Tóm lược về Nguyện Ước của Đại Viên Mãn Văn Thù Sư Lợi
Nguyên
tác: The Precious Jewelled Key
A Synopsis of the
Aspiration of the Great Perfection Mañjuśrī
Tác giả: Jamyang
Khyentse Chökyi Lodrö
Việt dịch: Quảng
Cơ
Biên tập: Tuệ
Uyển
***
Nam mô Văn Thù Sư Lợi !
Đấng Văn Thù Diệu Âm, khắp cùng như hư không,
Hiện thân của trí tuệ vượt ngoài mọi khái niệm và tư tưởng,
Bậc Đạo Sư và Phật nguyên sơ, con xin đảnh lễ Ngài,
Khi con trình bày bản tóm lược ngắn gọn này.
Phần
trình bày sau đây về tác phẩm “Sự Tự- Phóng Quang của Giác Tánh Bất Hoại và
Tánh Không: Nguyện Hướng đến Ý Nghĩa của Nền Tảng, Đạo Lộ và Quả Vị Bất Khả
Phân của Đại Viên Mãn Văn Thù Sư Lợi do Jamgön Mipham trước tác, gồm ba phần
chính:
I)
Nhan đề
II) Phần giải thích
nội dung chính của bản văn
III) Kết luận
I. Nhan đề
Sự Tự-Phóng Quang của Giác Tánh Bất Hoại và
Tánh Không: Nguyện Hướng đến Ý Nghĩa của Nền Tảng, Đạo Lộ và Quả Vị Bất Khả
Phân của Đại Viên Mãn Văn Thù Sư Lợi
II. Phần Giải Thích Chính
Phần
này gồm hai mục: A) Tóm lược ngắn gọn, B) Giải thích chi tiết
A. Tóm Lược Ngắn Gọn
Phần
này gồm hai mục:
1)
Giải thích liên hệ danh hiệu Văn Thù Sư Lợi với ý nghĩa của nền tảng – Kadak
Trekchö -
Cắt đứt hoàn toàn mọi
vọng tưởng để nhận ra tánh Không nguyên sơ.
Ngài là hiện thân trí tuệ của tất cả chư Phật
Thế Tôn và các bậc kế thừa của các Ngài
Khắp mười phương và bốn thời, an trụ trong con đường bất nhị –
Văn Thù Sư Lợi vĩnh viễn thanh xuân, “Diệu Cát Tường Quang Huy,”
cảnh giới bình đẳng viên mãn:
Nguyện cho chúng con tự nhiên thành tựu ý nghĩa chân thật của vô
tác!
2)
Tuyên thuyết ngắn gọn liên hệ đến gia trì của Đạo Sư và ý nghĩa của Lhundrup
Tögal quang minh – sự hiển lộ của giác tánh:
Với lòng sùng mộ quán đấng Hộ Chủ nguyên sơ và
vị Đạo Sư tôn quý
Là thân giác ngộ của chân lý, pháp thân của bình đẳng viên mãn,
Nguyện cho gia trì của dòng truyền thừa tối hậu được truyền vào
tâm chúng con,
Và nguyện chúng con đạt được đại quán đảnh của sự hiển lộ giác
tánh!
B. Giải Thích Chi Tiết
Phần
này gồm ba mục: 1. Nền tảng (Ground), 2. Đạo lộ (Path), 3. Quả vị (Fruition)
1.
Nền tảng (Ground)
Nền
tảng – tức sự xác quyết về kiến (view) – bao gồm những điểm sau:
a)
Trình bày sự cần thiết phải nương tựa vào giáo huấn của vị Đạo Sư nắm giữ dòng
truyền thừa nhận ra trí tuệ an trụ như nền tảng:
Vốn hiện hữu từ nguyên sơ, nên không được tạo
tác bởi nỗ lực,
Không tùy thuộc vào căn cơ hay bản tính riêng biệt;
Vì quá đỗi giản đơn, nên ta hoài nghi huyền nhiệm của tâm này:
Nguyện giáo huấn của Đạo Sư ban cho chúng con sức mạnh để thấy!
b)
Trình bày rằng điều này không cần tìm cầu ở nơi khác, đồng thời nhấn mạnh sự
cần thiết phải cắt đứt mọi phóng dật và cấu trúc của tư tưởng khái niệm:
Mọi
phân tích và biện giải chỉ là dư thừa của tư duy,
Tìm kiếm và tu tạo rốt
cuộc chỉ dẫn đến mỏi mệt;
Chuyên chú và thiền
định nếu chấp thủ cũng thành trói buộc –
Nguyện cho sự phức tạp
khổ đau ấy lắng dứt trong tâm!
c)
Quyết định rằng đây không gì khác hơn là trạng thái tự nhiên của chính tâm mình
như-nó-là:
Vượt ngoài tư tưởng và ngôn thuyết, không có
gì để thấy;
Cũng chẳng có điều gì thêm nữa, một cái gì khác bổ sung, không
thấy.
Đây là điểm then chốt thâm sâu để tâm tự xác quyết.
Nguyện chúng con chứng ngộ bản tánh này — khó chỉ bày và khó
diễn tả rõ ràng!
d)
Nguyện hướng đến ý nghĩa của đại bình đẳng bất khả ngôn thuyết, vượt ngoài mọi
chấp trước vào hai cực đoan hữu và vô:
Luôn
luôn thanh tịnh, không cấu trúc phức tạp, nên tránh xa cực đoan thường kiến;
Quang minh của rigpa
(giác tánh) tự nhiên hiện hữu, không phải là hư vô đoạn diệt;
Dẫu được nói thành
hai, đó chỉ vì thuận tiện cho sự hiểu biết;
Nguyện chúng con thấy
được ý nghĩa bình đẳng, vượt ngoài phân chia và diễn tả!
2.Con Đường
Thực
hành qua thiền định trên đạo lộ bao gồm những điểm sau:
a)
Cách tu tập Đạo Lộ của Kadak Trekchö - Cắt đứt hoàn toàn mọi vọng tưởng để nhận ra tánh Không nguyên sơ.
i)
Bản chất của pháp tánh (dharmatā) vượt ngoài phân tích trí năng, và nguyện được
thấy nó bằng trí tuệ của tự-tri giác:
Như ngón tay chỉ mặt trăng,
Lý luận và ngôn từ ban đầu chỉ bày con đường.
Nhưng trạng thái tự nhiên không phải là đối tượng của tư tưởng,
Vì vậy, hãy quay vào bên trong — và nhờ đó thật sự thấy!
ii)
Nguyện hướng đến ý nghĩa của tự-an-trụ lớn, tự nhiên viên mãn, vượt ngoài mọi
loại bỏ hay tu tạo, loại trừ hay thêm thắt:
Trong đó, ta không có gì cần phải loại trừ,
Cũng chẳng có gì để thêm vào hay tạo tác.
Pháp tánh (dharmatā) không bị nhiễm ô bởi nỗ lực ngăn chặn hay
tu bồi;
Nguyện chúng con đạt đến trạng thái vốn tự nhiên hiện hữu!
iii)
Trình bày qua ví dụ về hư không rằng mọi hiện tượng của nền tảng, đạo lộ và quả
vị chỉ là những danh xưng trong trạng thái tự nhiên, và nguyện hướng đến sự vô
công dụng hạnh:
Dẫu ta có thể đặt tên một “nền tảng” để nhận
biết,
Một “đạo lộ” để bước theo, hay một “quả vị” để đạt đến,
Trong trạng thái tự nhiên, tất cả chỉ như những tầng bậc của hư
không;
Vì thế, nguyện chúng con an trụ trong chân thật vô tác một cách
tự nhiên, không dụng công!
iv)
Nguyện được thấy trạng thái tự nhiên của thanh tịnh nguyên sơ, vượt ngoài mọi
hình thức nhị nguyên như đối đãi sinh tử–niết bàn:
Những hiện tượng luân hồi ô nhiễm, được hình
dung trong mê lầm,
Và cả những đối cực của chúng, được gọi là “hiển hiện thanh
tịnh”,
Đều chỉ là những danh xưng tùy thuộc, những phóng chiếu phức
tạp;
Nguyện chúng con thấy được sự vắng mặt của chúng trong trạng
thái vô tạo tác!
v)
Nguyện an trụ một cách tự nhiên trong trạng thái chân thật, vì mọi hiện tượng
của tâm thức thông thường đều che lấp pháp tánh (dharmatā):
Bản tánh chân thực như-nó-là, vượt ngoài tâm
thức thường tình,
Bị che mờ bởi những quan niệm nhiễm ô về kiến và thiền.
Trong sự bình thường chân thật, không có lý thuyết cũng không có
thực hành;
Nguyện chúng con tự nhiên an trụ trong trạng thái chân thật ấy!
vi)
Nguyện được thấy pháp tánh (dharmatā) vốn giải thoát khỏi mọi độc tố, lỗi lầm
và nẻo nguy hiểm:
Chuyên chú vào bất cứ điều gì chỉ làm nhiễm
độc cái thấy,
Sự cố ý chấp định chính là lỗi lầm của thiền định,
Chọn lấy và loại bỏ đều là nẻo nguy hiểm của hành động;
Nguyện chúng con thấy được bản tánh vượt ngoài những nhiễm ô ấy!
b)
Nguyện hướng đến Đạo Lộ của Đại Bí Mật Quang Minh – Lhundrup Tögal, sự hiển lộ
của giác tánh
i)
Nguyện được trực tiếp thấy pháp tánh (dharmatā) là tự-quang của giác tánh:
Trực tiếp thấy điều vượt ngoài tâm thức thường
tình —
Quang minh của rigpa (tánh giác), không bị giam hãm trong khái
niệm;
Không trói buộc bầu trời bằng sợi dây của suy đoán,
Nguyện chúng con làm chủ trạng thái chân thật của sự an nghỉ tự
nhiên!
ii)
Nguyện thắp sáng ngọn đèn của tuệ giác tự sinh — phẩm tính tỉnh biết của sự
sáng tỏ nội tại:
Đấng Văn Thù Diệu Âm — Mañjughoṣa — của quang
minh tự nhiên
Chính là sự tỉnh biết của tự-giác, thân bình trẻ trung;
Nguyện ngọn đèn rực sáng của tuệ giác tự sinh
Xua tan màn đêm dày đặc của những che chướng nơi tâm!
ii)
Nguyện thắp sáng ngọn đèn của tuệ giác tự sinh — phẩm tính tỉnh biết của sự
sáng tỏ nội tại:
Đấng Diệu Âm — Mañjughoṣa — của quang minh tự
nhiên
Chính là sự tỉnh biết của tự-giác, thân lục bình trẻ trung;
Nguyện ngọn đèn rực sáng của tuệ giác tự sinh
Xua tan màn đêm dày đặc của những che chướng nơi tâm!
c)
Kết luận về tính thiết yếu không thể thiếu của hai pháp tu này
i)
Trình bày rằng trong trí tuệ tự sinh, không có gì có thể đạt được qua những đạo
lộ tạo tác:
Trong bản tánh vốn vô vi và không do tạo dựng,
Không điều gì có thể được sản sinh mới qua những đạo lộ tạo tác;
Chính vì thế, quả vị tối hậu không phát sinh từ một nguyên nhân.
Nguyện chúng con nhận ra điều đang là — và luôn đã là — nơi tự
tâm!
ii)
Nguyện thực hành những chỉ dạy để hiện thực hóa chính giác tánh của mình, vì
mọi con đường suy đoán trí năng không thể vượt khỏi lối mòn của mê lầm:
Những lời lẽ rỗng như vỏ trấu của các ý niệm
suy đoán chỉ dẫn đến mê lầm;
Dù được diễn đạt thế nào, chúng vẫn trói buộc ta trong tư tưởng.
Thay vào đó, nguyện chúng con thực hành những chỉ dạy thâm sâu
của tâm yếu,
Những điều không khởi từ kinh văn, mà được trực nhận một cách tự
nhiên!
iv)
Nguyện nắm giữ thành trì của pháp thân vô trụ — một cảnh giới duy nhất viên mãn
của quang minh, là đại bình đẳng nguyên sơ của mọi hiện tượng luân hồi và niết
bàn:
Trong không gian bao trùm khắp của rigpa (tánh
giác)— rỗng rang mà tỉnh biết,
Muôn pháp đều bình đẳng trong một thể viên mãn duy nhất ấy;
Không còn khát cầu hay sợ hãi cho luân hồi hay niết bàn,
Nguyện chúng con chiếm lĩnh thành trì của pháp thân vô trụ ấy!
d) Ngoài ra, trình bày cách hoạt dụng của
tự-giải thoát mang lại sự tăng trưởng
Điều
này có nghĩa là trình bày thêm cách mà không gian và giác tánh được mở rộng,
tăng trưởng qua đại hoạt dụng vô tác — tức là sự tinh luyện mọi tri giác về môi
trường, các đối tượng giác quan hay thân thể — để tất cả tự-giải thoát trong
ngọn lửa của đại trí quang minh; và mọi nhận thức chủ quan đều được đưa đến
trạng thái tiêu dung, cạn kiệt trong pháp tánh (dharmatā).
Bất cứ điều gì ta tri giác — như thân thể hay
như các đối tượng của giác quan —
Đều như thị giác sai lầm, chỉ hiện khởi do sức mạnh của tư
tưởng;
Nhờ tự-phóng quang của đại trí tuệ vô niệm,
Nguyện tất cả được thanh tịnh trong không gian nguyên sơ của sự
tiêu dung mọi hiện tượng!
III. Kết luận
A.
Lời bạt (Colophon)
Phần
kết nêu rõ danh tính của người thỉnh cầu trước tác bản văn này cùng chính tác
giả, đồng thời làm sáng tỏ sự cao quý và thù thắng của giáo pháp được trình
bày.
Bản
văn này được trước tác theo lời thỉnh cầu của bậc nữ tôn kính Dekyong Yeshe
Wangmo, vị được khắp nơi tôn xưng là hóa thân của trí tuệ ḍākinī Kim Cang Hợi
Mẫu (Vajravārāhī). Vào ngày cát tường mồng bốn tháng ba năm Bính Tuất (1886),
bà đã dâng cúng một khăn lụa cát tường cùng một tràng pha lê trang sức quý báu.
Lấy đó làm duyên khởi, tôi — người được biết đến với danh hiệu Mipham Jampel
Gyepa, hay Ösel Dorje — đã viết nên lời nguyện này và hoàn tất ngay trong chính
ngày hôm ấy.
Nguyện
nhờ công đức của việc diễn bày những điều tự nhiên khởi lên trong tâm tôi, một
cách độc lập và bằng thuật ngữ đặc thù của hệ thống Đại Viên Mãn, mà tất cả
chúng sinh đều đạt đến địa vị của đấng Hộ Chủ nguyên sơ, Mañjuśrī vĩnh viễn
thanh xuân.
B. Hồi hướng
Hồi
hướng công đức của việc trước tác luận văn:
“Chỉ cần nghe qua cũng chắc chắn được giải
thoát” —
Đức Kim Cang Trì (Vajradhara) đã tán thán đây là con đường tối
thượng.
Huống gì là thọ trì và ghi nhớ trong tâm?
Nguyện chân lý của pháp tánh (dharmatā) mau chóng đem lại giải
thoát!
‘Khi
các hành giả khó thể theo được những cỗ xe dựa trên nỗ lực tạo tác,
Giáo pháp của tâm-trí tuệ Phổ Hiền (Samantabhadra) sẽ khởi hiện’ —
Nguyện những giáo huấn tinh yếu được tán thán trong lời ấy
Lan khắp toàn thể vũ trụ, trải rộng muôn phương!
Sarva
maṅgalam.( Nguyện tất cả đều cát tường. )
Nhờ
công đức tạo tác
Chìa khóa ngọc quý
này,
Mở tung ổ khóa kim
cang,
Nguyện tất cả chúng
sinh chứng ngộ trí tuệ của Văn Thù Sư Lợi
Vì thế, theo lời thỉnh cầu của Tupten Chöpel —
một vị tăng thuộc tu viện Shechen Monastery, gìn giữ kho tàng tam vô lậu học —
người đã thỉnh tôi soạn bản tóm lược về Nguyện Ước Đại Viên Mãn Mañjuśrī của
bậc Toàn Tri Jamyang Guru, tôi, Jamyang Khyentse Chökyi Lodrö, đã lần lượt nói
ra những lời này, và Muksang Choktrul Kunzang Sherab đã trợ giúp bằng cách ghi
chép lại.Nguyện công đức và thiện lành tăng trưởng tối thượng!
***

.jpg)