Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2026

SƯ TỬ DIỆN KHÔNG HÀNH MẪU

 Siṃhamukhā, Lion-Faced Ḍākinī

The Secret Female Practice from the Heart-Essence of the Vast Expanse
Tác giả:  Jigme Lingpa
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển



***
Tại nghĩa địa
của sự giải thoát tám thức,
Bậc Đại sĩ Padma đã được phó thác
Giáo pháp này bởi không hành nữ của không gian bản nhiên,
Thông qua âm thanh của pháp tánh, các tia sáng của pháp tánh
Vào mạn-đà-la của bầu không gian quang minh thuộc pháp tánh.

Đối với mạn-đà-la bột đỏ (sindūra):
Hãy thiết lập một hình Pháp Nguyên liên hoa bất nhị (ngôi sao sáu cánh bao quanh bởi các cánh hoa sen),
Được vây quanh bởi các bãi tha ma, vòng rào kim cương và núi lửa.
Thạch anh đặt ở tâm điểm và gương soi ở vùng biên quy.[1]
Bày biện các vật phẩm cúng dường bên trong và các thệ nguyện vật xuất sắc.

1. Quy Y và Phát Bồ Đề Tâm

Hoḥ. Con xin quy y nơi Đức Phổ Hiền Như Lai và Phật Mẫu — tánh thanh tịnh của tâm và vạn pháp —
Với sự liễu tri rằng hiện tướng và tánh không là bất khả phân.
Con xin phát Bồ đề tâm, với lòng bi mẫn quảng đại hướng về chúng sinh
Và từ nội tại của tánh như chân thật thuộc về pháp tánh.

2. Bánh Torma Sơ Khởi (Preliminary Torma)

Hūṃ.
Trong bản tánh giác ngộ (Phật tánh), vốn không có cái gọi là chướng ngại
Hay chân lý về khổ đau.
Thế nhưng, từ những vọng niệm ngẫu sinh
Mà nguồn gốc của khổ đau xuất hiện dưới dạng mê lầm và ma chướng.
Hỡi tất cả các ngươi, hãy nhận lấy bánh torma này
Và rời đi — sang bờ bên kia của đại dương!

Trì tụng mantra với bốn tự mẫu hūṃs:

om sumbhani sumbhani hung | grihana grihana hung | grihanapaya grihanapaya hung | anaya ho bhagawan bidyaraza hung pé

oṃ sumbhani sumbhani hūṃ | gṛhṇa gṛhṇa hūṃ | gṛhṇāpaya gṛhṇapāya hūṃ | ānaya ho bhagavān vidyārāja krodha hūṃ phaṭ

3. Vòng Rào Bảo Hộ

Hūṃ. Vọng tưởng khởi từ tâm, nhưng tự tánh của chúng là vô sinh.
Từ năng lượng quang minh bất đoạn của tâm khởi hiện vòng rào bảo hộ mang bảy công đức kim cang —
Chính là đại tự tánh viên thành thật
Nơi chẳng thể bị tổn hại bởi các loài ma chướng thuộc về tự tánh y tha khởi và biến kế sở chấp.

དྷརྨ་དྷཱརྟུ་བཛྲ་རཀྵ༔

dharmadhatu benza raksha

dharmadhātu vajra rakṣa

4. Gia Trì Vật Phẩm Cúng Dường

Hoḥ. Bản chất của mọi hiện tượng thuộc thế giới tục đế,
Các vật phẩm cúng dường năm giác quan — sự hợp nhất giữa phương tiện và trí tuệ,
Đều được gia trì để trở thành cam lộ dược, torma và rakta (huyết cúng dường)
Và biến thành những phẩm vật cúng dường truyền thống, tựa như những tầng mây cúng dường của Đức Phổ Hiền.

ཨོཾ་རཱུཔ་ ཤབྟ་ གནྡྷེ་ རཱ་ས་ པཪྴེ་

om rupa shabta gendhé rasa parshé

oṃ rūpa śabda gandhe rāsa sparśa

ཨརྒྷཾ་ནས་ཤབྟ་དྷརྨ་དྷཱརྟུ་ཨཱ༔ཧཱུྃ༔

argham padam pupé dhupé aloké gendhé nevidé shabta dharmadhatu a hung

arghaṃ pādyaṃ puṣpe dhūpe āloke gandhe naivedye śabda

ཨོཾ་མ་ཧཱ་པཉྩ་ཨ་མྲྀ་ཏ་ཨཱ༔ཧཱུྃ༔

om maha pentsa amrita a hung

oṃ mahā pañcāmṛta āḥ hūṃ

ཨོཾ་མ་ཧཱ་རཀྟ་ཨཱ༔ཧཱུྃ༔

om maha rakta a hung

oṃ mahā-rakta āḥ hūṃ

ཨོཾ་མ་ཧཱ་བྷ་ལིཾ་ཏ་ཨཱ༔ཧཱུྃ༔

om maha bhalimta a hung

oṃ mahā balimta āḥ hūṃ

Thus bless the offerings with the mantras of the medicine, rakta and torma.

5. Thiền Quán Bổn Tôn Yoga Khế Hợp Với Sự Thanh Tịnh Toàn Vẹn

Āḥ. Từ ba tam-ma-địa (tam muội) là tánh không,
Vô tướng và vô nguyện,
Trong bầu không gian của kim cang vương mẫu thuộc sự giải thoát hoàn toàn,
Khởi hiện một hình tướng quang minh tánh không của một Pháp Nguyên liên hoa bất nhị (ngôi sao sáu cánh).

Tại tâm điểm, trong tim sen trên tòa nhật nguyệt — đại diện cho phương tiện và trí tuệ,
Là một chủng tử tự A vô sinh, bất hoại,
Chủng tử này tự chuyển hóa thành "thể bình trẻ trung" tự tánh tự khởi
Của Đức Vô Ngã Phật Mẫu (Nairātmya), hiện tướng nhưng tánh không, với tất cả các giác quan vẹn toàn viên mãn.

Thân tướng của Ngài màu xanh dương, sắc màu của pháp tánh bất động.
Ngài mang đầu sư tử, nuốt chửng ba cõi (tam giới).
Tay phải Ngài cầm dao cong, chặt đứt tánh nhị nguyên.
Tay trái Ngài nâng bát sọ người chứa đầy máu, tận diệt sinh tử từ tận gốc rễ.

Tựa trên khuỷu tay Ngài là cây trượng khát-vạn-ga (khaṭvāṅga) với chùy kim cương ba chấu.
Trượng được trang hoàng bằng trống nhỏ (damaru) và chuông linh, hoàn hảo trong cấu trúc,
Và là bất khả phân với nam phối ngẫu — phương tiện thiện xảo tối cao của đại lạc.
Ngài có hai chân, chân phải co lại, phong tỏa các cửa ngõ tái sinh trong luân hồi (saṃsāra),
Và chân trái duỗi ra, oai nghiêm và nhiếp phục bốn loài ma (tứ ma).

Ngài khoác trên mình các trang sức bằng xương, biểu thị cho sự viên mãn của sáu ba-la-mật-đa (lục độ),
Và đội vương miện sọ khô được trang hoàng bằng năm khế ấn.
Ngài đeo một tràng chuỗi sọ người, biểu trưng cho sự thanh tịnh của năm mươi tâm sở,
Và đắp một tấm da sư tử, chặt đứt tận gốc rễ của lòng kiêu mạn.

 Trên sáu nan hoa là sáu vị bổn tôn lai, biểu trưng cho sự thanh tịnh của lục căn và lục trần,
Theo chiều kim đồng hồ và bắt đầu từ phía trước, các Ngài là:
Nữ Thần Đầu Chim Mù, sắc đen và không bám chấp vào sắc tướng;
Nữ Thần Đầu Chim Khách, sắc xanh dương đậm và không bám chấp vào âm thanh;
Nữ Thần Đầu Ngỗng, sắc cam và không bám chấp vào mùi hương;
Nữ Thần Đầu Chim Mu, sắc xanh lá đậm và không bám chấp vào mùi vị;
Nữ Thần Đầu Chim Cốc, sắc đen và không bám chấp vào xúc chạm;
Và Nữ Thần Đầu Kền Kền, sắc trắng và tự tại du hý trong không gian bản nhiên của vạn pháp.
Tất cả các Ngài đều cầm một con dao cong chặt đứt tánh nhị nguyên
Và một bát sọ người chứa đầy máu để hòa nhập tham lam và sân hận vào không gian bản nhiên.
Oai nghiêm đứng trong tư thế chiến sĩ trên tử thi của tánh vô phân biệt (vô tưởng),
Các Ngài ở trong thân tướng khỏa thân, được trang hoàng bằng các thứ trân bảo và năm khế ấn.

 Trên các cánh hoa sen là ba mươi hai không hành nữ (ḍākinīs),
Được vây quanh bởi các loài linh thần kiṃkara, laṅkā, các nữ thần īśvarī và các địa mẫu Tenma.
Với bốn khế ấn (mudrās) và ở trong trạng thái của ba kim cang (Thân - Khẩu - Ý),
Các Ngài đầy oai lực, thần thông và được ấn chứng bằng một nửa chùy kim cang (bán kim cang).
Vô sinh và tự tánh tự khởi, tất cả đều được quán tưởng như là đại tự tánh viên thành thật.

6. Thỉnh Mời

Hūṃ. Mặc dù trong tánh như của không gian bản nhiên, bậc đại giản đơn,
Chẳng có khái niệm về sự đến hay lời thỉnh mời đến,
Nhưng từ sự hiển hiện của Sắc thân (Rūpakāya) — hiện tướng của lòng bi mẫn,
Xin Ngài hãy giáng lâm nơi đây, trong sự hợp nhất bất khả phân vĩ đại giữa Thệ nguyện tôn (Samaya-being) và Trí tuệ tôn (Wisdom-being).

ཨོཾ་སེང་ཧ་མུ་ཁ་ཧཱུྃ་ཧ་ཧེ་ཕཊ་ཛ༔

om senghamukha hung ha hé pé dza

oṃ siṃhamukhā hūṃ ha he phaṭ jaḥ

7. Thỉnh Các Vị Bổn Tôn An Tọa

Hūṃ. Mặc dù từ bản sơ, Thệ nguyện tôn và Trí tuệ tôn vốn không hề nhị nguyên,
Nhưng để tịnh hóa và gột sạch các khách trần vọng tưởng
Thông qua sự định tâm vào việc viên mãn hiện tướng rõ ràng như những Phật thân của các Bổn tôn,
Nguyện xin trí tuệ quang minh của tuệ giác thấu suốt vững bền an trú.

བཛྲ་ས་མ་ཡ་ཏིཥྛ་སྭཱཧཱ༔

benza samaya tishta soha

vajra-samaya tiṣṭha svāhā

8. Đảnh Lễ

Hūṃ. Từ Pháp thân (Dharmakāya) vô sinh, một nguồn năng lượng quang minh bất đoạn bùng tỏa,
Khởi hiện thành vị Báo thân (Saṃbhogakāya) Sư
Diện Không Hành Nữ (Siṃhamukhā).
Trong uy vũ phẫn nộ (kiêu hãnh) của Ngài, Ngài chính là đấng tận diệt tâm ngã chấp:
Với sự đảnh lễ bằng việc trực nhận thực tướng (kiến tính), con xin dập đầu đỉnh lễ Ngài!

ཨ་ཏི་པུ་ཧོ༔ པྲ་ཏཱི་ཙྪ་ཧོ༔

ati pu ho | pratitsa ho

atipu hoḥ | pratīccha hoḥ

9. Cúng Dường

Hoḥ. Hiện tướng viên mãn như chư Phật là Đại thủ ấn (mudrā) cúng dường;
Âm thanh viên mãn như trì tụng mật chú là bản kim cương liên khúc;
Hương thơm tối thượng của giới luật là mùi hương của hươu xạ;[2]
Sáu vị ngon là các diệu dục giác quan của hội đàn gaṇacakra;
Và xúc chạm được thọ nhận như đại lạc kim cang trong không gian bản nhiên
Vốn là cội nguồn của vạn pháp, bầu không gian của kim cang vương mẫu;
Sự hợp nhất của E và Vam, cam lộ dược, torma và rakta (huyết cúng dường),
Cùng các tia sáng của Bồ đề tâm, tất cả đều bùng tỏa tựa như những tầng mây cúng dường của Đức Phổ Hiền:
Xin hãy nạp thọ lễ cúng dường vĩ đại, hoan hỷ này, vượt thoát mọi bám chấp dự phần hay khước từ!

ཤྲཱི་བཛྲ་སེང་ཧ་མུ་ཁ་རཱུ་པ༔ ཤབྟ་གྷནྡྷེ་རཱ་ས་པཪྴེ་ཨརྒྷཾ་པཱ་དྱཾ་པུཥྤེ་དྷཱུ་པེ་ཨཱ་ལོ་ཀེ་གནྡྷེ་ནེ་ཝི་ཏྱ་ཤབྟ་སརྦ་པཉྩ་རཀྟ་བྷ་ལིཾ་ཏ་དྷརྨ་དྷཱརྟུ་ཧོ༔

shri benza sengha mukha rupa shapta ghendhé rasa parshé | argham padam pupé dhupé aloké gendhé nevidé shabta | sarva pentsa rakta bhalingta dharmadhatu ho

śrī-vajra siṃhamukhā rūpa śabda gandhe rāsa sparśa | arghaṃ pādyaṃ puṣpe dhūpe āloke gandhe naivedye śabda | sarva pañca rakta baliṅta dharmadhātu hoḥ

10. Tán Thán

Hūṃ. Tự tánh của Ngài là đại lạc, vậy mà Ngài lại thị hiện dưới nhiều hình tướng khác nhau.
Với tiếng gầm sư tử của tánh vô ngã, Ngài nhiếp phục tâm bám chấp vào cái tôi.
Ngài hòa nhập mọi khái niệm về chủ thể và hành động vốn trói buộc vào tâm và vạn pháp
Vào trong không gian bản nhiên được trang nghiêm bằng vô thượng công đức — con xin kính cẩn đảnh lễ Ngài!

Hiện tướng và tánh không bất khả phân, hỡi Kim Cang Vương Mẫu của Không Gian Bản Nhiên:
Ngài nâng tay cầm dao cong và bát sọ người để hòa nhập tham lam và sân hận vào không gian bản nhiên
Cùng cây trượng khát-vạn-ga (khaṭvāṅga) chặt đứt tận gốc rễ của các căn trần,
Và vị nam phối ngẫu của phương tiện thiện xảo tối cao mà Ngài vốn là bất phân — con xin dâng lời tán thán Ngài!

Mọi nhóm tâm thức, cùng nhân và quả của sự sinh khởi luân hồi (saṃsāra),
Đều hòa nhập vào bầu không gian đại lạc vượt thoát năng sở (chủ thể và đối tượng) —
Đến các Ngài, sáu vị nữ thần lai của không gian bản nhiên thuộc về trí tuệ,
Những bậc chủ tể của hai mươi tư thánh địa, con xin dâng lời tán thán!

11. Trì Chú

Định tâm quán tưởng vào vị Bổn tôn chính là giai đoạn Năng cận (Năng tu);
Định tâm quán tưởng vào vị Bổn tôn chính cùng quyến thuộc của Ngài là giai đoạn Cận cận (Thân cận).
Tinh tấn trì tụng mật chú là giai đoạn Thành tựu,
Và sự bùng tỏa cùng thâu nhiếp các tia sáng chính là giai đoạn Đại thành tựu.
Tại tâm luân của con, trên tòa đĩa mặt trời là chủng tử tự Hūṃ,
Được bao quanh bởi chuỗi mật ngôn
Năng cận, vi tế tựa như một sợi tóc.

ཨོཾ་བཛྲ་སིངྷ་མུ་ཁ་ཧཱུྃ་ཧ་ཧེ་ཕཊ༔

om benza singhamukha hung ha hé pé

oṃ vajra siṃhamukhā hūṃ ha he phaṭ

Để đủ điều kiện thực hành các hoạt động (nghi quỹ/pháp tu), hãy trì tụng thần chú một trăm nghìn lần cho mỗi âm tiết của thần chú.[3]
Nếu giai đoạn tiếp cận (approach phase) được tính theo thời gian, thì thời lượng thực hành sẽ bằng khoảng thời gian đó nhân lên bốn lần.[4]

Hãy quán tưởng thần chú thành tựu xoay ngược chiều kim đồng hồ như một thanh củi đang cháy đỏ được quay tròn, phát ra những tia lửa lửa tung tóe.

 

ཨ༔ཀ༔ས༔མ༔ར༔ཙ༔ཤ༔ད༔ར༔ས༔མ༔ར༔ཡ༔ཕཊ྄༔

a ka sa ma ra tsa sha da ra sa maraya pé

a ka sa ma ra ca śa da ra sa māraya phaṭ

Các tia sáng bùng tỏa ra ngoài, dâng vật phẩm cúng dường lên các bậc Chiến Thắng (chư Phật),
Rồi thâu nhiếp ngược trở lại lực gia trì và các thành tựu của các Ngài.
Một lần nữa các tia sáng lại tỏa ra, tịnh hóa nghiệp lực và các phiền não tàn phá của chúng sinh.
Những kẻ thù của sự bám chấp vào sáu trần như là các hiện tượng phàm tình
Cùng các thế lực chướng ngại của chủ thể năng sở và các tư duy vọng tưởng
Đều được gột sạch vào trong môi trường và chúng sinh của sự thanh tịnh toàn vẹn.


Tổng số biến trì tụng, dựa trên số lượng hoặc thời gian, đều tuân theo như trước.
Một dấu hiệu cho thấy bạn đã viên mạn giai đoạn Năng cận
Là bạn sẽ thuần thục (chứng ngộ) để trở thành một trong bốn bực Trì Minh Vương (Vidyādharas).
Pháp hành trì (Nghi thức kết nguyện được thực hiện theo bản văn chính của Phật Mẫu Yumka).

Các Giai Đoạn Kết Nguyện: Tiệc Cúng Dường và Sự Viên Mãn

Trong tất cả các phương pháp để tích lũy công đức, hội đàn gaṇacakra (tiệc cúng dường) là tối thắng. Các thệ nguyện vật (samaya substances) có năng lực thu hút các không hành nữ (ḍākinīs), và đặc biệt là các vật phẩm cúng dường bên trong, cần phải được sắp đặt một cách hoàn hảo.

Gia Trì Vật Phẩm Tiệc Cúng

Hoḥ! Trong chiếc đồ hình diệu kỳ của đại lạc,
Những phẩm vật tuyệt hảo của tiệc cúng dường (gaṇacakra) đã được bày biện,
Đều là những thệ nguyện vật (samaya substances) vượt thoát mọi bám chấp dự phần hay khước từ.
Bằng việc trì tụng Oṃ Āḥ Hūṃ, tất cả được chuyển hóa thành cam lộ dược (amṛta).

Dâng Phẩm Vật Tiệc Cúng (Gaṇacakra)
Chia phần đầu tiên của phẩm vật tiệc cúng thành ba phần.
Hūṃ! Cõi Vô Thượng (Akanishta) cùng các cõi thiên giới khác,
Những thánh địa nơi các bậc dũng sĩ[5] (dakas) và không hành nữ (ḍākinīs) hội tụ,
Cùng hai mươi tư trú xứ biến hiện[6],
Về mặt nội tại, tất cả chính là những thành trì trong thân kim cang (vajra body) của chúng ta.

Tâm Luân[7] (Mạch Luân Của Tâm)

Đỉnh đầu là thánh địa Jālandhara[8],
Điểm giữa hai chân mày là thánh địa Pullīramalaya[9],
Các kinh mạch và đại chủng ở sau gáy là thánh địa Arbuda,
Bạch hào[10] (lông trắng giữa hai chân mày) là thánh địa Rāmeśvara,
Tai phải là vùng đất Uḍḍiyāna (Ô-trượng-na),
Tai trái là cõi giới Godāvarī,
Hai mắt là thánh địa Devīkoṭa,
Và hai vai là thánh địa Mālava. Hỡi các Ngài, những bậc đang cư ngụ tại tám trú xứ này —

Hỡi các bậc Dũng sĩ và các bậc Nữ hành giả (Yoginīs),
Các Không hành nam
(Ḍākas) và các Không hành nữ (Ḍākinīs) —
Xin hãy giáng lâm và thọ nhận tiệc cúng dường này!
Những búi tóc trên đỉnh đầu các Ngài khẽ lay động,
Những lọn tóc dài đong đưa qua lại,
Những chiếc khuyên tai, vòng chân và vòng tay ngân vang lách cách,
Những trang sức bằng xương kêu lách cách, những chiếc chuông nhỏ reng vang,
Hòa cùng tiếng vang vọng của trống sọ nhỏ (Damaru) và chuông linh,
Xin hãy hoan hỷ thọ nhận những khúc kim cang ca và những điệu vũ của chúng con!

Chúng con xin dâng lên các Ngài sự thọ nhận các diệu dục giác quan này như một tiệc cúng!
Chúng con xin sám hối về những khiếm khuyết đối với các thệ nguyện samaya!
Xin hãy giải thoát các chướng ngại bên ngoài và bên trong vào bầu không gian bao hàm tất cả!
Xin hãy ban cho chúng con các thành tựu tối thắng và thông thường!

Khẩu Luân[11] (Mạch Luân Của Lời Nói)
Báo luân[12] (Mạch luân thọ hưởng ở cổ họng) là thánh địa Lampāka,
Hai nách và hai cật (thận) là thánh địa Kāmarūpa,
Hai bầu ngực là thánh địa Oḍra,
Luân xa rốn là thánh địa Triśakuni,
Đầu mũi là thánh địa Kośala,
Vòm họng là vùng đất Kaliṅga[13],
Và tâm luân (trái tim) là thánh địa Kāñcī,
Cùng dãy núi Himālaya[14]. Hỡi các Ngài, những bậc đang cư ngụ tại tám trú xứ này —
Các bậc Dũng sĩ và các bậc Nữ hành giả (Yoginīs),
Các Không hành nam
(Ḍākas) và các Không hành nữ (Ḍākinīs) —
Xin hãy giáng lâm và thọ nhận tiệc cúng dường này!

Tóc búi trên đỉnh đầu của Ngài đung đưa,
Mái tóc dài tung bay qua lại,
Khuyên tai, vòng chân và vòng tay ngân vang,
Những trang sức bằng xương va chạm lách cách, những chiếc chuông nhỏ reo ngân,
Trống sọ nhỏ và chuông cùng hòa tiếng vọng,
Xin hoan hỷ với những khúc ca kim cương và điệu vũ của chúng con!

Chúng con dâng lên Ngài sự thọ hưởng những lạc thú của các giác quan này như một cúng phẩm tiệc hội (gaṇacakra/feast)!
Chúng con sám hối những khiếm khuyết và vi phạm đối với samaya (tam-muội-da, giới nguyện mật thừa)!Xin giải thoát mọi chướng ngại bên ngoài và bên trong vào trong không gian bao la vô ngại!
Xin ban cho chúng con các thành tựu tối thượng và các thành tựu thông thường!

Thân Luân [15](Mạch Luân Của Thân)

Cơ quan sinh dục là vùng đất Pretapurī,
Hậu môn là vùng đất Gṛhadevatā,[16]
Các ngón chân cái là thánh địa Maru và hai đùi là thánh địa Saurāṣṭra,
Hai bắp chân là vùng đất Suvarṇadvīpa (Kim Châu),
Mười sáu ngón tay và ngón chân là thánh địa Nagara,[17]
Hai đầu gối là thánh địa Kulatā,
Và hai cổ chân là vùng đất Sindhu. Hỡi các Ngài, những bậc đang cư ngụ tại tám trú xứ này —
Các bậc Dũng sĩ và các bậc Nữ hành giả (Yoginīs),
Các Không hành nam
(Ḍākas) và các Không hành nữ (Ḍākinīs) —
Xin hãy giáng lâm và thọ nhận tiệc cúng dường này!

Tóc búi trên đỉnh đầu của Ngài lay động,
Mái tóc dài đung đưa qua lại,
Khuyên tai, vòng chân và vòng tay ngân vang,
Những trang sức bằng xương va chạm lách cách, những chiếc chuông nhỏ reo ngân,
Tiếng trống sọ nhỏ và tiếng chuông cùng vang vọng,
Xin hoan hỷ với những khúc ca và điệu vũ Kim Cương của chúng con!

Chúng con dâng lên Ngài sự thọ hưởng những lạc thú của các giác quan này như một tiệc hội cúng dường (gaṇacakra).

Chúng con sám hối những tổn khuyết và vi phạm đối với samaya (giới nguyện Mật thừa).

Xin giải thoát mọi chướng ngại bên ngoài và bên trong vào trong không gian bao trùm tất cả.

Xin ban cho chúng con các thành tựu tối thượng và các thành tựu thông thường.

Sám Hối
Để bổ sung một pháp hành trì viên mãn vào tiệc cúng dường, hãy trì tụng đoạn sau:
Hoḥ! Hỡi hội chúng trí tuệ không hành nữ (ḍākinīs), xin hãy đoái hoài đến con!
Dưới sự chi phối của tham lam, sân hận và si mê (tam độc),
Con đã phạm phải những lỗi lầm về thân, khẩu và ý, những điều mà con xin công khai phát lộ và sám hối.
Do chịu sự ảnh hưởng của Hạ thừa (giáo lý thấp hơn),
Con đã không thể thực chứng được chân lý đích thực, điều mà con xin công khai thừa nhận và sám hối.

Bởi con kém thiếu lòng bi mẫn và bị sân hận chi phối,
Con đã không thể hành động vì lợi lạc của chúng sinh, điều mà con xin công khai thừa nhận và sám hối.
Do chịu sự ảnh hưởng của lười biếng và dã dại (ngủ gà),
Con đã rời xa thiền định và pháp hành trì, điều mà con xin công khai thừa nhận và sám hối.
Do chịu sự ảnh hưởng của bỏn xẻn và ích kỷ,
Con đã không thể thực hiện các lễ cúng dường hàng tháng hay hàng năm, điều mà con xin công khai thừa nhận và sám hối.
Do chịu sự ảnh hưởng của kiêu mạn và ngạo nghễ,
Con đã làm tổn hại đến Thân, Khẩu, Ý của vị Thầy (Guru), điều mà con xin công khai thừa nhận và sám hối.
Do kém thiếu tình thương và lòng từ
bi,
Con đã làm phiền lòng bạn bè cùng những người huynh đệ tỷ muội đồng tu, điều mà con xin công khai thừa nhận và sám hối.
Do chịu ảnh hưởng từ những người bạn xấu ác,
Con đã làm ô nhiễm phần phẩm vật đầu tiên và biến nó thành đồ dư thừa, điều mà con xin công khai thừa nhận và sám hối.
Qua lỗi lầm làm hạ thấp phẩm vật đầu tiên và biến nó thành đồ dư thừa,
Con đã làm phiền lòng những bậc thọ nhận phần phẩm vật đầu tiên, điều mà con xin công khai thừa nhận và sám hối.
Do đã làm phiền lòng những bậc thọ nhận phần phẩm vật đầu tiên,
Con đã phải gánh chịu quả báo khắc nghiệt theo mật lệnh của các không hành nữ (ḍākinīs), điều mà con xin công khai thừa nhận và sám hối.
Khi thực hiện pháp giải thoát, do lòng bi mẫn của con quá ít ỏi,
Con đã thiếu năng lực để đưa chúng sinh đến một cõi giới tốt đẹp hơn, điều mà con xin công khai thừa nhận và săn hối.
Do không thể giải thoát các phiền não,
Con đã biến chúng thành những chướng ngại kiên cố lâu dài, điều mà con xin công khai thừa nhận và sám hối.
Trong quá trình thực hành pháp song vận, do sự định tâm thiền định của con thiếu năng lực,
Con đã làm phiền lòng vị phối ngẫu của mình, điều mà con xin công khai thừa nhận và sám hối.
Do đã làm phiền lòng vị phối ngẫu,
Con đã khởi tâm bám chấp và tạo ra nhân tái sinh trong luân hồi (saṃsāra), điều mà con xin công khai thừa nhận và sám hối.
Giờ đây khi con đã thành tâm sám hối, nguyện xin các Ngài ban cho con các thành tựu về Thân, Khẩu, Ý giác ngộ!

Bằng cách sám hối từ tận đáy lòng, những lỗi lầm và sự đứt gãy đối với thệ nguyện samaya sẽ đều được hoàn phục (phục hồi hoàn toàn).

Hồi Hướng Phẩm Vật Dư Thừa
Phun nước bọt lên phần phẩm vật dư thừa.[18]

ཨོཾ་ཨཱ་ཀཱ་རོ་མུ་ཁཾ་སརྦ་དྷརྨ་ནཱཾ་ཨཱ་དྱ་ནུ་ཏྤནྣ་ཏྭ་ཏ་ཨོཾ་ཨཱཿཧཱུྃ་ཕཊ་སྭཱ་ཧཱ༔

om akaro mukham sarva dharmanam adyanutpannatota om ah hung pé soha

oṃ ākāro mukhaṃ sarvadharmānām ādyanutpannatvāt oṃ āḥ hūṃ phaṭ svāhā

Peṃ! Hỡi tất cả các vị thị giả thọ nhận phần đồ dư và thực thi mật lệnh:
Ba mươi hai vị không hành nữ (ḍākinīs),
Bậc đại Kim Cang Nhi
(kiṃkara) cùng phối ngẫu và hàng trăm nghìn Lăng-già Quỷ Thần (laṅkā spirits),
Ba trăm sáu mươi bộ tộc quỷ thần truyền lệnh,
Tứ Đại Tốc Thần và Bát Đại Sí Thần,
Thất Đại Mẫu Thần và Tứ Tỷ Muội Hộ Pháp,
Cùng các loài linh thần phẫn nộ, du hành và các vị thần lai [19]
Các Ngài là những bậc thọ nhận vật phẩm dư thừa và tuần du khắp các hội đàn,
Xin hãy nạp thọ phần phẩm vật dư thừa tuyệt hảo này!
Xin hãy xua tan mọi nghịch duyên, hoàn cảnh tiêu cực và ma chướng!
Nhiếp phục và thành tựu các mật hạnh đã được giao phó, đây là lời cung thỉnh của chúng con!

Mang phẩm vật dư thừa ra bên ngoài.
Hūṃ! Xin hãy trỗi dậy, hỡi tất cả các vị Bản tôn trong chúng hội không hành nữ!
Từ không gian bản nhiên bao hàm vạn pháp (Pháp giới), xin hãy hiển hiện trong các sắc thân!
Hãy đập tan mọi chướng ngại trên con đường thành tựu giác ngộ của chúng con!
Hãy ngăn chặn sự suy thoái của các đại chủng nơi môi trường và trong tâm thức chúng sinh!
Hãy chữa lành mọi sự suy yếu trong hệ thống kinh mạch, phong khí (năng lượng gió) và sự tỉnh giác bản nhiên của chúng con![20]
Nguyện xin cho pháp hành trì của chúng con sớm đơm hoa kết trái!

Khởi phát thệ nguyện

Hūṃ! Trong trạng thái hằng hữu siêu việt ba thời,
tại thanh tịnh tự hiển hiện của cõi Vô Thượng,
Ngài – bậc Thầy cùng quyến thuộc của ba tòa viên mãn,
đã chuyển bánh xe Pháp bất hoại cực kỳ mật nhiệm.
Ba cõi của chư thiên vốn tự do khỏi sự bám chấp vào các hiện tượng là chân thật,[21]
được tuyên thuyết là nơi khởi nguồn của các bộ tantra.
Trong tri kiến của những hóa thân đệ tử có phúc duyên,
các giáo pháp mật tông xuất hiện một cách tự nhiên.
Vào một dịp như thế, tại hồ Tsogyal Latso gần Dragda,[22]
tâm thức của Đấng Rangjung Dorje[23] vinh hiển
đã được các ḍākinī của ba nơi (thân, khẩu, ý) ban phước.
Không chút dính mắc hay bám chấp, Ngài đã giải mã các ký tự biểu tượng
 và khai lộ kho tàng dung chứa vô tận này. Ngay lập tức,
 mọi ảo tưởng đều được tịnh hóa vào trong nền tảng (thanh tịnh nguyên sơ).
Duy trì Mối hệ thuộc với Mười hai Nữ thần Tenma[24]

Hūṃ! Các vị quyến thuộc vâng lệnh Đấng Vinh Hiển, hộ trì cõi đất Tây Tạng,
Hàng Mẫu Thần (Mātṛkā) và các chị em — Mười hai Nữ thần Tenma,
Xin hãy vân tập và nạp thọ nước sái tịnh torma này,
Và viên thành các hoạt động (Phật sự) mà chúng con thỉnh cầu!

མ་མ་ཧྲིཾ་ཧྲིཾ་བྷ་ལིངྟ་ཁཱ་ཧི༔

ma ma hring hring balingta khahi

ma ma hriṃ hriṃ baliṅ te khāhi

Vũ điệu Kim Cang Mã bộ (Mã Vũ)

Hūṃ! Trong đàn tràng maṇḍala của trí tuệ ḍākinī này,
Tất cả những loài linh thức
khiến chúng con phá vỡ thệ nguyện samaya và dẫn dắt chúng con vào đường lầm lạc,[25]
Đều bị trấn áp, chôn vùi bên dưới dấu
ấn của chín cỗ xe giáo pháp (Cửu thừa).
Nguyện cho chúng không bao giờ có thể trỗi dậy được nữa!

སྟྭཾ་བྷ་ཡ་ནན༔

tom bhayanen

sthaṃ bha ya nen

Trì tụng những việc cúng dường và cầu nguyện ở đây.

Nạp thọ các Thành tựu (Siddhi)

Hoḥ! Ngay lúc này, chính trong buổi sáng hôm nay,
các thệ nguyện samaya của pháp tu hành trì ḍākinī đã viên mãn!
Giờ đây, thời khắc ban truyền các thành tựu cho chúng con đã đến!
Từ đàn tràng maṇḍala của trí tuệ nguyên sơ vô trụ,
Xin hãy ban cho chúng con sự hợp nhất với thân, khẩu, ý giác ngộ của Ngài, cùng mười lực và các năng lực mạnh mẽ —
Ngay bây giờ, chính trong quốc độ khoảnh khắc này!

ཨོཾ་བཛྲ་སེང་ཧ་མུ་ཁ་ཧཱུྃ་ཧ་ཧེ་ཕཊ྄་བཛྲ་ཀཱ་ཡ་ཝཱཀྐཱ་ཙིཏྟ་སརྦ་སིདྡྷི་ཕ་ལ་ཧོ༔

om benza senghamukha hung ha hé peé benza kaya waka tsita sarva siddhi pala ho

oṃ vajra-siṃhamukhā hūṃ ha he phaṭ vajra-kāya-vāk-citta-sarva-siddhi-phala hoḥ

Các vật phẩm thành tựu (siddhi) được nếm thử, sau đó chạm vào ba nơi (trên thân).

Sám hối Lỗi lầm trong Hành trì
Hūṃ!
Trong đàn tràng maṇḍala của trí tuệ ḍākinī này,
Nếu phẩm vật cúng dường của chúng con chưa vẹn toàn, sự hành trì còn lơ là xao nhãng,
Hay việc thiền định bị dã dượi, hôn trầm hoặc thiếu đi sinh khí,
Cúi xin Ngài từ bi bao dung và tha thứ cho mọi lỗi lầm, vọng tưởng ấy.

(Tụng trì Chú Trăm Chữ / Thần chú Bách Tự Minh)

ཨོཾ་བཛྲ་སཏྭ་ས་མ་ཡ༔ སོགས་བརྗོད༔

om benza sato samaya…

oṃ vajrasattva samayam…

Giai đoạn Viên mãn
Hoḥ
. Như bọt nước hiện rồi tan trên dòng suối,
Các bổn tôn của mạn-đà-la tự hiển hiện
Tan hòa trở lại vào không gian của trí tuệ nguyên sơ — vajra muḥ!
Trong trạng thái sau thiền định (hậu đắc trí), mọi hiện tượng đều khởi lên như sắc tướng huyễn hóa của bổn tôn.

Hồi hướng Công đức

Hoḥ! Trong mạn-đà-la của tuệ trí không hành nữ (ḍākinī),
Bằng việc thực hành các giai đoạn sinh khởi, viên mãn và trì tụng,
Bất kỳ cội nguồn công đức nào con có được
Con xin hồi hướng cho sự giác ngộ của tất cả chúng sinh!

Nguyện ước (Phát nguyện)

Hoḥ! Tất cả những gì hiển hiện và tồn tại đều là cõi tịnh độ và
Vajrayoginī (Kim Cang Du Già Nữ), đại lạc bất biến.
Vajravārāhī (Kim Cang Hợi Mẫu), đấng thực sự được ban phước với những phẩm tính tối thượng nhất,
Nguyện cho chúng con được diện kiến chân diện mục của Ngài và chứng đắc giác ngộ!

Cầu nguyện Cát tường
Hoḥ!
Nhờ sự gia trì của dòng truyền thừa các bậc trì minh vương (vidyādharas),
Và nhờ chân lý của Phật, Pháp và Tăng,
Cùng sự tương tùy cát tường của Mật ngôn
thừa thâm diệu:

Nguyện cầu mọi điều kiết tường, để tức tai tám nỗi sợ hãi!
Nguyện cầu mọi điều kiết tường, để tăng trưởng thọ mạng và công đức!
Nguyện cầu mọi điều kiết tường, để hoài phục mọi tri giác!
Nguyện cầu mọi điều kiết tường, để tịnh trừ các thế lực tiêu cực, mê lầm!
Với mọi bám chấp vào tri giác đều được chuyển hóa và viên mãn thành sắc tướng của bổn tôn,
Mọi âm thanh đều được thanh tịnh hóa thành đại lạc của chân ngôn,
Mọi tư tưởng đều được chín muồi thành quang minh của pháp thân —
Nguyện cầu mọi điều kiết tường, để chúng con chứng đắc thân cầu vồng trong suốt!

Hãy trì tụng thêm các bài nguyện cát tường, dài hay ngắn tùy ý.

Pháp tu mật truyền của Siṃhamukhā này. Vô cùng thâm sâu, vì thế cần phải được giữ kín. Trong những văn tự biểu tượng của các ḍākinī, Các dòng truyền thừa của chư Chiến Thắng (Phật), các thủ trì tỉnh giác (vidyādhara) và các hành giả đều được viên mãn đầy đủ.

Samaya.

Ấn. Ấn. Ấn.

Được niêm phong bằng ấn thâm mật và ấn bí mật.

Bản văn này được giải mã từ những ký tự biểu tượng được viết trên một lá thư vàng mang hình dạng chim ưng.

 

 

| Translated by Han Kop, reviewed by Matthias Staber and edited by Catherine Paul, for the Longchen Nyingtik Project, 2023. With many thanks to Khenpo Sonam Tsewang for his kind assistance.

Source

'Jigs med gling pa. "gsang sgrub - klong chen snying gi thig le las/ yum ka'i gsang sgrub seng ge'i dong can", in klong chen snying thig rtsa pod. New Delhi: Shechen Publications, 1994. Vol. 1: 557–572.

 

Version: 1.2-20250219



[1] Ở đây có một phép chơi chữ đối với từ mạn-đà-la trong tiếng Tây Tạng là ‘kyilkhor’, trong đó kyil (dkyil) có nghĩa là tâm điểm và khor (‘khor) có nghĩa là vùng biên quy (ngoại vi). ↑
[2] Mùi hương của hươu xạ được coi là tuyệt hảo. Khenpo Sonam Tsewang giải thích rằng ở đây người ta tin rằng khi một người giữ gìn giới luật thanh tịnh, nghĩa là người đó hoặc sống độc thân hoặc đã thành thạo kỹ thuật yoga giữ tinh dịch, thì hương thơm của người đó sẽ vô cùng đặc biệt. ↑
[3] Câu thần chú có mười một âm tiết, vậy có nghĩa là được niệm 1,1 triệu lần. ↑
[4] I.e., the time taken for reciting the required number of mantras. 
[5] Skt vīra; Tib. pawo (dpa’ bo
[6] Có những cách liệt kê hai mươi bốn địa điểm linh thiêng hơi khác nhau tùy theo các trường phái Mật tông khác nhau, chẳng hạn như Mật tông Hevajra và Mật tông Cakrasaṃvara. Ở đây, truyền thống nổi tiếng nhất của Mật tông Cakrasaṃvara được tuân theo.
[7] Skt. cittacakra 
[8] Để biết thêm thông tin về hai mươi bốn địa điểm linh thiêng, xem David B. Gray, The Cakrasamvara Tantra: A Study and Annotated Translation (American Institute of Buddhist Studies, 2007), trang 54-62.
[9] Theo truyền thống Cakrasaṃvara Tantra, Pullīramalaya tương ứng với vùng đầu. Dường như đây là điểm khác biệt nhỏ duy nhất giữa sự liệt kê trong văn bản này và sự liệt kê được thấy trong truyền thống Cakrasaṃvara Tantra.”
[10] Skt. ūrṇākośa; vòng lông xoắn giữa hai lông mày, một trong ba mươi hai tướng tốt lớn của một vị Phật.
[11] Skt. vākcakra 
[12] I.e., cổ họng / the throat 
[13] Theo truyền thống của Mật tông Cakrasaṃvara, miệng được nhắc đến ở điểm này. ↑
[14] Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà bộ phận cơ thể tương ứng với Himālaya lại bị bỏ sót, vì dường như trong truyền thống của Cakrasaṃvara Tantra đã tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về sự tương ứng này. Có thể đó là vùng đáy chậu (perineum).
[15] Skt. kāyacakra 
[16] Tên địa danh thực sự có thể là Pañcāla  
[17] Mặc dù có vẻ kỳ lạ khi giải thích câu này theo cách khác ngoài việc xem đó là sự ám chỉ đến mười sáu ngón tay và ngón chân, Ratön Ngawang Tendzin Dorje cho rằng nó chỉ đề cập đến tám ngón chân (“một nửa của mười sáu”). Quan điểm này có lý, bởi vì các địa điểm được nhắc đến trong luân xa thân (body wheel) tương ứng với phần thân dưới, chân và bàn chân. Có lẽ Ratön Ngawang Tendzin Dorje nhận thức được rằng cách giải thích của mình sẽ gây tranh luận, nên ông đã đưa ra thêm các trích dẫn từ Cakrasaṃvara Tantra và từ tác phẩm Commentary on the Vajraḍākinī (Chú giải về Kim Cương Không Hành Nữ) để hỗ trợ cho lập luận của mình.
[18] Cần lưu ý rằng việc này chỉ nên được thực hiện bởi một vị Kim Cương Thượng sư (vajra master) đã chứng ngộ ở mức độ rất cao; trên thực tế, ngay cả một bậc thành tựu giả như vậy cũng rất có thể sẽ không thực hiện nghi thức này. Trong trường hợp đó — cũng như khi không có mặt một vị Kim Cương Thượng sư đã chứng ngộ như thế — người ta sẽ dùng amṛta thay cho nước bọt.
[19] Những linh thể có thân người nhưng đầu thú, thường là đầu chim. Trong tiếng Tây Tạng gọi là Tramen (phra men).
[20] Tib. Wangtang (dbang thang). 
[21] Trong phần chú giải từng từ của mình, Gönpo Tseten Rinpoche cho biết rằng đây là Năm Tịnh Thiên, cõi Hoan Hỷ (Skt. Tuṣita) và cõi Trời Ba Mươi Ba.
[22] Thung lũng Drak, hay Dragda (Tib. sgrags mda’), nơi sinh của Yeshe Tsogyal, nằm cách Lhasa khoảng ba mươi kilômét về phía đông nam.
[23] I.e., Jigme Lingpa 
[24] Skt. Sthāvarā, Tib. Tenma (brtan/bstan ma). 
[25] Các tinh linh damsi (dam sri) được đề cập trong dòng này là một loại tinh linh si (ma trùng) có nguồn gốc từ những hành giả phá vỡ thệ nguyện samaya của họ. ↑

Ca Ngợi Đức Độ Mẫu Tārā Qua 21 Bài Kệ

- Và Những Công Đức, Lợi Ích To Lớn Khi Trì Tụng

The Praise to Tārā with Twenty-One Verses of Homage, and the Excellent Benefits of Reciting the Praise

Tác giả: Lời của  Đức Phật
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển



***

 

Ấn ngữ: Tārā-namas-kāraika-viṃśati-stotra-guṇa-hita-sahita

Tạng ngữ: Drolma la chak tsal nyishu tsa chik gi töpa penyön dang chepa (sgrol ma la phyag ‘tshal nyi shu rtsa gcig gis bstod pa phan yon dang bcas pa)

Anh ngữ: The Praise to Tārā with Twenty-One Verses of Homage and the Excellent Benefits of Reciting the Praise

***

 

Oṃ. Kính lễ thánh giả tôn quý Tārā!

Kính lễ Đức Tara, bậc mau lẹ và anh dũng,
Kính lễ Đức Tuttārā, đấng diệt trừ mọi kinh sợ,
Kính lễ Đức Turā, đấng thành tựu mọi sở nguyện,
Nguyện dùng lời "Svāhā" dâng lên sự tán thán và cúng dường.[1]

Kính lễ Đức Tara, đấng mau lẹ và dũng mãnh,
Ánh mắt Ngài chớp sáng như những tia chớp giữa trời;
Ngài sinh khởi trên trái tim của đóa sen đang nở rộ,
Vươn lên từ những giọt lệ của Đấng Tôn
Chủ Ba Cõi. (1)

 Kính lễ đấng dung nhan rạng ngời,
Tựa trăm vầng trăng thu viên mãn cùng hội tụ;
Mỉm cười, tỏa chiếu ánh quang minh chói lọi,
Như ngàn vì sao quần tụ, rực cháy huy hoàng.(2)

 Kính lễ Thánh Nữ sắc vàng rực sáng,
Tay sen thanh nhã nâng đóa ưu-bát-la xanh biếc;
Ngài là hiện thân của hạnh bố thí, tinh tấn và chịu
đựng,
Cùng tịch tĩnh, nhẫn nhục và thiền định sâu xa.
(3)

 Kính lễ đấng có những chiến thắng vô tận,
Bảo châu trên đỉnh bảo quan của các Như Lai vĩ đại;
Ngài được phụng sự và tôn kính bởi những người con của các
Đấng Chiến Thắng
Những bậc đã viên mãn mọi Ba-la-mật (hạnh toàn thiện). (4)

 Kính lễ Ngài, với âm tuttāra và Hūṃ,
Lan tỏa khắp cõi dục đến tận cùng hư không;
Ngài hàng phục dưới chân bảy thế giới[2],
Và có uy lực triệu thỉnh tất cả.
(5)

Kính lễ Ngài, được Đế Thích tôn xưng,
Cùng Hỏa Thần, Phạm Thiên, chư Marut[3] và Đại Tự Tại Thiên;
Các loài tinh linh, quỷ thần, hương thần và dạ-xoa,
Hết thảy đều cung kính cúng dường và tán thán Ngài.
(6)

Kính lễ Ngài, dùng thần âm Traṭ và Phaṭ,
Phá tan mọi pháp trận
(yantra)[4] của chướng ma thành tro bụi;
Chân phải thu vào, chân trái uy nghi duỗi rộng,
Tỏa hào quang giữa biển lửa cuồn cuộn dâng cao.
(7)

 Kính lễ Ture, Thánh Nữ uy nghiêm đáng kính,
Đấng tiêu diệt những ma quân hùng mạnh nhất;
Dung nhan tựa đóa sen nở rộ, nhưng chân mày khẽ nhíu sâu,
Ngài là bậc hàng phục mọi kẻ thù không sót một ai.
(8)

 Kính lễ Ngài, tay kết nơi tim ấn Tam Bảo,
Biểu lộ Phật, Pháp, Tăng nhiệm mầu;
Bánh xe trang nghiêm khắp mọi phương hướng,
Quang minh chói lọi, chiếu khắp không gian.[5]
(9)

 Kính lễ Ngài, đấng hoan hỷ tối thượng,
Bảo quan rực rỡ tỏa những tràng hào quang;
Mỉm cười và cất tiếng cười vang, với âm Tuttāre,
Ngài điều phục ma quân và các thế giới.
(10)

 Kính lễ đấng có năng lực triệu thỉnh
Đoàn tùy tùng là các vị thần bảo hộ thế gian.
Ánh nhìn phẫn nộ của ngài khẽ lay động, cùng âm tự hūṃ
Cứu độ chúng con thoát khỏi mọi tai ương.
(11)

 Kính lễ Đấng Tối Thượng, bậc được trang nghiêm rực rỡ,
Đội trên vương miện mảnh trăng non.[6]
Mái tóc Ngài được tôn nghiêm bởi Đức Phật
A Di Đà,
Từ đó những tia sáng chói ngời tuôn chảy mãi không ngừng.
(12)

 Kính lễ Đấng ngự giữa hào quang rực cháy,
Trong vòng lửa thiêu đốt tất cả, như tận thế giáng lâm.
Chân phải duỗi thẳng, chân trái co vào,
An lạc nghiền nát vòng xoáy của mọi kẻ thù.
(13)

 Kính lễ Đấng lấy hai lòng bàn tay đập xuống mặt đất,
Và dậm mạnh đôi chân đầy uy lực.
Mày Ngài nhíu chặt, với âm HŪṂ hùng mãnh,
Đập tan bảy tầng địa giới thành tro bụi.
(14)

 Kính lễ Đấng an lạc, từ hòa và tịch tĩnh,
Ngự trong cảnh giới bình an của Niết-bàn.
Với OṂ và SVĀHĀ hợp nhất viên mãn,
Ngài tiêu diệt mọi điều ác dữ kinh hoàng.
(15)

Kính lễ Đấng chìm trong niềm hỷ lạc siêu việt,
Đập tan thân thể của mọi kẻ thù.
Ngài hiện khởi từ chủng tự trí tuệ HŪṂ,[7]
Và hiển bày trọn vẹn mười âm của chân ngôn Ngài.
(16)

 Kính lễ TURE, đấng dũng mãnh dậm chân xuống đất,
Hiện thành từ chủng tự HŪṂ.
Núi Tu-di, Mandara và Vindhya[8],
Cùng toàn thể ba cõi đều rung chuyển bởi oai lực của Ngài.
(17)

 Kính lễ Đấng tay cầm vầng trăng có hình con nai,
Thanh tịnh như hồ nước thiêng của chư thiên.
Với hai lần xưng danh TĀRA rồi đến PHAṬ,
Ngài hoàn toàn tẩy trừ mọi độc tố và nhiễm ô.
(18)

 Kính lễ Đấng được tôn kính bởi các vị thiên vương,
Bởi chư thiên và các Kiṃnara.[9]
Khoác lên mình áo giáp hỷ lạc và quang huy,
Ngài xua tan ác mộng và làm lắng dịu mọi xung đột.
(19)

 Kính lễ Đấng có đôi mắt sáng ngời,
Rực rỡ như vầng nhật nguyệt tròn đầy;
Hai lần xướng Hara cùng với Tuttāre,
Ngài tiêu trừ mọi dịch bệnh, ác tật hiểm nghèo.
(20)

 Kính lễ Ngài, bậc có năng lực giải thoát,
Hiển bày chân thực tại dưới hình thức ba phương diện.
Ture tối thượng, Ngài hoàn toàn tiêu diệt
Mọi đoàn quân graha[10], vetāla[11] và yakṣa[12]. (21)

 Bài Tán thán với hai mươi mốt kệ ngôn lễ kính này
Chính là căn bản mật chú (gốc chú).

Lợi ích Thù thắng của Bài Tán than

Bậc trí giả thành tâm trì tụng những lời này,
Với lòng sùng mộ chân thật hướng về Đức Bản tôn, (22)

 Vào lúc hoàng hôn, và khi thức dậy vào lúc bình minh,
Người nào nhớ tưởng (đến Ngài) sẽ được ban cho sự vô úy;
Họ sẽ hoàn toàn tiêu trừ mọi ác nghiệp,
Và vượt qua tất cả những cảnh giới bất thiện. (23)

 Bảy mươi triệu chư Phật chiến Thắng
Sẽ nhanh chóng ban sự gia trì và quán đảnh cho họ;
Họ sẽ đạt được sự rộng
lớn trong thế gian này,
Và chứng đến quả vị Phật tối thượng. (24)

 Ngay cả những chất độc cực mạnh và nguy hiểm nhất,
Dù phát sinh từ thực vật hay các loài hữu tình,
Cho dù được ăn vào hay uống vào,
Đều sẽ được tiêu trừ hoàn toàn nhờ nhớ tưởng bài tán thán này. (25)

 Tụng đọc bài tán thán này hai, ba hoặc bảy lần[13],
Sẽ tiêu trừ vô số khổ đau
Do tà linh, dịch bệnh và chất độc gây ra;
Điều này cũng có lợi ích đối với những chúng sinh khác nữa. (26)

 Người cầu con cái sẽ được con cái;
Người cầu tài sản sẽ được tài sản;
Mọi nguyện ước đều sẽ được thành tựu,
Và mọi chướng ngại sẽ hoàn toàn tan biến, không còn nữa. (27)

 

 Đến đây viên mãn bài Tán thán Đức Tôn Thắng Mẫu Tārā (Bhagavatī Tārā) do chính Đức Phật Chính Biến Tri (Chính Đẳng Chính Giác) tuyên thuyết[14].


This completes the Praise to Bhagavatī Tārā as spoken by the completely perfect Buddha.13

 

| Translated by Samye Translations (trans. Stefan MangPeter Woods, and Ryan Conlon, ed. Libby Hogg) with the kind assistance of Adam Pearcey, 2019. Revised with the kind assistance of Rigpa Translations, 2025.

https://www.lotsawahouse.org/words-of-the-buddha/twenty-one-tara-praise

 

 



[1] Tên đầy đủ của nghi thức là Tinh túy của Hai Sự Tích lũy: Nghi thức cho Thực hành Bên ngoài Chi tiết và Ngắn gọn cùng với Lễ quán đảnh (dgongs gter sgrol ma'i zab tig las/ phyi sgrub rgyas bsdus rig gtad dang bcas pa'i cho ga tshogs gnyis snying po). Vì cách sắp xếp này không bao gồm phiên bản ngắn gọn của nghi thức hoặc lễ quán đảnh, nên chúng đã được lược bỏ khỏi tiêu đề ở đây. ↑

 

[2] chỉ bảy tầng thế giới hoặc toàn thể các cảnh giới trong vũ trụ theo cách diễn tả biểu tượng của kinh điển Ấn Độ. Ý chính là năng lực vượt trội của Tara đối với mọi cõi giới.

[3] Maruts là các vị thần gió trong tín ngưỡng Vệ Đà. ↑

[4] Từ yantra (’khrul ’khor) dùng để chỉ một dụng cụ hoặc thiết bị cơ khí khác (đặc biệt là loại dùng trong chiến tranh), hoặc một sơ đồ ma thuật. Nó bắt nguồn từ gốc tiếng Phạn √yam, nghĩa là “kiểm soát”.

 

[5] Đức Tārā mang (các) dấu tướng bánh xe ngàn căm trên (các) bàn tay (và bàn chân) của Ngài — dấu tướng đầu tiên trong số 32 tướng tốt của một bậc chính đẳng chính giác (Phật).

[6] Một số ấn bản ghi là zla ba’i rtse mo, nghĩa đen là “đỉnh mặt trăng”, thay vì zla ba’i dum bu, nghĩa đen là “một mảnh trăng”.

 

[7] Các bản tiếng Tây Tạng khác nhau ghi là sgrol ma hoặc sgron ma. Dựa trên biến thể này, các tác giả Tây Tạng diễn giải câu này theo nhiều cách khác nhau, có thể là “bạn hiện ra từ” (sgrol ma) hoặc “bạn tỏa sáng với” (sgron ma) âm tiết trí tuệ hūṃ. ↑

[8] Ngay cả những ngọn núi vĩ đại, kiên cố hay ngạo mạn nhất vũ trụ cũng đều rung chuyển và quy phục trước thần lực cứu độ của Đức Tara.

[9] Khẩn Na La (tiếng Tây Tạng: mi’am ci) là một nhóm chúng sinh bán thần nổi tiếng với tài năng âm nhạc, được mô tả dưới hình tướng nửa người nửa ngựa, hoặc nửa người nửa chim."

[10] Các Graha (gdon - tinh linh chấp trì/ma chướng) là một loại tinh linh tà ác được biết đến là gây ra ảnh hưởng tổn hại lên cả thân và tâm của con người. Các Graha có mối liên hệ chặt chẽ với các hành tinh và các thiên thể khác. ↑

[11] Các Vetāla (ro langs - thây ma khởi tử/quỷ nhập tràng) là một loại tinh linh gây hại chuyên lảng vãng tại các nghĩa địa, chúng có thể chiếm đoạt và làm sống dậy các tử thi. ↑

[13] Chỉ dẫn này đã hình thành nên truyền thống trì tụng bài Tán thán trước hết là hai lần, tiếp theo là ba lần, và cuối cùng là bảy lần. Chúng ta có thể tìm thấy điều này, ví dụ như, trong nghi quỹ Zabtik Drolchok (zab tig sgrol chog - Thâm Tích Độ Mẫu Nghi Quỹ). ↑

[14] Xin lưu ý rằng phần vĩ chú (colophon) này có sự khác biệt giữa các phiên bản tiếng Tây Tạng khác nhau. Ở đây chúng tôi đang căn cứ theo bản kinh thuộc Đại Tạng Kinh Kangyur bộ Degé (Degé Kangyur) của bài Tán thán này (ký hiệu T 438). ↑