1- Lễ
Vu Lan - Câu Chuyện Mục Kiền Liên Và Bà Mẹ
3- Người
Phật Tử Chưa Từng Sợ Hãi Thời Gian
4- Hiếu
Thảo Chính Là Tu Dưỡng Tâm Linh
5-
Góc
Nhìn Của Phật Giáo Về Lòng Hiếu Thảo
Spontaneous Advice Connected with a Prayer
bởi Kyabje Chatral Rinpoche
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***
Thật kỳ diệu!
Phật nguyên sơ, bản chất,
và báo thân (sambhogakāya) bất diệt, bản thể,
được hợp nhất, như chính sự rạng rỡ của lòng từ bi:
Đạo Sư ba thân, xin hãy biết đến con!
Là hiện thân của chín thừa
(yāna) và bốn thân,
Sangye Dorje đã tiên tri,
người đã hoàn thành trọn vẹn sự bao la của trí tuệ thông qua các dòng truyền thừa
được chúc phúc nhất,
biểu lộ tình yêu vĩ đại của Ngài từ không gian thanh tịnh:
hãy che chở cho con, đứa con tận tụy nhất của Ngài!
Xin hãy ban phước lành
và gia trì
của các dòng truyền thừa trí tuệ, biểu tượng và truyền khẩu ngay bây giờ,
và làm cho con không thể tách rời khỏi Ngài!
Kính lạy Đạo Sư, con đang cầu nguyện.
Trong tầm nhìn từ bi của
Ngài,
là di sản pháp thân (dharmakāya) của con — nhận thức trống rỗng —
không có lớp vỏ của những kinh nghiệm thiền định tạm thời,
và vượt ra ngoài tầm nhìn, thiền định, hành vi hay kết quả.
Bản chất nguyên sơ tự
phát này
luôn luôn thoát khỏi tâm trí khái niệm;
toàn bộ phạm vi của sự nhận thức tươi mới, không bị biến đổi.
Có được sự tự tin để nhận ra và giải quyết điều này,
chính là nhìn thấy bằng tánh giác nguyên sơ– ân huệ lớn lao của sự tự giải
thoát.
Ngay tại đây và ngay bây
giờ —
xin hãy tiết lộ điều này cho con!
Trên con đường nhanh
chóng của Đại Toàn Thiện rạng rỡ,
với sức mạnh của lòng thành kính làm nguyên nhân,
sự nhận thức và giải thoát được hiện thực hóa trong một kiếp sống.
Kết quả này, những địa[1] (bhūmi) và con đường hoàn hảo trên mặt đất,
không chỉ đơn thuần là một hy vọng hay triển vọng trong tương lai — thật đáng
kinh ngạc!
Thức tỉnh công đức tích
lũy từ trước
và hấp thụ cam lồ chín muồi giải thoát,
Vô minh, tiêu cực, cảm xúc, sự lầm lẫn và dấu ấn của chúng
Đều tịnh hóa vào Pháp thân vô sinh,
Và, với lòng từ bi vô công dụng hạnh (tự
nhiên không nỗ lực),
cõi khổ đau của chúng sinh được giải thoát
từ tận sâu thẳm — Một món quà phi thường đến thế
Chỉ có thể trao cho đứa con được nuông chiều như con
Qua lòng từ bi của bậc đạo sư, người cha đích thực của con.
Không mong cầu biết hết mọi thứ
để rồi bỏ lỡ điều quan trọng nhất,
Con sẽ an
trú suốt cả cuộc đời
Trong sự thấu suốt một điều duy nhất
giúp giải thoát tất cả.
Hỡi Đạo Sư vinh hiển, xin cứu vớt con
Khỏi cuộc hành trình đầy rẫy lỗi lầm
và cạm bẫy!
Ngoài lời cầu nguyện tha
thiết,
hãy thư giãn trong sự vô chấp, buông bỏ ngay cả những việc thiện,
và giờ đây bất cứ điều gì xảy ra
đều nằm trong tay chúng ta — hãy chắc chắn.
Đạo Sư, ngài biết rằng
trong môi trường xung quanh và giữa chúng sinh,
trên tất cả chúng ta, bản thân con và những người khác,
những mũi tên của thế lực tiêu cực đang trút xuống
trong những thời khắc đen tối không thể tưởng tượng nổi này,
và khi đã chứng kiến cách chúng tấn công,
Ngài đã chọn lối sống của một hành giả, khiêm hạ và vô tác,,
lang thang ở những nơi hoang vắng và những nơi ẩn cư biệt lập,
được duy trì mà không cần bạn đồng hành, một mình,
và như một dòng suối chảy, ngày đêm,
suy nghĩ và nhận thức trở thành trí tuệ vô tận,
Khi
trạng thái thiền định và sau thiền định trở nên bình đẳng và viên mãn —
để con có thể thưởng thức mọi thứ như một hương vị
duy nhất —
Đạo Sư kính yêu, xin hãy hiểu con!
Vì những tiếng ồn ào của giáo lý suông
Mang theo mối nguy hại của sự tự lừa dối
Lúc sinh thời, khi chết đi, và trong thân trung ấm (Bardo),
Xin hãy gia trì cho con luôn giữ trọn chánh niệm!
***
Lời cầu nguyện gọi tên Đạo Sư này, tương đương với lời
khuyên tâm linh, được vị yogi trẻ Jigme Lodé yêu cầu, với lễ vật là một maṇḍala
bằng vàng và bạc. Để không làm cho lời khuyên nhủ lặp đi lặp lại của ngài vào
những thời điểm khác nhau trở nên vô nghĩa, Đức Phật Kim Cang[2]
đã nói điều này từ nơi ở của ngài, trung tâm tu tập Turquoise
Dragon Land, và con gái của ngài là Saraswati đã ghi
chép lại. Maṅgalam.
[1] Giai đoạn hoặc tầng bậc chứng ngộ. Từ 'bhūmi' nghĩa đen là 'đất' (địa), và các tầng bậc này được ví như nền tảng nâng đỡ cho các phẩm tính giác ngộ, tương tự như mặt đất nâng đỡ mọi sinh vật hữu tình và vạn vật vô tình."
[2] Đức Phật Kim Cang - Buddha
Vajra (Sangye Dorje): Đây chính là đạo hiệu bằng tiếng Phạn của Ngài
Chatral Rinpoche. Trong tiếng Tây Tạng, Sangye nghĩa là
"Buddha" (Phật/Giác giả), và Dorje nghĩa là "Vajra"
(Kim Cương).
| Bản dịch của Christina
Monson với sự hỗ trợ của Sa môn Sean Price, 2016.
Phiên bản: 1.2–20231105
trích từ “Đại Lộ Diệu Kỳ tới Đại An Lạc: Nghi quỹ Cúng dường Thượng sư dựa trên Đức Kim Cang Tát Đỏa, kết hợp với các Hành động Lợi lạc Chúng sinh”.
Tác giả: Jamyang Khyentse
Wangpo
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***
Đối với nghi thức dẫn dắt hương linh (cầu siêu), hãy chuẩn
bị bài vị (bảng tên), các vật phẩm thanh tịnh, các chất sái tịnh (rải tịnh),
thực phẩm cúng dường cùng các thứ liên quan. Sau khi hoàn thành1
phần thực hành từ quy y cho đến trì tụng chân ngôn, hãy gia trì bình cam lồ và
chủ yếu trì tụng thần chú Trăm Chữ. Hãy gia trì dòng lực quán đỉnh của thần chú
vào bột mỳ (bột sampa). Tiếp tục hoàn thiện phần phát nguyện Thất chi, nhận
quán đỉnh bốn đạo lộ và cúng dường đại tiệc (tsok).
Phần chánh hạnh của nghi thức dẫn dắt hương linh (cầu siêu) gồm
có mười lăm phần:
01- Quán tưởng nơi nương
tựa (tạo sở y cho hương linh),
02- Triệu
thỉnh và nhập thần thức,
03- Tiêu
trừ chướng ngại,
04- Tịnh
hóa ác nghiệp,
05- Mộc
dục (tắm tịnh),
06- Trừ
độc (giải độc),
07- Trừ
độc ngũ đại (giải độc các yếu tố cấu thành),
08- Trao
truyền quy y,
09- Trao
truyền quán đỉnh,
10- Cúng
dường lục trần (diệu dục ngũ quan),
11- Chỉ
dẫn (khai thị) cho hương linh,
12- Di
thần chuyển tử (pháp Phowa),
13- Thiêu
hóa bài vị,
15- Làm
tượng Tsa-tsa, và
16- Phát
nguyện hồi hướng.
1. Quán Tưởng Nơi
Nương Tựa (Tạo Sở Y)2
Tẩy tịnh vật sở y bằng bài chú:
རྟེན་ཤཱུ་ནྱ་ཏཱས་སྦྱང་།
om maha shunyata jnana
benza sobhava emako hang
oṃ mahā-śūnyatā-jñāna-vajra-svabhāvātmako ’ham
Từ trong trạng thái tánh Không, trên tòa sen
và đĩa mặt trăng,
Chủng tự Nṛi biến hiện thành người quá cố,
Với đầy đủ năm uẩn, mười hai xứ và mười tám giới,
Trụ trong tư thế kính cẩn, hai lòng bàn tay chắp lại.
2. Triệu Thỉnh Và Nhập Thần Thức
Nam mô. Nhờ oai lực và chân lý của Đạo sư Kim Cang Tát Đỏa,
Đấng hiện thân chân thật của Tam Bảo và Tam Gốc,
Thần thức của người quá cố, dù đang lưu lạc nơi đâu trong sáu cõi luân hồi hay
cõi trung ấm (bardo),
Hãy lập tức được triệu thỉnh nhập vào vật sở y này!
ནྲྀ་བཛྲ་ཨངྐུ་ཤ་ཛཿ ཛཿཧཱུྃ་བྃ་ཧོཿ
nri benza angkusha dza
| dza hung bam ho
nṛi vajra aṅkuśa jaḥ | jaḥ hūṃ baṃ hoḥ
3. Tiêu Trừ Chướng Ngại
Để tiêu trừ các chướng ngại một cách ôn hòa (tịch
tĩnh), hãy cầm ba phần bánh cúng (torma)7 xoay theo chiều kim đồng
hồ hướng về phía vật sở y (bài vị) trong khi trì tụng:
ཨོཾ་སརྦ་བིགྷྣཱན་ན་མ་སརྦ་ཏ་ཐཱ་ག་ཏེ་བྷྱོ་སོགས་བརྗོད་པས་ཞི་བ།
om sarwa bighanen nama
sarwa tathagaté bhyo bisho mukhé bhé sarwa takham utgaté saparana imam gagana
kham grihana idam balingté soha
oṃ sarva vighnān namaḥ saravatathāgatebhyo
viśva-mukhebhyaḥ sarvathā-khaṃ udgate spharaṇa imaṃ gagana-khaṃ gṛhṇa idaṃ
baliṃ te svāhā
Để tiêu trừ [chướng ngại] bằng phương pháp bán
phẫn nộ (vừa ôn hòa vừa uy lực), hãy cầm ngọn đèn bơ nhỏ (tinglo) và bánh cúng
nắm tay (changbu)8 xoay ngược chiều kim đồng hồ hướng về phía vật sở
y (bài vị) trong khi trì tụng:
om sumbhani sumbhani
hung | grihana grihana hung | grihanapaya grihanapaya hung | anaya ho |
bhagawan bidyaraza krodha hung pé
oṃ sumbha ni-sumbha(ni) hūṃ | gṛhāna gṛhāna
hūṃ | gṛhānapaya gṛhānapaya hūṃ | ānaya ho bhagavān vidyārājāya hūṃ
phat
Để thực hiện pháp phẫn nộ xua đuổi chướng
ngại:
Nam mô. Nhờ oai lực và chân lý của Đạo sư Kim Cang Tát Đỏa,
Đấng hiện thân chân thật của Tam Bảo và
Tam Gốc,
Hỡi tất cả các thế lực quỷ thần bạo hại
đang cản trở con đường giải thoát của người quá cố:
Hãy nhận lấy bánh cúng (torma) này và
lập tức lui về trú xứ của các ngươi!
སུམྦྷ་སོགས་བརྗོད་ཅིང་གུ་གུལ་བྱིས་བདུག
om sumbhani sumbhani
hung | grihana grihana hung | grihanapaya grihanapaya hung | anaya ho |
bhagawan bidyaraza krodha hung pé
oṃ sumbha ni-sumbha(ni) hūṃ | gṛhāna gṛhāna
hūṃ | gṛhānapaya gṛhānapaya hūṃ | ānaya ho bhagavān vidyārājāya hūṃ
phat
Trong khi trì tụng lời
này, hãy dâng hương trừ tà (guggul), rải hạt cải tịnh hóa và mang bánh cúng
trục xuất chướng ngại (purification torma) ra bên ngoài.
4. Tịnh Hóa Ác Nghiệp
Tại đỉnh đầu của
người quá cố là chủng tự hạt giống của cõi trời, chữ A màu trắng.
Tại luân xa cổ họng, chủng tự hạt giống của cõi a-tu-la (bán thần), chữ
SU màu vàng.
Tại luân xa tim, chủng tự hạt giống của cõi người, chữ NṚI màu xanh dương nhạt.
Tại luân xa rốn, chủng tự hạt giống của cõi súc sinh, chữ TRI màu xanh lá cây.
Tại mật xứ (luân xa vùng kín), chủng tự hạt giống của cõi ngạ quỷ (quỷ
đói), chữ PRE màu tro bếp.
Tại lòng bàn chân, chủng tự hạt giống của cõi địa ngục, chữ DUḤ màu khói xám.
Từ luân xa tim của Đạo
sư Kim Cang Tát Đỏa, các tia sáng trí tuệ phóng xuất ra như những lưỡi
lửa, thiêu rụi và tịnh hóa hoàn toàn các hạt giống tái sinh vào sáu cõi luân
hồi của người quá cố, cùng với tất cả các phiền não, ác nghiệp, chướng ngại và
tập khí (vô minh) của họ.
Mật
ngôn trăm âm
OM BENZA SATO SAMAYA / MANU PALAYA /
BENZA SATO TENO PA / TITHA DRI THO ME BHAWA /
SUTO KAYO ME BHAWA / SUPO KAYO ME BHAWA /
ANU RAKTO ME BHAWA /
SARWA SIDDHI ME PRAYATSA /
SARWA KARMA SU TSA ME / TSITTAM SHRIYAM KURU HUNG /
HA HA HA HA HO / BHA GA WAN / SARWA TATHAGATA /
BENZA MA ME MUNTSA / BENZI BHAWA /
MAHA SAMAYA SATO AH
Hay căn bản mật ngôn trăm âm:
OM BENZA SATO HUNG
Vào phần cuối của căn bản chú và thần chú Trăm Chữ,
hãy thêm vào:
ཨ་སུ་ནྲྀ་ཏྲི་པྲེ་དུཿསརྦ་པཱ་པཾ་ཀླེ་ཤ་ད་ཧ་ན་བྷསྨིཾ་ཀུ་རུ་སྭཱ་ཧཱ།
a su nri tri tré duh
sarva papam klésha dahana bhasmim kuru soha
a su nṛi tri pre duḥ sarva pāpaṃ kleśa dahana
bhasmiṃ kuru svāhā
Hãy trì tụng lời này trong khi rải bột (bột
sampa). Nếu muốn thực hiện nghi thức một cách rộng rũ (chi tiết) hơn, hãy trì
tụng thêm các thần chú tịnh hóa khác sao cho phù hợp
5. Mộc Dục (Tắm Tịnh)
Nếu muốn thực hiện
nghi thức một cách rộng rũ (chi tiết), trước hết hãy thực hiện nghi thức mộc
dục lên tôn tượng Bản tôn.3 Sau đó trì tụng:
Oṃ. Bên trong bầu không gian rộng lớn của thân bình tịnh nguyên sơ tươi trẻ,
Là dòng nước cam lồ (amṛta) của trí tuệ tự tính hiện tiền—
Nhờ năng lực này, nguyện cho tất cả nghiệp quả, cùng các phiền não chướng và sở
tri chướng
Của người quá cố đều được tịnh hóa vẹn toàn.
Vào phần cuối của căn bản chú và thần chú Trăm Chữ,
hãy thêm vào:
OM BENZA SATO HUNG +
[TÊN HƯƠNG LINH]
-
Nguyện cho tất cả ác nghiệp, phiền não chướng, sở tri chướng cùng các tập
khí (vô minh) của người quá cố đều được tịnh hóa—śāntiṃ kuru svāhā!9
-
hoặc (- OM BENZA SATO HUNG + [TÊN HƯƠNG LINH] + SARVA PAPAM KLESHA...)
Hãy sái tịnh vật sở y (bài vị) trong khi trì tụng
lời này. Đối với nghi thức rộng rũ (chi tiết), hãy tụng thêm các bài kệ về Sáu
Ba-la-mật (Lục độ Ba-la-mật).4
1. Bố Thí Ba-la-mật (Generosity - Dāna)
Bố thí viên mẫn xua
tan tâm bỏn xẻn,
Mang lại sự giàu có tâm linh lẫn tư lương.
Nguyện cho hương linh buông xả mọi bám chấp,
Thành tựu hạnh nguyện Bố thí Ba-la-mật vô biên.
2. Trì Giới Ba-la-mật (Discipline -
Śīla)
Trì giới thanh tịnh
là cội nguồn của mọi cõi lành,
Ngăn chặn mọi hành vi bạo hại và tổn thương.
Nguyện cho hương linh rũ sạch các cấu uế của nghiệp,
Thành tựu hạnh nguyện Trì giới Ba-la-mật trang nghiêm.
3. Nhẫn Nhục Ba-la-mật (Patience -
Kṣānti)
Nhẫn nhục kiên cố
che chở tâm khỏi ngọn lửa sân hận,
Mang lại vẻ đẹp tự tại và sự an nhiên trước chướng nghịch.
Nguyện cho hương linh chuyển hóa mọi oán sầu, kiêu mạn,
Thành tựu hạnh nguyện Nhẫn nhục Ba-la-mật bất động.
4. Tinh Tấn Ba-la-mật (Diligence -
Vīrya)
Tinh tấn hỷ lạc là động
lực của muôn vàn thiện hạnh,
Dẫn dắt hành giả vượt thoát đại dương sinh tử luân hồi.
Nguyện cho hương linh phát khởi đại dũng lực tâm linh,
Thành tựu hạnh nguyện Tinh tấn Ba-la-mật không lui sụt.
5. Thiền Định Ba-la-mật (Concentration
- Dhyāna)
Thiền định tịch tĩnh
nhiếp phục tâm tán loạn,
Mang lại sự định tĩnh, làm chủ mọi dòng năng lượng.
Nguyện cho hương linh trú vào trạng thái nhất tâm bất loạn,
Thành tựu hạnh nguyện Thiền định Ba-la-mật thâm sâu.
6. Trí Tuệ Ba-la-mật (Wisdom - Prajñā)
Trí tuệ siêu việt
thấu suốt bản thể tánh Không,
Quét sạch bóng tối của nhị biên và hai tầng che lấp (phần che lấp phiền não và
sở tri).
Nguyện cho hương linh bừng sáng ánh sáng giác ngộ nguyên sơ,
Thành tựu hạnh nguyện Trí tuệ Ba-la-mật rốt ráo.
6. Trừ Độc (Giải Độc)
Hãy sái tịnh vật sở
y (bài vị) bằng nước trong bình tịnh và trì tụng:
Tham ái, sân hận và si mê—
Đây là ba thứ độc (tam độc) của cõi thế gian.
Tam Bảo hoàn toàn thoát khỏi ba thứ độc này;
Nhờ chân lý của Tam Bảo, nguyện cho các độc tố đều được chuyển hóa và vượt qua!
Vào phần cuối của các bài thần chú, hãy thêm vào:
OM BENZA SATO HUNG +
[TÊN HƯƠNG LINH]
Nguyện cho tất cả tam độc của người quá cố, cùng với toàn bộ nhân và quả của chúng, đều được tịnh hóa vẹn toàn—śāntiṃ kuru svāhā!
7. Trừ Độc Ngũ Đại (Giải Độc Các Yếu Tố Cấu
Thành)
Hãy dùng từng yếu tố
đại (tứ đại) để tẩy tịnh theo thứ tự và trì tụng:
Bốn yếu tố đại chính là cha của các món độc,
Và bốn yếu tố đại cũng chính là mẹ của các món độc.
Nhờ sự gia trì của Bốn Vị Đại Mẫu (Bốn vị Phật Mẫu tứ đại),
Hỡi người quá cố, nguyện cho hành giả được giải thoát khỏi các độc tố này!
Vào phần cuối của thần chú, hãy thêm vào:
OM BENZA SATO HUNG +
[TÊN HƯƠNG LINH]
Nguyện cho tất cả
các yếu tố đại của người quá cố cùng các độc tố phát sinh từ chúng đều được
tịnh hóa vẹn toàn—śāntiṃ kuru svāhā!
8. Trao Truyền Quy Y
Người quá cố đảnh lễ
và quy y Đạo sư, đấng bất nhị (không thể tách rời) với Đức Kim
Cang Tát Đỏa—hiện thân trọn vẹn của các gia tộc
thuộc Tam Gốc cùng các Tôn tượng Tịch tĩnh và Phẫn nộ.
Sau các lạy đảnh lễ, dù thực hiện theo nghi thức
rộng rũ (chi tiết) hay giản lược, hãy trì tụng:
Con xin kính lạy Đạo
sư Kim Cang Tát Đỏa,
Đấng hiện thân chân thật của Tam Bảo và Tam Gốc,
Người quá cố này, trong niềm sợ hãi tột cùng,
Xin đảnh lễ và dâng lòng quy y từ tận đáy lòng.
Nguyện cho hương linh được thoát khỏi luân hồi, khỏi khổ đau nơi ba đường ác,
Cùng lối đi hiểm nguy đầy cạm bẫm của cõi trung ấm (bardo),
Và tìm thấy sự an tịch giải thoát
Trong trạng thái Giác ngộ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác!
9. Trao Truyền Quán Đảnh
Đối với nghi thức chi tiết, hãy thực hiện theo nghi
quỹ thu nhận đệ tử.5 Tóm lược như sau:
Người quá cố tức
thời biến hiện thành hình tướng của Đức Kim Cang Tát Đỏa vinh hiển. Từ giữa hai
chân mày của Đạo sư Kim Cang Bất Động Như Lai (Vajra Akṣobhya),
mạn-đà-la của Tam Tòa Toàn Hảo10 phóng xuất đầy khắp
hư không, ngay lúc đó các vị Trí Tuệ Phật Mẫu liền trao truyền quán đảnh bằng
nước cam lồ bồ-đề-tâm.
Oṃ. Đấng hiện thân vinh hiển của thảy
chư Phật,
Bậc trì giữ ba kim cang bất nhị11 (không thể tách rời),
Ngay tại đây và lúc này, xin hãy ban dòng quán đảnh
Thân, Khẩu, và Ý của thảy chư Phật!
Vào phần cuối của các bài thần chú, hãy thêm vào:
OM BENZA SATO HUNG +
[TÊN HƯƠNG LINH]
སྔགས་མཐར་ཀཱ་ཡ་ཝཱ་ཀ་ཙིཏྟ་ཨ་བྷི་ཥིཉྩཱ་མི།
kaya waka tsitta
abhishintsa mi
kāya vāka citta abhiṣiñcāmi
Nhờ dòng quán đỉnh
này, hai tầng che lấp (phiền não chướng và sở tri chướng) cùng với các tập khí
(vô minh) của người quá cố đều được tịnh hóa vẹn toàn.
Trí tuệ của ba kim cang (Thân, Khẩu, Ý)
được hiển lộ chân thật.
Phần nước cam lồ còn lại lưu trên đỉnh
đầu ngưng tụ và biến hiện thành chiếc mũ báu Ngũ Trí Như Lai (Mũ Ngũ Phật), với
Đức Bất Động Như Lai (Akṣobhya) làm tôn chủ trên đỉnh bối.
Sau đó, tất cả chư vị Bản tôn ban quán đảnh
đang an trụ khắp hư không đều hòa nhập bất nhị (tan thành một) vào thân tâm của
người quá cố.
ཨོཾ་སུ་པྲ་ཏིཥྛ་བཛྲཱ་ཡ་སྭཱ་ཧཱ་ཞེས་བརྗོད་ཅིང་མེ་ཏོག་འཐོར།
om supratishtha
badzraya soha
oṃ supratiṣṭha vajrāya svāhā.
Trì tụng mantra
trong khi rải hoa.
10. Cúng Dường Lục Trần (Diệu Dục Ngũ Quan)
Hãy tẩy tịnh và sái tịnh các vật phẩm cúng dường diệu dục bằng bài chú:
འདོད་ཡོན་གྱི་དངོས་པོ་རྃ་ཡྃ་ཁྃ་གིས་བསང་སྦྱང་།
ram yam kham
raṃ yaṃ khaṃ
ཨོཾ་ཨཱཿཧཱུྃ་ཧོཿ
om ah hung ho
oṃ āḥ hūṃ hoḥ
Nếu muốn thực hiện nghi thức một cách chi tiết, hãy gia trì các vật phẩm
bằng thần chú và thủ ấn Hư Không Tạng. Hãy dâng cúng dường với lời nguyện:
Con xin dâng cúng các sắc tướng và âm thanh
thù thắng, vi diệu nhất,
Cùng hương thơm, vị ngon và xúc chạm êm
ái ngập tràn khắp không gian và thời gian,
Lên hành giả, bậc đã chứng đạt quả vị
Đức Kim Cang Tát Đỏa—
Nguyện cho hương linh vĩnh viễn được
viên mãn trong hỷ lạc và hạnh phúc vô lậu thanh tịnh!
ཨོཾ་བཛྲ་སཏྭ་པཉྩ་ཀཱ་མ་གུ་ཎ་པྲ་ཏཱི་ཙྪ་སྭཱ་ཧཱ།
om benza sato pentsa
kama guna pratitsa soha
oṃ vajrasattva pañca kāma guṇa pratīccha svāhā
11. Chỉ Dẫn (Khai Thị) Cho Hương Linh
Hãy lắng nghe, hỡi
người con của bậc đạo tâm (thiện nam tử/tín nữ), báo thân của hành giả ở cõi
đời này nay đã tận.
Luân hồi (saṃsāra) là một khối khổ đau chất ngất,
Tự thân nó vốn biến dịch, duyên sinh, hữu vi và chẳng có gì ngoài hư vọng.
Hành giả sinh ra do nghiệp lực và nay phải chịu sự định đoạt của nghiệp lực,
Chính vì lẽ đó, hãy hoàn toàn buông xả mọi bám chấp, luyến ái.
Oai lực của các bậc Đạo sư và Tam Bảo
Sẽ hiển lộ rõ ràng trước tâm thức của những ai có trọn vẹn lòng tin.
Vậy nên, hỡi người con của bậc đạo tâm, hãy phát khởi đại tâm thành kính sâu
dày!
Vậy nên, hỡi người
con của bậc đạo tâm, hãy phát khởi đại tâm thành kính sâu dày!
Ở phương Đông tính từ nơi đây,
Vượt lên trên mọi uế nhiễm của ba cõi sáu đường,
Là cảnh giới Tịnh độ tự tánh biến hiện hiện tiền
Được tôn xưng là cõi Diệu Hỷ (Abhirati),
Nơi Đạo sư Kim Cang Bất Động Như Lai (Akṣobhya) đang ngự tọa
Cùng chư Phật vinh hiển, các bậc thánh tử (Bồ Tát) và quyến thuộc của Ngài.
Ngay khoảnh khắc hành giả khởi tâm hướng về Ngài,
Hương linh cũng sẽ tức thời được tiếp dẫn về cõi ấy.
Vì lẽ đó, hãy khởi sinh đức tin cùng lòng kính ngưỡng trọn vẹn, và nhất tâm trì
niệm danh hiệu Ngài!
Ngay giây phút được chiêm ngưỡng dung nhan của Đấng Đạo Sư,
Hai tầng che lấp (phiền não chướng và sở tri chướng)
Sẽ lập tức được đoạn trừ và hành giả sẽ viên mãn đại giác ngộ!
Hãy rũ bỏ mọi niệm hoài nghi và tiến thẳng về cõi tịnh!
12. Di Thần Chuyển Tử (Pháp Phowa / Chuyển Di
Tâm Thức)
Thần thức của người
quá cố, trong hình tướng của chủng tự HŪṂ, phóng mạnh ra từ đỉnh đầu như một
ngôi sao băng vụt sáng,
Và tiến thẳng về cõi tịnh độ tối cao Sắc Cứu Cánh Thiên (Akaniṣṭha).
Chủng tự ấy tan hòa vào điểm bất nhị (hợp nhất) giữa Đức Thế Tôn Kim Cang Tát
Đỏa và Phật Mẫu (Consort), rồi bừng tỉnh giác ngộ như một bậc thánh tử (Bồ Tát)
của chư Phật vinh hiển.
Quán tưởng sâu sắc điều này, hãy an trú trong trạng
thái đại định (thiền định nhất tâm) giữa bầu không gian bao la nơi thể tánh
giác biết và tánh Không bất khả phân.
13. Thiêu Hóa Bài Vị
Hãy quán tưởng rằng tấm bài vị (mà thần thức đã rời
khỏi) đang được thiêu rụi bởi ngọn lửa trí tuệ:
Nhờ ngọn lửa của sự
hợp nhất giữa thể tánh giác biết và tánh Không bất khả phân,
Bừng cháy thiêu rụi bên trong năm uẩn, mười hai xứ và mười tám giới của người
quá cố,
Nguyện cho hành giả trọn vẹn tựu thành Tam thân (Ba thân Phật) và Ngũ trí (Năm
trí tuệ),
Và viên mãn các hoạt động vì lợi lạc của chúng sinh!
Hãy trì tụng lời nguyện này, tiếp theo là
bài thần chú, trong khi đang thiêu hóa bài vị.
14. Đúc Tượng Tsa-tsa
Một lần nữa, hãy
quán tưởng một đĩa mặt trăng được bao quanh bởi một chuỗi vòng thần chú rực
sáng phía trên phần tro cốt vừa thiêu hóa. Từ đĩa mặt trăng ấy, một dòng nước
cam lồ (amṛta) trí tuệ tuôn chảy xuống, tịnh hóa toàn bộ các ác nghiệp và
chướng ngại của người quá cố mà không để lại bất kỳ dấu vết nào.
Hãy quán tưởng điều này và sái tịnh phần tro cốt
bằng nước trong bình tịnh trong khi trì tụng thần chú.
15.
Lời cầu nguyện nguyện vọng
Trộn tro với nước
thơm để tạo thành hỗn hợp sền sệt và ấn tsa-tsas trong khi tụng niệm thần chú
trăm âm tiết. Rải hoa trong khi tụng niệm thần chú ye dharmā và tưởng
nhớ rằng tất cả chư Phật luôn hiện hữu trong đó. Tụng niệm lời nguyện nguyện
nguyện thiện hạnh6 hoặc những lời cầu nguyện nguyện vọng tương tự,
có thể viết chi tiết hoặc rút gọn tùy theo hoàn cảnh, và tưởng nhớ rằng sự hoàn
thiện, trưởng thành và thanh tịnh đã được hoàn thành. Sau đó, hãy tận hưởng bữa
tiệc, dâng cúng phần còn lại và thực hiện các nghi lễ kết thúc theo kinh sách.
YE DHARMĀ MANTRA
(OM / YE DHARMĀ
/ HETU-PRABHAVĀ / HETUṂ TEṢĀṂ / TATHĀGATO HYAVADAT / TEṢĀṂ CA YO NIRODHO /
EVAṂ-VĀDĪ MAHĀ-ŚRAMAṘAḤ / SVĀHĀ)
Chư pháp nhân duyên
sinh,
Pháp diệc nhân duyên diệt.
Thị sinh diệt nhân duyên,
Phật Đại Sa-môn thuyết
Các pháp đều phát sinh
từ nhân duyên,
Đức Như Lai đã chỉ ra nguyên nhân của chúng.
Và ngài cũng chỉ ra phương pháp để đoạn diệt các nguyên nhân ấy,
Đó chính là giáo lý của bậc Đại Sa-môn (Đức Phật).
| Translated by Matthias Staber, reviewed by Han Kop and edited by Alexi Dhami and
Barry Cohen for the Longchen Nyingtik Project, 2026.
Sources
’jam dbyangs mkhyen brtse'i dbang po, “rdo rje
sems dpa' la brten pa'i bla ma mchod pa'i cho ga gzhan phan gyi phrin las dang
bcas pa bde chen lam bzang.” In klong chen snying thig rtsa pod.
BDRC W1KG13585 (Shechen Publications, 1994). Vol. 4, 211–258.
’jam dbyangs mkhyen brtse'i dbang po,
"rdo rje sems dpa' la brten pa'i bla ma mchod pa'i cho ga gzhan phan gyi
phrin las dang bcas pa bde chen lam bzang." In 'jam dbyangs mkhyen
brtse'i dbang po'i bka' 'bum. BDRC MW3PD1002 (Khams sde dge rdzong sar
dgon: Rdzong sar blo gros phun tshogs, 2014). Vol. 15, 477–529.
Version: 1.0-20260806
Notes
1- https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/jamyang-khyentse-wangpo/dorsem-ngon-ga-sadhana ↑
2- Support (rten) refers
to a so-called tsenjang (mtshan byang) – an effigy, photograph
or name card. ↑
3- See the ablution ritual in The Heart
of Great Bliss. ↑
4- See the ablution ritual in The Heart
of Great Bliss. ↑
5- https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/jamyang-khyentse-wangpo/dorsem-ngon-ga-empwerment ↑
6- https://www.lotsawahouse.org/words-of-the-buddha/samantabhadra-aspiration-good-actions ↑
7- Từ "Tor"
nghĩa là "rải ra", "bố thí" hoặc "phá vỡ bám chấp".
Torma là loại bánh cúng hình chóp hoặc các hình thù nghệ thuật phức tạp đại diện
cho thực phẩm tối thượng.
8- bánh cúng changbu: Người
thực hành (hoặc hành giả) sẽ lấy một cục bột mì nhỏ, nắm thật chặt trong lòng
bàn tay sao cho cục bột in rõ dấu năm ngón tay và vân tay của mình lên
đó, tạo thành những gờ lồi lõm đặc trưng. Ở hai đầu cục bột thường được vuốt nhọn
hoặc ấn dẹt thành hình cánh hoa/lá cờ nhỏ.
9- Hãy làm lắng dịu,
tiêu trừ hoặc ban sự bình an tịch tĩnh viên mãn!".
10- Đây là một thuật
ngữ Mật tông sâu sắc, chỉ cấu trúc mạn-đà-la hoàn hảo nơi uẩn-giới-xứ của tự
tánh đều là Phật, gồm: tòa của chư Phật uẩn giới, tòa của chư Bồ Tát xứ căn, và
tòa của chư Hộ pháp Không hành.
11- Ba kim cang ở đây
là Thân Kim Cang, Khẩu Kim Cang, và Ý Kim Cang
12- Bốn Vị Đại Mẫu
thanh tịnh (Four Great Mothers) trong Mandala (như Phật Mẫu Đất Locana, Phật
Mẫu Nước Mamaki, Phật Mẫu Lửa Pandaravasini, Phật Mẫu Gió Samayatara).
https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/jamyang-khyentse-wangpo/dorsem-ngon-ga-nedren
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***
Trong thực hành Tantra
cao cấp (Anuttarayoga Tantra) của Phật giáo Kim Cang Thừa, sự khác biệt cốt lõi
giữa phối ngẫu quán tưởng (Trí Tuệ Ấn - Jñānamudrā) và phối ngẫu
bằng xương bằng thịt (Nghiệp Ấn - Karmamudrā) nằm ở đối tượng
tương tác, mức độ chứng ngộ của hành giả và phương thức kiểm soát năng lượng
tinh tế.
Cả hai pháp tu này đều có chung mục đích tối hậu: kích hoạt
dòng chảy của các giọt năng lượng (thigle) trong hệ thống kinh mạch, làm
tan rã các khái niệm nhị nguyên để trực nhận Tánh Không thông qua trạng
thái Đại Lạc.
Bảng so sánh chi tiết dưới đây làm rõ sự khác biệt giữa
hai phương pháp:
|
Đặc điểm phương pháp |
Phối ngẫu Quán tưởng (Trí Tuệ Ấn -
Jñānamudrā) |
Phối ngẫu Đời thực (Nghiệp Ấn - Karmamudrā) |
|
Bản chất đối tượng |
Là một thực thể ý thức được hành giả tự
quán tưởng trong tâm trí, thường là hình tướng của một
Dakini hoặc Phật Mẫu. |
Là một con người vật lý bằng xương bằng thịt
(Yogi hoặc Yogini), người cũng phải là một hành giả Mật tông có chứng ngộ. |
|
Yêu cầu đối với Hành giả |
Đòi hỏi năng lực định lực cực kỳ thâm sâu để
hình dung rõ nét từng chi tiết nhỏ nhất của Bổn tôn và duy trì trạng thái Đại
Lạc trong tâm. |
Đòi hỏi phải thành thục hoàn toàn các pháp khí mạch,
minh điểm và Yoga Nhiệt nội (Tummo). Hành giả phải có khả năng điều khiển
các giọt năng lượng đi ngược lên đỉnh đầu mà không rò rỉ. |
|
Mức độ rủi ro tâm linh |
An toàn, không vi phạm giới luật.
Thích hợp cho cả các tu sĩ xuất gia giữ giới độc thân nghiêm ngặt. |
Rất nguy hiểm (như đi trên lưỡi dao). Nếu
khởi tâm bám chấp hay dục vọng phàm phu, hành giả sẽ lập tức đọa địa ngục Kim
Cang (Vajra Hell). Thường chỉ dành cho cư sĩ hoặc bậc Đại thành tựu giả. |
|
Cường độ của Hạnh phúc |
Cường độ hỷ lạc được tạo ra từ bên trong thông qua năng
lực thiền định và làm chủ tâm thức. |
Cường độ hỷ lạc cực mạnh nhờ vào sự cộng hưởng vật lý của
hệ thống luân xa và hệ thần kinh của cả hai cơ thể. |
|
Vị trí trong lộ trình tu tập |
Là bước đi trước và bắt buộc.
Hành giả phải thành thục Jñānamudrā trước khi được phép nghĩ đến Karmamudrā. |
Là bước đi sau (không bắt buộc).
Nhiều bậc Thầy khẳng định chỉ cần đạt thành tựu với Jñānamudrā là đủ để chứng
ngộ hoàn toàn. |
Bản chất tối hậu cần lưu ý