆT ĐẸP VỀ ĐỨC TARA TRẮNG

 

 Mật ngôn chữa lành và trường thọ của Đức Bồ Tát Tăng Trưởng Cứu Độ (Bồ Tát Tara Trắng) được trì tụng 108 lần cực hay cùng những hình ảnh quán tưởng sống động

Beautiful Video: White Tara’s healing and long-life mantra beautifully chanted 108x with stunning visualized images
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển

***

White Tara's healing and long-life mantra beautifully chanted 108x with stunning visualized images
👉 Xem Video:  "Mật ngôn chữa lành và trường thọ của Đức Tara Trắng được trì tụng 108 lần cực hay cùng những hình ảnh quán tưởng tuyệt đẹp"

Các bậc thầy Phật giáo khắp nơi đều có chung niềm kính ngưỡng và lòng nhiệt thành đối với pháp tu trì Đức Bồ Tát Tăng Trưởng Cứu Độ (Bồ tát Tara / Bạch Độ Mẫu). Hầu như bậc thầy nào cũng sở hữu những câu chuyện có thật trong đời sống về những người thân cận từng được Đức Tara Trắng cứu độ, đặc biệt là về phương diện sức khỏe, thọ mạng và sự cát tường.

Hãy cùng trì tụng theo chất giọng và giai điệu tuyệt đẹp của Hrishikesh Sonar đúng 108 lần — một pháp thực hành chữa lành nhiệm mầu kết hợp cùng những hình ảnh Đức Tara Trắng vô cùng trang nghiêm, sống động:

Theo lời của Đại đức Lạt-ma Phuntsock:"

"Trong số 21 Đức Bổn Tôn Tara, Đức Thánh Độ Mẫu Bổn Tôn Trắng (White Arya Tara) cứu giúp hành giả thoát khỏi cái chết bất đắc kỳ tử (nạn tử vong sớm). Việc thực hành giáo pháp Đức Tara Trắng hoàn toàn có thể giúp kéo dài thọ mạng của một người, và điều này sẽ mang lại lợi lạc rất lớn cho công phu tu học Chánh pháp của vị ấy.”

Pháp thực hành này có thể đơn giản bằng việc trì tụng thần chú của Ngài, kết hợp với việc quán tưởng nguồn năng lượng chữa lành đang tuôn chảy vào khắp cơ thể bạn. Hãy cùng hòa giọng trì tụng bài thần chú tiếng Phạn tuyệt đẹp của Đức Thánh Độ Mẫu Bản Tôn Trắng cao quý cùng Hrishikesh Sonar.

Mantra:

Om Tare Tuttare Ture Mama Ayuh Punya Jnana Pushtim Kuru Svaha

 

 

https://buddhaweekly.com/beautiful-video-white-taras-healing-and-long-life-mantra-beautifully-chanted-108x-with-stunning-visualized-images/

 

Thứ Hai, 24 tháng 8, 2026

SỰ BAN PHƯỚC LÀNH CỦA TÁM BẬC TRÌ MINH

Descent of Blessings of the Eight Vidyādharas[1]

Tác giả: Jigme Lingpa
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển



***

Trong mạn-đà-la của pháp tu đạo sư Rigdzin Düpa, tám vị Trì Minh Vương vây quanh vị tôn chủ Guru Padmasambhava (Liên Hoa Sanh) theo các hướng như sau

Vị Trì Minh Vương (Vidyādhara)

Thần thể liên kết (Kagyé Deity)

Trực giác / Năng lực

Đông

Hūṃkāra
(Hùng Ca Ra)

Yangdak Heruka

Tinh túy của Tâm

Nam

Mañjuśrīmitra
(Văn Thù Hữu)

Yamāntaka

Tinh túy của Thân

Tây

Nāgārjuna
(Long Thọ)

Hayagrīva (Mã Đầu Minh Vương)

Tinh túy của Khẩu

Bắc

Prabhahasti
(Quang Minh Tượng)

Vajrakīlaya

Tinh túy của Hoạt động

Đông Nam

Dhanasaṃskṛta
(Đại Thành Thục)

Mamo Bötong

Giải thoát nghiệp lực

Tây Nam

Vimalamitra
(Vô Cấu Hữu)

Düdtsi Yönten

Tinh túy của Công đức

Tây Bắc

Rombhuguhya
(Thiên Nguyệt)

Jikten Chötö

Nghi quỹ thế gian

Đông Bắc

Śāntigarbha
(Tịch Tạng)

Möpa Drakngak

Chú thuật uy lực


Tất cả các Mandala Bản trí nguyên sơ đều hiển lộ trên không trung, biến mãn khắp bầu trời.

ཨཱོྃ་ཧཱུྃ་ཨ་ལ་ལ་ཧོཿ བྷ་ག་ཝཱན་ས་མ་ཡ་ཧོཿ ས་མ་ཡ་སྟྭཾ།

om hung a la la ho | bhagavan samaya ho | samaya tom

oṃ hūṃ a la la hoḥ | bhagavān samaya hoḥ | samaya sthaṃ

Hãy cùng ngân nga những lời sau đây theo nhịp điệu của nhạc:

Hūṃ! Thuở sơ khai của kiếp này — thuở bình minh của hiện hữu —
Khi đấng Heruka[2] của kiến tánh Vô ngã
Giải thoát quỷ vương Rudra[3] của nhị nguyên,
Tám thức thanh tịnh liền hiển lộ thành những Thi Lâm linh thiêng[4].

Bốn phần thân xác quỷ vương Rudra hóa thành bốn cửa Mandala,
Nơi chư Như Lai oai đức an trụ.
Nguyện xin gia trì cho năm uẩn, mười hai xứ và mười tám giới đều trở thành tinh túy của Ba tòa vẹn toàn![5]
Địa danh nơi này chính là Nam Thiêm Bộ Châu.

 Ở phương Đông[6] là Thi Hàn Lâm[7] (Cool Grove),
 nơi trái tim của quỷ vương Rudra rơi xuống.
Vị thần bảo hộ nơi này mang tôn nhan mặt voi, thân sắc màu trắng, tay cầm đao hộ pháp và chén sọ người.

Thần định hướng là Đế Thích Thiên (Indra), tay cầm chày kim cang.
Long vương là Ananta, mang các thủ đầu rắn.
Dòng sông và mây ngàn sắc trắng, cây linh thiêng bãi tha ma sắc vàng.
Vị Đại Hộ Mẫu là Gaurī.
Từ bảo tháp Cát Tường Đống[8]
Cúi xin Ngài Hūṃkāra
(Hùng Ca Ra), vị Trì Minh Vương đã thành tựu pháp môn Yangdak Heruka, Tinh túy của Tâm,
Ban rải dòng gia trì cam lộ xuống nơi này!

 Hūṃ! Phương nam là thi lâm Rừng Chim Cúc Cu (Cuckoo Grove),
Nơi tìm thấy cánh tay phải của thần Rudra.
Thần hộ pháp nơi này có mặt trâu và tay cầm thòng lọng rắn.
Vị bách thần hộ phương là Yama (Dạ Ma Ma Vương), tay cầm bảo chuỳ.
Long vương cai quản là Takṣaka (Thất-sát-ca).
Mây trời một màu xám xịt.
Dòng sông cuộn sóng dữ dội.
Cây thi lâm mang sắc xanh thẫm.
Bậc đại hộ nữ là Caurī (Nữ Thần Kiêu Man).
Từ bảo tháp Viên Ngọc Rực Cháy (Blazing Jewel)—
Mañjuśrīmitra (Văn Thù Hữu), bậc Trì Minh Vương đã thành tựu pháp Văn Thù Đại Oai Đức Kim Cang (Yamāntaka), Tinh túy của Thân.
Xin hãy ban rải dòng gia trì của Ngài xuống nơi đây!

Hūṃ! Ở phương tây là thi lâm Gò Sen (Lotus Mound)
Nơi linga (dương vật) của thần Rudra ngự trị.
Thần bảo hộ địa phương Laliha mang gương mặt của quái thú biển (makara).
Vị thần trấn giữ phương hướng là thủy thần Varuṇa, và vua loài rồng (nāga) là Saṅkhapāla.
Những đám mây cuồn cuộn ầm vang tiếng sấm, sông và cây nơi bãi tha ma nhuộm sắc đỏ.

Nữ thần hộ pháp vĩ đại là Pramohā.
Từ bảo tháp Ánh Sáng Rực Rỡ Uy Nghi—
Nāgārjuna-garbha
(Long Thọ Tạng), bậc trì minh vương đã thành tựu pháp tu Hayagrīva (Mã Đầu Minh Vương), Tinh túy của Khẩu
Xin hãy ban rải dòng lực gia trì xuống chúng con!

Hūṃ! Ở phương bắc là thi lâm Gò Laṅka (Laṅka Mound)
Nơi cẳng chân trái của thần Rudra ngự trị.
Thần bảo hộ địa phương mang gương mặt ngựa, có thân màu xám và đi cùng với phối ngẫu của mình.
Vị thần trấn giữ phương hướng là một dạ-xoa (yakṣa), và vua loài rồng (nāga) là Karkoṭaka.
Dòng sông cuộn trào hung dữ; những đám mây xanh thẳm ầm vang tiếng sấm.
Cây cổ thụ tại thi lâm tuyệt đẹp được gọi là Asutana.
Nữ thần hộ pháp vĩ đại là Vetālī.
Từ bảo tháp Đại Lạc Tự Sanh (Naturally Arisen Great Bliss)—
Prabhāhasti
(Quang Minh Tượng), bậc trì minh vương đã thành tựu pháp tu Vajrakīlaya (Phổ Ba Kim Cang), Tinh túy của Hoạt động,
Xin hãy ban rải dòng lực gia trì xuống chúng con!

 Hūṃ! Ở phương Đông Nam là thi lâm Gò Tự Khởi Thành Tựu (Spontaneously Accomplished Mound)
Nơi khúc ruột của thần Rudra ngự trị.
Thần bảo hộ địa phương mang gương mặt dê.
Vị thần trấn giữ phương hướng là hỏa thần Agni, mang thân mình sắc vàng.
Đại long vương tay cầm một đóa hoa sen và ngọc báu.
Dòng sông cuộn trào hung dữ, những đám mây rực sắc cam.
Cây cổ thụ tại
thi lâm hiện lên với dáng vẻ phẫn nộ và cong vẹo.
Nữ thần hộ pháp vĩ đại là Pukkasī.
Từ bảo tháp Ke’u Tishen—
Dhanasaṃskṛta
(Đại Thành Thục), bậc trì minh vương đã thành tựu pháp tu các mẫu thần (mātṛkās - Mamo Bötong), Giải thoát nghiệp lực,
Xin hãy ban rải dòng lực gia trì xuống chúng con!

 Hūṃ! Ở phương tây nam là thi lâm Mahāguhya (Đại Bí Mật)
Nơi phần đầu của thần Rudra ngự trị.
Thần bảo hộ địa phương có thân mình màu xanh lam và cưỡi trên một con người.
Vị thần trấn giữ phương hướng là Dạ-xoa vương Rāvaṇa, và vua loài rồng (nāga) là Mahāpadma (Đại Liên Hoa).
Những đám mây thuộc quyến thuộc ‘gana’ mang sắc vàng, và dòng sông nhuộm đỏ.
Cây cổ thụ tại
thi lâm được gọi là Śāntim Upala.
Nữ thần hộ pháp vĩ đại là Ghasmarī.
Từ bảo tháp Kanika—
Vimalamitra
(Vô Cấu Hữu), bậc trì minh vương đã thành tựu pháp tu Amṛtakuṇḍalin (Cam Lộ Quân Đồ Lợi - Düdtsi Yönten), Tinh túy của Công đức,
Xin hãy ban rải dòng lực gia trì xuống chúng con!

 Hūṃ! Ở phương tây bắc là thi lâm Great Hé (Đại Ha-ha)
Nơi cánh tay trái của thần Rudra ngự trị.
Thần bảo hộ địa phương mang gương mặt hươu và bị tật nguyền.
Vị thần trấn giữ phương hướng là phong thần Vāyu, và vua loài rồng (nāga) là Vāsuki.
Mưa trút xuống từ những đám mây dày đặc, và dòng sông mang một sắc đen.
Loài cây cổ thụ tại đây được gọi là Black Jala (Cây Jala Đen).
Nữ thần hộ pháp vĩ đại là Śmaśānī.
Từ bảo tháp Kuma Tự Sinh (Naturally Arisen Kuma)—
Guhyacandra
(Thiên Nguyệt), bậc trì minh vương đã thành tựu pháp tu Cúng Dường và Tán Thán (Jikten Chötö),
Xin hãy ban rải dòng lực gia trì xuống chúng con!

 Hūṃ! Ở phương đông bắc là thi lâm Lokana (Luân Hồi Thi Lâm)
Nơi cẳng chân phải của thần Rudra ngự trị.
Thần bảo hộ địa phương mang gương mặt chó rừng, có thân mình màu trắng, tay cầm một con dao và một chiếc cúp đầu lâu.
Vị thần trấn giữ phương hướng là Īśāna (Đại Tự Tại Thiên), và vua loài rồng (nāga) là Jātya.
Dòng sông mang một sắc đen, và những đám mây ầm vang tiếng sấm.
Cây cổ thụ tại
thi lâm được gọi là Halakāla.
Nữ thần hộ pháp vĩ đại là Caṇḍālī.
Từ bảo tháp Gomasāla—
Śāntigarbha
(Tịch Tạng), bậc trì minh vương đã thành tựu pháp tu Chú Thuật Hung Bạo (Möpa Drakngak),
Xin hãy ban rải dòng lực gia trì xuống chúng con!

ཨཱོྃ་ཨཱཿཧཱུྃ་བཛྲ་གུ་རུ་པདྨ་ཐོད་ཕྲེང་རྩལ། བཛྲ་ས་མ་ཡ་སིདྡྷི་ཕ་ལ་ཧཱུྃ་ཨཱཿ

om ah hung benza guru pema tötreng tsal | benza samaya siddhi pala hung ah

oṃ āḥ hūṃ vajra-guru padma tötreng tsal | vajra samaya siddhi phala hūṃ āḥ

Khi kết thúc phần thỉnh mời dòng lực gia trì trút xuống, hãy trì tụng thần chú của Đức Trì Minh Vương Anh Hùng Quấn Tràng Đầu Lâu (Mighty Skull-Garland)[9] một cách du dương.
Cuối cùng, hãy thu nhiếp các dòng lực gia trì với câu:

ཧཱུྃ་ཧཱུྃ་ཧཱུྃ་གིས་བྱིན་བསྡུས་པས།

hung hung hung

hūṃ hūṃ hūṃ

Tất thảy các vị bản tôn biến mãn khắp hư không đều hòa tan vào chính con, vào trú xứ này và vào các phẩm vật cúng dường,
Và ban phúc gia trì cho vạn vật trở thành luân xa trang nghiêm bất tận của thân, khẩu và ý.

 ***

| Translated by Han Kop, reviewed by Stefan Mang and edited by Corinne and Dan Ewen, for the Longchen Nyingtik Project, 2020.

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/jigme-lingpa/descent-blessings-eight-vidyadharas

PHỤ THÍCH

[1] Đoạn văn này được trích từ tác phẩm ‘Chiếc Tráp Báu: Khung Sườn Cho Sự Thành Tựu, từ Biển Hội Đấng Uy Nghi’ (dpal chen bka' 'dus rgya mtsho las/ sgrub pa'i khog 'bubs rin po che'i za ma tog)
[2] Mặc dù có vẻ bề ngoài cực kỳ hung dữ, đáng sợ, nhưng Heruka không phải là quỷ dữ hay thế lực tà ác. Ngược lại, Ngài chính là hiện thân oai mãnh của lòng bi mẫn tột cùng và trí tuệ tối cao, xuất hiện để tiêu diệt bản ngã và các năng lượng tiêu cực.
[3] biểu tượng tối cao của Bản ngã (Cái tôi), tâm chấp ngã và vô minh nhị nguyên. Đại ma vương kiêu ngạo: Theo các mật điển trường phái Ninh Mã (Nyingma), Rudra ban đầu là một hành giả tu tập Mật tông nhưng do hiểu sai giáo pháp, bị tâm kiêu ngạo và sân hận dẫn dắt. Anh ta cho rằng mình đã ngang hàng với Phật, từ đó đọa lạc thành một chúa tể quỷ vô cùng hung hãn, tàn ác, muốn thống trị cả vũ trụ.[4] Bãi tha ma không phải là nơi của sự sợ hãi, mà là cung điện của sự chứng ngộ.
[5] Chư vị Bản tôn của Ba tòa, thường được gọi là Mandala Ba tòa (gdan gsum dkyil ‘khor), bao gồm: 1) chư vị Như Lai (Tathāgata) an trụ nơi các uẩn (skandha) và giới (dhātu), 2) chư vị Nam Bồ Tát và Nữ Bồ Tát an trụ nơi các xứ (āyatana), và 3) chư vị Nam Bản tôn phẫn nộ và Nữ Bản tôn phẫn nộ an trụ nơi các chi thể (aṅga)."
[6] "Tại đây, mỗi phương trong số tám phương đều liên kết với một bãi tha ma cụ thể. Có rất nhiều danh sách các bãi tha ma như vậy xuất hiện trong cả Cựu phái (Ninh Mã) và Tân phái (Sarma), thường có những khác biệt nhỏ về tên gọi và hình tướng. Thông thường, mỗi bãi tha ma sẽ có một cây linh thiêng, Dạ-xoa (yakṣa), Thần định hướng, Long vương (nāga king), đám mây, ngọn núi và bảo tháp (stūpa) liên kết riêng biệt. Trong bản văn này, chúng ta cũng tìm thấy Tám vị Đại Nương (Great Ladies) như nàng Gaurī và Tám vị Đại Trì Minh Vương (vidyādhara) như ngài Hūṃkāra được liên kết với một bãi tha ma. Xem thêm tác phẩm của Jamgön Kongtrul Lodrö Tayé, Kho tàng Tri thức: Sách Tám, Phần Ba: Các Yếu tố của Thực hành Mật tông (Ithaca, N.Y: Snow Lion, 2008), trang 288, chú thích 40."
[7] Cool Grove: Tiếng Phạn là Śītavana (Hán-Việt thường dịch là Thi Hàn Lâm hoặc An Lạc Lâm), đây là bãi tha ma nổi tiếng nhất ở phương Đông, nằm gần Bodhgaya (Bồ Đề Đạo Tràng). Đây cũng chính là nơi ngài Garab Dorje và ngài Mañjuśrīmitra truyền trao giáo pháp Dzogchen đầu tiên.
[8] Bảo tháp Śaṅkarakūṭa tọa lạc tại trung tâm của bãi tha ma Śītavana (An Lạc Lâm / Thi Hàn Lâm) ở phương Đông. Trong thế giới vật lý, bãi tha ma này nằm gần Bodhgaya (Bồ Đề Đạo Tràng, Ấn Độ) – nơi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo.
[9] Tib. Tötreng Tsal.

 ***

Nghi thức "Descent of Blessings of the Eight Vidyādharas" (tiếng Tây Tạng: Rigdzin Chinbap / རིག་འཛིན་བྱིན་འབེབས་ - Nghi thức Thỉnh cầu Dòng lực Gia trì của Bát Đại Trì Minh Vương) được hành giả Mật tông Tây Tạng thọ trì nhằm ba mục đích hành trì cốt lõi sau:

1. Triệu thỉnh và Hóa nhập Năng lượng Giác ngộ (Chinbap)

  • Mục đích: Bản chất của từ "Descent" (Chinbap) là biến không gian phàm trần thành một chiều không gian tâm linh linh thiêng.
  • Hành trì: Hành giả dùng đức tin, tâm bồ đề và các giai điệu ca vịnh (melodious chant) để thỉnh cầu toàn bộ năng lượng tuệ giác, lòng từ bi, và thần lực phẫn nộ của Chư Phật, Bồ Tát, và đặc biệt là Bát Đại Đại Sư Ấn Độ cổ đại trút xuống.
  • Kết quả: Dòng năng lượng này sẽ hòa tan trực tiếp vào Thân - Khẩu - Ý của hành giả, chuyển hóa cấu trúc phàm tình (tham, sân, si, chấp ngã) thành năng lượng thanh tịnh của Bản tôn.

2. Tịnh hóa Trú xứ và Thánh hóa Vật phẩm Cúng dường (Tsok)

  • Mục đích: Nghi thức này thường là một phần chuyển giao quan trọng ngay trước khi bước vào các đàn lễ cúng dường đại tiệc Gaṇacakra (Tsok).
  • Hành trì: Thông qua việc quán tưởng Mandala Bát Đại Thi Lâm bao quanh, toàn bộ môi trường xung quanh (the place) được tịnh hóa hoàn toàn khỏi các năng lượng tiêu cực, cấu uế và biến thành cõi Tịnh độ.
  • Kết quả: Các phẩm vật cúng dường thông thường (the materials) được cam lộ hóa, biến thành "luân xa trang nghiêm bất tận" để dâng cúng lên chư Bản tôn, Hộ pháp.

3. Đánh thức Bản tính Trí tuệ tối hậu (Dzogchen)

  • Mục đích: Đây là đỉnh cao của pháp hành thuộc hệ thống Palchen Düpa (Đại Sư Tập Hội Phẫn Nộ) trong Longchen Nyingtik.
  • Hành trì: Ở phần cuối của nghi thức, khi đọc câu: "All the deities who fill the sky dissolve into myself...", hành giả thực hiện pháp quán hòa tan.
  • Kết quả: Xóa bỏ hoàn toàn ranh giới nhị nguyên giữa "Người tu" và "Bản tôn". Hành giả nhận ra bản tính chân thật của chính mình vốn là tánh Không, là Trí tuệ thuần khiết (Rigpa), đạt tới trạng thái Đại Lạc Tự Sinh.