Tác giả: the Words of the Buddha
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***
In the language of India: Vajravidāraṇa-nāma-dhāraṇī
In
the language of Tibet: dorjé nampar jompa shé chawé zung
In
the English language: The Incantation known as Vajra Subduer
***
Kính lạy tất cả chư Phật và chư Bồ Tát!
Như tôi đã nghe một thời.
Đức Thế Tôn đang an trụ trong cảnh giới Kim Cang.[1]
Nhờ vào thần lực của Đức Phật, toàn thân của Ngài Kim Cang Thủ (Vajrapāṇi) được
gia trì thành kim cang,
Và Ngài Kim Cang Thủ đã nhập vào định Kim Cang (Kim cang tam-muội).
Khi ấy, nhờ vào thần lực của Đức Phật,
Cùng sự gia trì của hết thảy chư Phật,
Và sự gia trì của hết thảy chư Bồ Tát,
Ngài Kim Cang Thủ (Vajrapāṇi) đã tuyên thuyết tinh túy kim cang khởi sinh từ đại
phẫn nộ kim cang:
Nó không thể bị phá vỡ, không
thể bị hủy hoại; chân thật, kiên cố, vững chắc; không gì có thể ngăn ngại và
không gì có thể chiến thắng được.[2]
Nó khiến tất cả chúng sinh kinh hãi,
khiến tất cả chúng sinh phải chạy trốn,
cắt đứt mọi minh chú (vidyā-mantra),[3]
chế phục mọi minh chú."
Nó đánh bại mọi nghiệp hành của
luân hồi;
Nó hóa giải tất cả những gì người khác gây hại cho
ngươi;
Nó nghiền nát mọi thế lực chướng ngại;
Nó giải thoát khỏi mọi thế lực chướng ngại;
Nó chế ngự tất cả các loài tinh linh và quỷ thần.[4]
Nó thực hiện mọi công năng của
tất cả minh chú;
Nó thành tựu những gì chưa được thành tựu;
Nó gìn giữ mọi thành tựu đã đạt được;
Nó ban cho mọi điều mong cầu;
Nó bảo hộ, tức tai và tăng ích cho tất cả chúng
sinh;
Và nó làm cho tất cả chúng sinh bị tê liệt và mê muội."
Bấy giờ, nhờ oai lực của Đức Phật, Kim Cang Thủ
(Vajrapāṇi) liền tuyên thuyết thần chú bí mật vô cùng uy lực này:
namo ratna trayaya | nama tsenda benza panaye
| maha yaksha senapataye | teyata | om truta truta trotaya trotaya | saputa
saputa sapotaya sapotaya | ghurna ghurna ghurnapaya ghurnapaya || sarva satvani
bhodhaya bhodhaya sambhodhaya sambhodhaya || bhrama bhrama sambhramaya
sambhramaya sarva bhutani || kutta kutta samkuttaya samkuttaya | sarva shatrun
|| ghata ghata samghataya samghataya || sarva vidyam benza benza | sapotaya
benza benza | kata benza benza | mata benza benza | matha benza benza | ata
hasanila benza su benza ya soha || hepullu | nirupullu | grihana kullu | mili
tsullu | kurukullu | benza vijayaya soha || kili kilaya soha | kata kata | mata
mata | rata rata | motana pramotanaya soha | tsarani tsara | hara hara | sara
sara maraya | benza vidaranaya soha | tsindha tsindha | bhindha bhindha | maha
kili kilaya soha | bhendha bhendha | krodha benza kili kilaya soha | tsuru
tsuru tsenda kili kilaya soha | trasaya trasaya | benza kili kilaya svaha |
hara hara benza dharaya soha | prahara prahara | benza prabhanjanaya soha |
matisthira benza | shutisthira benza | pratisthira benza | maha benza aprati
hata benza | amogha benza | ehay ehi | shri ghram benza dharaya soha | dhara
dhara dhiri dhiri dhuru dhuru sarva benzakula awartaya soha | amuka maraya phé
| nama samenta benzanam | sarva benza kulam mawartaya | mahabale | katapale |
tatale | atsale | mendala maye | ati benza | maha bale | bega rana rana | ajite
| jola jola | titi titi | ting gale | daha daha | tejo wati | tili tili |
bhendha bhendha | mahabale | benza angkusha jolaya soha ||
namo ratna-trayāya | namaś-caṇḍa-vajrapāṇaye
| mahā-yakṣa-senāpataye | tadyathā | oṃ truṭa truṭa troṭaya troṭaya | sphuṭa
sphuṭa sphoṭaya sphoṭaya | ghūrṇa ghūrṇa ghūrṇāpaya ghūrṇāpaya || sarvasattvāni
bodhaya bodhaya saṃbodhaya saṃbodhaya || bhrama bhrama saṃbhramaya saṃbhramaya
sarvabhūtāni || kuṭṭa kuṭṭa saṃkuṭṭaya saṃkuṭṭaya | sarva-śatrūn || ghaṭa ghaṭa
saṃghaṭaya saṃghaṭaya || sarva-vidyā vajra vajra | sphoṭaya vajra vajra | kaṭa
vajra vajra | maṭa vajra vajra | matha vajra vajra | aṭṭahāsa-nīla-vajra |
suvajrāya svāhā || he phullu | niruphullu | gṛhṇa kullu | mili cullu |
kurukullu | vajra-vijayāya svāhā | kīli kīlāya svāhā | kaṭa kaṭa | maṭa maṭa |
raṭa raṭa | moṭana pramoṭanāya svāhā | caraṇi cara | hara hara | sara sara
māraya | vajra-vidāraṇāya svāhā | chinda chinda | bhinda bhinda |
mahā-kīli-kīlāya svāhā | bandha bandha | krodha-kīli-kīlāya svāhā | curu curu
caṇḍala-kīli-kīlāya svāhā | trāsaya trāsaya | vajra-kīli-kīlāya svāhā | hara
hara vajra-dharāya svāhā | prahara prahara | vajra-prabhañjanāya svāhā |
mati-sthira vajra | śruti-sthira vajra | prati-sthira vajra | mahā-vajra |
apratihata vajra | amogha vajra | ehy ehi | śīghraṃ vajra-dhārāya svāhā | dhara
dhara dhiri dhiri dhuru dhuru sarva-vajra-kulam-āvartāya svāhā | amukaṃ māraya
phaṭ | namaḥ samanta-vajrānām | sarva-vajra-kulam āvartāya | mahā-bale | kaṭa-bale
| tatale | acale | maṇḍale māye | ati-vajra | mahā-bale | vegaraṇa-raṇa | ajite
| jvala jvala | tiṭi tiṭi | tiṅkale | daha daha | tejovati | tili tili | bandha
bandha | mahā-bale | vajrāṃkuśa-jvālaya svāhā ||
namo ratna trayaya | nama tsenda benza panaye
| maha yaksha senapataye | teyata | om hara hara benza | matha matha benza |
dhuna dhuna benza | daha daha benza | patsa patsa benza | dhara dhara benza |
dharaya dharaya benza | daruna daruna benza | tsindha tsindha benza | bhindha
bhindha benza hung pé ||
namo ratna-trayāya | namaś-caṇḍa-vajrapāṇaye
| mahā-yakṣa-senāpataye | tadyathā | oṁ hara hara vajra | matha matha vajra |
dhuna dhuna vajra | daha daha vajra | paca paca vajra | dhara dhara vajra |
dhāraya dhāraya vajra | dāruṇa dāruṇa vajra | chinda chinda vajra | bhinda
bhinda vajra | hūṃ phaṭ ||
namash tsenda benza krodhaya | hulu hulu |
tishtha tishtha | bhendha bhendha | hana hana | amrité hung pé ||
namaś-caṇḍa-vajra-krodhāya | hulu hulu | tiṣṭha
tiṣṭha | bandha bandha | hana hana | amṛte hūṃ phaṭ ||
Nhờ tịnh hóa mọi ác nghiệp và
chướng nhiễm,
chân ngôn này trừ diệt mọi khổ đau.
Nó là cội nguồn của tất cả mật điển,
được trang nghiêm viên mãn bởi mọi công đức và uy đức
thù thắng.
Tất cả những ai có các căn suy
yếu,
những người sinh lực đã cạn kiệt hoặc suy giảm,
những ai đang ở trong hoàn cảnh bất tường,
bị chư thiên bỏ rơi,
những người bị người thân cận thù ghét hoặc chống đối,
những người bị áp bức, như tôi tớ và kẻ lệ thuộc,
những người sống trong bất hòa và xung đột,
Những người bị tổn hại vì mất
mát tài sản,
những người tuyệt vọng hoặc bị thương tổn,
những người kinh sợ hoặc lâm vào cảnh cùng khốn,
những người bị các hành tinh, tinh tú hoặc lời nguyền
gây ảnh hưởng tai hại,
những người bị các loài quỷ thần và linh thể quấy
nhiễu một cách khôn kham,
những người thấy các điềm dữ trong mộng
do mệt mỏi hoặc sầu khổ mà sinh ra—
tất cả đều được chân ngôn này hoàn toàn tẩy sạch và
nhờ đó trở nên thanh tịnh.
Vì thế, hãy lắng nghe kinh điển
thiêng liêng này!
Tất cả những ai có tâm thanh tịnh và thiện lành,
được trang nghiêm bằng y phục tốt đẹp,
khi lắng nghe kinh này,
cảnh giới thâm sâu của chư Phật
sẽ nhờ oai quang và công đức của kinh này mà...
Họ sẽ được chữa lành
mọi bệnh tật,
kể cả những chứng bệnh nan y nhất;
thọ mạng và phúc đức của họ sẽ tăng trưởng,
và họ sẽ được giải thoát khỏi mọi nghiệp bất thiện!
Hãy lấy một chiếc bình[5]
làm bằng vàng, bạc hoặc các chất liệu tương tự,
rồi đựng đầy trong đó các vật quý báu, châu ngọc, hạt
cải trắng và cỏ dūrvā.[6]
Gỗ đàn hương, thủy tinh,
kim cương, hoa,
và nước.
Hãy buộc vào đó một tấm vải sạch.
Tụng mật ngôn Kim Cương
Tồi Phá (Vajravidāraṇa)
hai mươi mốt lần, hoặc
một trăm lẻ tám lần,
này Đại vương, và thường xuyên dùng đó để thực hiện
việc tắm gội thanh tịnh.[7]
Đây là sự viên mãn của đà-la-ni tên là Kim Cang Tồi Phá (Vajravidāraṇa).
Mật ngôn
(dhāraṇī) này được
trích xuất từ các bản chú giải của đại bậc thầy Padmākara (Liên Hoa Sanh),
Vimalamitra (Vô Cấu Hữu), Buddhaguhya (Phật Bí Mật), Jñānavajra (Trí Tuệ Kim Cang),
Smṛtijñānakīrti và các bậc thầy khác, và hoàn toàn không có sai sót.
| Translated by Samye
Translations (trans. Stefan Mang and
ed. Peter
Woods) 2019, with reference to Mipham Rinpoche’s commentary. Revised with
many thanks to Wiesiek Mical, Drupchen Dorje and Ryan Conlon.
Version: 1.3-20220116
https://www.lotsawahouse.org/words-of-the-buddha/vajravidarana-dharani-nyingma
[1] Theo
chú giải mchan 'grel của Mipham Rinpoche đối với Vajravidāraṇādhāraṇī (rdo
rje rnam par 'joms pa'i gzungs kyi mchan ‘grel - Bản chú thích Kinh/Trì chú
Kim Cương Tồi Phá), khi Đức Như Lai an trụ ở bề ngoài tại tòa Kim Cương dưới
cây Bồ Đề để hàng phục ma quân, thì ở bên trong, Ngài đang an trú trong trí tuệ
kim cương (Kim Cương Trí).
[2] Đây
được gọi là bảy đặc tính của kim cương (rdo rje’i chos bdun).
[3] Các
bản chú giải phân biệt giữa các minh chú thế gian (worldly vidyā-mantras /
rig sngags) — tức là các bùa chú — cần phải lánh xa/vô hiệu hóa, và các
minh chú xuất thế gian (transcendent) — phương tiện cốt lõi để đạt được
'tri kiến mật truyền' — cần phải thực hành/thực hiện.
[4] Spirits
(bhūtas, ‘byung po) ↑
[5] Trong
hệ thống thực hành Mật tông (Kim Cương thừa), nghi lễ bình (vase ritual
/ tiếng Tây Tạng: bum pa'i cho ga)
là một pháp hành cốt lõi, thường được sử dụng để tích lũy công đức, chữa bệnh,
xua đuổi chướng ngại và đặc biệt là thanh tịnh hóa (tẩy tịnh) cấu uế cho hành
giả thông qua dòng nước cam lộ được quán tưởng và gia trì từ Bản tôn trong
bình.
[6] Dūrvā-grass
(tiếng Phạn: dūrvā, chữ Phạn: दूर्वा,
tên khoa học: Cynodon dactylon) chính là cỏ mần trầu hoặc cỏ
chỉ (cỏ ống) theo cách gọi tại Việt Nam. Trong tiếng Anh, nó còn được biết
đến với tên gọi là Bermuda grass.
[7] Mipham
Rinpoche xác định người nhận lời hướng dẫn về nghi lễ bình cam lộ là Vua
Indrabhūti.


