trích
từ Không Hành Tâm Tủy (Khandro Nyingtik)
from
the Khandro Nyingtik
Khai mật tạng Pema Ledrel Tsal
việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***
Đỉnh
lễ Ngũ Bộ Phật Thường Tịch Tịnh (Phổ Hiền Ngũ Bộ)!
Pháp thực hành nội tâm của ngũ bộ Phật được
giáo hóa như sau. Kinh Minh Quang Quảng Đại (Luminous Expanse) có thuyết rằng:
"Tánh giác trống rỗng mà sáng tỏ, chính
là năm loại trí tuệ nguyên sơ,
Chính tâm thức nguyên sơ (Rigpa)[i] của tự thân, là sự hợp nhất giữa phương tiện
và tri kiến."
"Như điều này chỉ ra, tâm thức nguyên sơ (Rigpa) không biến đổi của chính mình chính là
Đức Phật Tỳ Lô Giá Na (Vairocana)[ii].
Năng lực sáng tạo không ngừng nghỉ của Tự tánh tỉnh Giác Phổ Hiền (Ever Excellent awareness) hiển
lộ thành các vị Phật nam và Phật nữ của bốn bộ tộc, cùng với bốn vị Hộ pháp
canh cổng. Điều này có nghĩa là không có thành tựu nào đến từ bên ngoài; chỉ
cần hành giả nhận ra rằng sự quán tưởng này vốn luôn ở ngay trong chính
mình."
"Do
đó, hãy khởi sinh sự quán tưởng sau đây như một cảnh giới hoàn hảo ngay từ
khoảnh khắc nó được nghĩ đến trong tâm. Chính bạn là Đức Phật Phổ Hiền
(Samantabhadra), thân màu xanh dương đậm, có một mặt và hai tay, hợp nhất không
thể tách rời với Phật Mẫu Phổ Hiền (Samantabhadrī). Làm biểu tướng cầm giữ, bạn
cầm một chày kim cương (vajra) và một chuông linh (bell). Hai chân bạn xếp chéo
(kiết già), và được trang nghiêm bởi các món trang sức báu. Bạn hiển lộ trong
thân tướng Báo thân (Sambhogakāya) với đầy đủ các tướng tốt và vẻ đẹp phụ.
Hãy quán
tưởng Đức Kim Cang Tát Đỏa (Vajrasattva) ở trán của bạn, Đức Bảo Sanh Như Lai
(Ratnasambhava) ở cổ họng, Đức A Di Đà (Amitābha) ở luân xa tim, và Đức Bất
Không Thành Tựu Như Lai (Amoghasiddhi) ở luân xa rốn. Đồng thời, hãy quán tưởng
bốn vị Hộ pháp[iii]
canh cổng ở bốn chi (tay và chân) của bạn. Tất cả các vị Bổn tôn đều hợp nhất
với Phật Mẫu (minh triết) của họ và mang màu sắc tương ứng với bộ tộc (Phật bộ)
mà họ thuộc về.[iv]
Hãy quán
tưởng Tam-muội-da-tát-đỏa (Samayasattva - Bản tôn quán tưởng) và
Tuệ-trí-tát-đỏa (Jñānasattva - Bản tôn trí tuệ thật sự)[v]
hợp nhất làm một ngay tức khắc không thể phân chia, và trì tụng các mật chú
tinh tủy cốt tủy sau đây:"
oṃ āḥ
hūṃ
oṃ hūṃ trāṃ hrīḥ āḥ
siddhi phala hūṃ jaḥ
"Hãy
biết rằng các sắc tướng đều là huyễn hóa, hiện hữu mà không chân thật, và trì
tụng mật chú như là âm thanh của tánh không (thanh không song vận). Đối với
giai đoạn hoàn thiện (thành thục vị), hãy an trú trong trải nghiệm của sự bất
khả phân (vô nhị).
Về những
lợi ích của việc thực hành theo cách này, nó sẽ mang lại mọi công đức phẩm tính
có thể có ngay trong đời sống hiện tại. Bạn sẽ thành tựu việc lợi lạc chúng
sinh bằng bốn loại hành vi nghiệp dụng (Tứ nhiếp pháp/Tứ nghiệp) và hiện thực
hóa năm thân (Ngũ thân) cùng các trí tuệ nguyên sơ (Ngũ trí). Và bạn sẽ đạt
được giác ngộ viên mãn ngay trong chính kiếp sống này."
Nguyện
cho pháp thực hành nội tâm này của Ngũ Bộ Phật sẽ gặp được bậc có đủ nhân duyên
nghiệp báo lành (chánh duyên). Samaya. Gya. Gya. Gya. Khathaṃ. Ithi. Nguyện mọi
sự đều cát tường và công đức viên mãn!
|
Translated by Adam
Pearcey with
the generous support of the Tsadra Foundation, 2025.
https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/pema-ledrel-tsal/inner-five-families
[i] Rigpa (Tánh Giác
/ Giác Tính): Trạng thái tâm thức nguyên sơ, tỉnh thức thuần khiết, chưa từng
bị ô nhiễm bởi vô minh hay tư duy nhị nguyên. Đây là cốt lõi chứng ngộ của hành
giả Dzogchen.
[iii] Trong Mạn-đà-la nội
tại (Internal Mandala) của cơ thể, Bốn vị Hộ pháp canh cổng (Four
Gatekeepers / Four Door Keepers) đại diện cho tầng bảo vệ và chuyển hóa năng lượng
ở mức độ hành động cấu trúc nên thân và tâm.
Thay
vì là những hộ vệ đứng ở bốn cổng thành bằng đá bên ngoài, trong cơ thể bạn, họ
chính là sự chuyển hóa của bốn yếu tố vật lý, bốn trạng thái tâm thức
sai lầm thành bốn loại năng lượng giải thoát.
Dưới
đây là ý nghĩa sâu sắc của bốn vị này trong cấu trúc Mạn-đà-la nội tại:
1.
Vị trí vật lý trên cơ thể (Bốn chi)
Bốn
vị hộ pháp được quán tưởng tại hai tay và hai chân (bốn chi).
·
Trong
cơ thể học Mật tông, bốn chi là công cụ chính để con người tương tác, hành động
và tạo tác nghiệp với thế giới bên ngoài.
·
Việc
đặt bốn vị hộ pháp tại đây nhằm mục đích ấn định và bảo hộ toàn bộ các
hành động vật lý của hành giả, biến mọi cử động (đi, đứng, cầm, nắm) đều trở
thành hành động thiêng liêng của một vị Phật, ngăn chặn năng lượng tiêu cực xâm
nhập qua các cửa ngõ hành động này.
2.
Ý nghĩa chuyển hóa Tâm thức (Bốn Tâm Vô Lượng)
Bốn
vị hộ pháp canh giữ bốn cổng (Đông, Nam, Tây, Bắc) để đảm bảo không có bất kỳ
trạng thái nhị nguyên ô nhiễm nào phá vỡ sự thanh tịnh của vị Phật trung tâm. Họ
đại diện cho sự chuyển hóa mạnh mẽ của bốn loại bám chấp thành Bốn
Tâm Vô Lượng:
·
Cổng phía Đông (Cửa vào): Chuyển hóa tâm sân hận
và bám chấp vào thế giới hiện tượng thành Tâm Từ Vô Lượng
(Loving-kindness).
·
Cổng phía Nam: Chuyển hóa tâm kiêu mạn, phân biệt giàu
nghèo, tốt xấu thành Tâm Bi Vô Lượng (Compassion).
·
Cổng phía Tây: Chuyển hóa tâm tham ái, ham muốn sở hữu
thành Tâm Hỷ Vô Lượng (Sympathetic Joy).
·
Cổng phía Bắc (Cửa ra): Chuyển hóa tâm đố kỵ, ghen tị và hoài
nghi thành Tâm Xả Vô Lượng (Equanimity).
3.
Biểu tượng của bốn vị Hộ pháp Canh Cổng phổ biến
Thông
thường trong các nghi quỹ (Sadhana) thuộc Phái Ninh Mã (Nyingma) hoặc hệ thống
Dzogchen, bốn vị hộ pháp này xuất hiện dưới tướng phẫn nộ (Wrathful deities)
mang thân nam hợp nhất với thân nữ (Yab-Yum) và cầm giữ bốn loại pháp khí câu
triệu đặc trưng:
1.
Vị giữ cổng phía Đông (Móc câu - Hook/Goad): Dùng móc câu để triệu
thỉnh tánh giác, lôi kéo tâm lang thang quay trở về với chánh niệm.
2.
Vị giữ cổng phía Nam (Dây thòng lọng - Noose): Dùng dây trói để buộc
chặt và định hình năng lượng thanh tịnh, không cho các vọng tưởng bất thiện
lay chuyển.
3.
Vị giữ cổng phía Tây (Xích sắt - Chain): Dùng xích sắt để khóa
chặt cái ngã nhị nguyên, không cho tâm phân biệt trỗi dậy.
4.
Vị giữ cổng phía Bắc (Chuông nhạc - Bell): Rung chuông để nhiếp
phục và thức tỉnh hoàn toàn mọi năng lượng vi tế, khiến chúng phục tùng
tánh giác trung tâm.
Tóm
lại
Khi
đoạn văn yêu cầu bạn "quán tưởng bốn vị Hộ pháp canh cổng ở bốn
chi", điều đó có nghĩa là bạn đang thiết lập một hệ thống tự bảo vệ
tuyệt đối ngay bên trong chính mình. Bạn dùng năng lượng của Tâm Từ, Bi, Hỷ,
Xả để canh giữ bốn cửa ngõ hành động (tay, chân), đảm bảo rằng mọi ý nghĩ và
hành động phát ra từ cơ thể bạn đều đã được thanh lọc, quay về phục vụ cho Pháp
thân cốt tủy ở trung tâm (Đức Samantabhadra).
[iv] Bốn vị Hộ pháp
canh cổng thân nam (Nam Hộ pháp) luôn hợp nhất với Bốn vị Hộ pháp canh cổng
thân nữ (Nữ Hộ pháp).
Dưới
đây là tên gọi chi tiết bằng tiếng Phạn (Sanskrit) và tiếng Tây Tạng (Wylie) của
các vị này theo đúng 4 phương vị:
1.
Cổng phía Đông (Cửa ngõ phía trước)
Vị
hộ pháp phương Đông mang năng lượng của Kim Cương Bộ (Vajra family), biểu
thị cho sự câu triệu (triệu thỉnh).
·
Thần nam: Vajrāṅkuśa (tiếng Phạn) / Dorje
Chankyu (tiếng Tây Tạng: རྡོ་རྗེ་ལྕགས་ཀྱུ་)
o
Ý nghĩa: Kim Cương Móc Câu (Vajra Hook).
·
Thần nữ (Consort): Aṅkuśā / Chankyu Ma (རྡོ་རྗེ་ལྕགས་ཀྱུ་མ་)
o
Ý nghĩa: Nữ tôn cầm Móc câu.
2.
Cổng phía Nam (Cửa ngõ bên phải)
Vị
hộ pháp phương Nam mang năng lượng của Bảo Sanh Bộ (Ratna family), biểu
thị cho sự trói buộc (giữ vững định lực).
·
Thần nam: Vajrapāśa (tiếng Phạn) / Dorje
Zhakpa (tiếng Tây Tạng: རྡོ་རྗེ་ཞགས་པ་)
o
Ý nghĩa: Kim Cương Thòng Lọng (Vajra Noose).
·
Thần nữ (Consort): Pāśā / Zhakpa Ma (རྡོ་རྗེ་ཞགས་པ་མ་)
o
Ý nghĩa: Nữ tôn cầm Thòng lọng.
3.
Cổng phía Tây (Cửa ngõ phía sau)
Vị
hộ pháp phương Tây mang năng lượng của Liên Hoa Bộ (Padma family), biểu
thị cho sự trói buộc/khóa chặt (nhiếp phục cái ngã nhị nguyên).
·
Thần nam: Vajrasphoṭa (tiếng Phạn) / Dorje
Chakdrogh (tiếng Tây Tạng: རྡོ་རྗེ་ལྕགས་སྒྲོག་)
o
Ý nghĩa: Kim Cương Xích Sắt (Vajra Chain).
·
Thần nữ (Consort): Sphoṭā / Chakdrogh Ma (རྡོ་རྗེ་ལྕགས་སྒྲོག་མ་)
o
Ý nghĩa: Nữ tôn cầm Xích sắt.
4.
Cổng phía Bắc (Cửa ngõ bên trái)
Vị
hộ pháp phương Bắc mang năng lượng của Nghiệp Bộ (Karma family), biểu thị
cho sự thức tỉnh và hỷ lạc.
·
Thần nam: Vajrāveśa hoặc Vajraghaṇṭa (tiếng
Phạn) / Dorje Drilbu (tiếng Tây Tạng: རྡོ་རྗེ་དྲིལ་བུ་)
o
Ý nghĩa: Kim Cương Linh Chuông (Vajra Bell).
·
Thần nữ (Consort): Ghaṇṭā / Drilbu Ma (རྡོ་རྗེ་དྲིལ་བུ་མ་)
o
Ý nghĩa: Nữ tôn cầm Linh chuông.
Cách
ghi nhớ nhanh qua câu chú gia trì 4 cổng
Trong
các nghi lễ thực hành triệu thỉnh bốn vị Hộ pháp này, hành giả thường trì tụng
bốn âm cốt tủy đại diện cho bốn vị tương ứng với bốn hành động Mật pháp:
"JA
HŪṂ BAṂ HOḤ"
·
JĀ: Năng lượng của Móc câu phương Đông (Triệu thỉnh tánh
giác).
·
HŪṂ: Năng lượng của Thòng lọng phương Nam (Trói buộc vọng tưởng).
·
BAṂ: Năng lượng của Xích sắt phương Tây (Khóa chặt định lực).
·
HOḤ: Năng lượng của Linh chuông phương Bắc (Phát khởi hỷ lạc,
hòa nhập làm một).