Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2026

CÁNH CỬA ĐẾN ĐẠI DƯƠNG CỦA NHỮNG THÀNH TỰU

Nghi quỹ Quán đảnh thuộc Hệ thống Mật tông về Thế Tôn Kim Cương Quyết (Vajrakīlaya) – Phần trích yếu dành cho học trò."

Gateway to an Ocean of Siddhis - An Empowerment Ritual for the Tantric System of the Bhagavān Vajrakīlaya (student extracts)1

Tác giả: Jigme Lingpa
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển

***

Quy y 

Ôi Đạo Sư Kim Cang Trì, 

Hội chúng các ḍākinī, và những vị khác, xin hãy hướng sự chú ý của quý ngài về phía chúng con!
Oṃ āḥ hūṃ. Pháp thân như không gian của ngài hiển hiện thành sắc thân (rūpakāya), như một cầu vồng; 
Các mật ngôn của ngài vang vọng như âm nhạc;
Trong hình tướng phẫn nộ, nam và nữ, ngài hiển lộ để hàng phục những kẻ tà ác—
Con quy y Tam Bảo vô thượng.

Phát Tâm Bồ Đề

Con xin phát tâm bồ đề vô thượng
Trong mọi phương diện của nó.
Những ai chưa được giải thoát khỏi ba cõi thấp, 
Con sẽ đưa họ lên cảnh giới của chư thiên và loài người.
Những vị trời và con người chưa được giải thoát,
Con sẽ đưa họ đến trạng thái giác ngộ.
Những ai có bồ-đề tâm đã trở nên thoái chí,
Con sẽ khuyến khích cho đến khi họ đạt đến địa thứ tám.
Và ta sẽ an lập tất cả chúng sinh trên ngưỡng cửa của Niết-bàn
Trong trạng thái của Kim Cang Trì.

ཨོཾ་ཨཱཿབཛྲ་སཏྭ་ཧཱུྃ།

om ah benza sato hung

oṃ āḥ vajrasattva hūṃ

Giữ gìn các Samaya

ཨོཾ་ཨཱཿབཛྲ་སཏྭ་ཧཱུྃ།

om ah benza sato hung

oṃ āḥ vajrasattva hūṃ

Trong vũ trụ hàng tỷ lần này,
Chúng sinh thuộc sáu cõi
Được tuyên xưng là những vị bổn tôn phẫn nộ-heruka của năm gia tộc 
Vì mục đích cắt đứt năm độc phiền não.
Āḥ. Sự quán tưởng chúng sinh như năm gia đình Phật 
Mang bản chất của năm trí tuệ phá tan các khái niệm.
Thật đáng thương biết bao những kẻ còn hoang mang về các hiện tướng 
Của pháp thân vốn nguyên sơ không sinh!
Kim cang. Mọi thứ đều có bản chất của kim cang—
Bất hoại, không thể bị cắt đứt.
Trong trạng thái kim cang—bất sinh, bất diệt—
Chân như hoàn toàn thanh tịnh.

Sa. Bản chất của không gian (Pháp giới) vốn không thật hữu,
Nhưng lại hiển hiện dưới hình tướng của các Heruka.
Để tận diệt hoàn toàn ngũ độc,
Chúng được tịnh hóa thành các vị bổn
tôn phẫn nộ của ngũ bộ."

Tva. Để thành tựu các vị bổn tôn phẫn nộ của ngũ bộ,
Con xin khởi tâm từ bi đối với chúng sinh,
Và với ý nguyện đạt đến sự giải thoát,
Con nguyện giữ gìn năm giới nguyện Samaya.

Hūṃ. Nguyện cho những bậc hữu duyên (người may mắn) đạt được:
Cảnh giới của bậc Thế Tôn (Bhagavān) toàn tri —
Vị vua phẫn nộ tối cao, hiện thân của ngũ bộ Phật,
Chính là đức Kim Cang Đồng Tử
(Vajrakumāra) phẫn nộ uy hiển.

Phát Tâm Bồ Để

ཨཱོཾ་སརྦ་ཡོ་ག་ཙིཏྟ་ཨུཏྤ་ཏ་ཡ་མཱི།

om sarva yoga tsitta utpatayami

oṃ sarva-yoga-cittam-upādāyāmi

Lời Nguyện Cầu

"Trong mạn-đà-la của Bậc Hủy Diệt Vĩ Đại,
Nguyện cho con, một vị Phật (tương lai), được phú thác năng lực từ những khối kim cương vĩ đại
Của Thân, Khẩu, và Ý giác ngộ,
Cùng với Trí tuệ quang minh quét sạch mọi tư duy phân biệt (vọng tưởng)."

Thọ nhận Giới nguyện (Samaya)

"Hūṃ. Nền tảng để thành tựu quả vị của tất cả chư Phật
Chính là giới nguyện Kim Cang (Samaya) tối thượng —
Con nguyện sẽ gìn giữ và bảo vệ giới nguyện này."

Con nguyện kính  phụng trì Đạo sư — vị bậc thầy Kim Cang;
Cùng Tam Bảo và các vị Không Hành Nữ (Ḍākinīs);
Con nguyện không làm gián đoạn dòng chảy của các Thủ ấn và Mật
ngôn;
Con nguyện khởi lòng từ ái với những bậc hữu duyên trên con đường chân chính;

Và con nguyện sẽ không tiết lộ về bí mật vĩ đại này —
Năm giới nguyện gốc này, con nguyện sẽ kính giữ.
Những giới nguyện Samaya tối thượng cần phụng trì và bảo vệ.

Sân hận, vô minh, tham ái và kiêu mạn;
Cùng với các sắc màu trắng, đỏ, xanh lá, vàng và xanh dương —
Con nguyện không chối bỏ thế giới và chúng sinh thanh tịnh này.
Đây chính là hình thức cô đọng của mười giới nguyện nhánh (chi phần samaya).

Con nguyện sẽ giữ vững (những giới nguyện này) —
Quyết không bao giờ từ bỏ chúng.

Lời hứa Phật họcụng trì Giới nguyện (Samaya)

"Bất cứ điều gì bậc Đạo sư — chủ tể của Mạn-đà-la — truyền dạy,
Con nguyện sẽ thực thi — từng lời chỉ dẫn một.
Con xin cúng dường toàn thân tâm này lên Ngài.
Xin hãy nhận con làm đệ tử và dẫn dắt (sử dụng) con."

 

*** 

| Translated by Han Kop for the Longchen Nyingtik Project, 2025. With gratitude to Khenpo Sonam Tsewang for his clarifications.

 

Source:

Kun mkhyen ʼjigs med gling pa. “dbang chog dngos grub rgya mtshoʼi ʼjug ngogs.” In gsung ʼbum ʼjigs med gling pa (sde dge par ma), 6:27–138. Gangtok, Sikkim: Pema Thinley for Dodrupchen Rinpoche, 1985.

 

Version: 1.0-20250902

1.     These sections have been extracted for the benefit of students, primarily for those occasions where the empowerment is given in Tibetan.

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/jigme-lingpa/gyuluk-phurba-empowerment-extracts

 

NĂM BÁT NHÃ PHỐI NGẪU: TRÍ TUỆ CỦA NĂM VỊ THIỀN PHẬT

Nguyên tác: Five Prajnas: Wisdom Consorts Of Five Dhyani Buddhas
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển

***

Cái Nhìn Cận Cảnh Hơn Về Biểu Tượng Học Của Ngũ Trí Phật Mẫu 

Ngũ Trí Phật Mẫu là những vị phối ngẫu giác ngộ của Ngũ Phật Thiền Định, mỗi vị hiện thân cho một dạng trí tuệ siêu việt độc đáo. Những nữ thần đặc biệt này đại diện cho khía cạnh năng động của sự giác ngộ và trí tuệ trong bản chất thuần khiết và mang tính chuyển hóa cao nhất. Thông qua sự hiện diện của các Ngũ Phật nữ, họ thể hiện nguồn năng lượng chuyển hóa năm độc tố: vô minh, tham dục, sân hận, kiêu mạn và ganh tị thành năm loại trí tuệ.

Trong nghệ thuật và các nghi lễ Phật giáo, hình ảnh của họ chứa đựng đầy ý nghĩa, thể hiện không chỉ những đặc điểm và vai trò riêng của từng vị mà còn cả sự hợp nhất sâu sắc giữa lòng từ bi và trí tuệ. Bài viết này đi sâu vào thế giới của những Mẫu Nữ đầy quyền năng này, mang đến cái nhìn cận cảnh hơn về biểu tượng hình ảnh và ý nghĩa tâm linh của họ trong truyền thống Mật tông.


Năm
Bát Nhã Và Phối Ngẫu Của Họ


Ngũ Trí Bát Nhã (Five Prajñās), được xem là những phối ngẫu giác ngộ của Ngũ Phật Thiền Định, đại diện cho trí tuệ sống động đi cùng với sự giác ngộ. Mối liên hệ của họ với chư Phật minh họa mối gắn kết sâu sắc giữa trí tuệ (prajñā) và phương tiện (upāya), tạo nên một hành trình trọn vẹn hướng tới sự chứng ngộ, nơi hình tướng và tính không hòa quyện một cách tuyệt đẹp mà không còn bất kỳ cảm giác nhị nguyên nào.

Bát Nhã (Prajñā-Phật nữ) phối ngẫu (Phật nam) Khía cạnh trí tuệ Màu sắc Nguyên tố Đặc điểm biểu tượng 

1-Locanā Vairocana - Lộ Xá Na (hoặc Phật Nhãn Phật Mẫu), Trí tuệ Pháp giới Trắng Không gian, Ngồi trong tư thế thiền định; tay phải ấn Varada (ban cho); đội mũ năm vị Phật; thường được miêu tả với hoa sen mọc từ lòng bàn tay. 

2-Māmakī Akṣobhya - Thủy Tạng Phật - Ma Ma Cơ  - Trí tuệ như gương Xanh dương Nước, Thể hiện nét mặt thanh thản; cầm chày kim cang (vajra); đôi khi được miêu tả với biểu tượng chiếc gương tượng trưng cho sự trong sáng và phản chiếu. 

3-Pāṇḍaravāsinī Amitābha - Phan Trà La Hoa Tất Ni (Bạch Y Phật Mẫu)  -Trí tuệ phân biệt Đỏ Lửa, Ngồi trên hoa sen; cầm hoa sen; biểu trưng cho sự thuần khiết và khả năng phân biệt; đôi khi được miêu tả với nụ cười nhẹ nhàng. 

4-Samayatārā Amoghasiddhi - Tam Muội Da Độ Mẫu (Thệ Nguyện Độ Mẫu) - Trí tuệ thành tựu tất cả Xanh lá Không khí Được thể hiện trong tư thế năng động; cầm chày kim cang đôi; biểu trưng cho hành động và sự thành tựu; thường gắn với sự bảo hộ. 

5-Vajradhātvīśvarī Ratnasambhava - Kim Cang Giới Tự Tại Mẫu  -Trí tuệ bình đẳng Vàng Đất, Cầm một viên ngọc hoặc bình báu; thể hiện lòng bố thí; thường được miêu tả với hai tay trong ấn ban cho.

Những sự liên kết này phản ánh sự hợp nhất sâu sắc giữa trí tuệ và lòng từ bi, vốn là trung tâm của Phật giáo Kim Cang thừa, nhấn mạnh sức mạnh chuyển hóa của các phẩm chất giác ngộ.


Biểu tượng học của Năm Trí Tuệ Bát Nhã 

Biểu tượng học của Năm Trí Tuệ Bát Nhã thể hiện một cách tuyệt đẹp trí tuệ sâu sắc và bản chất chuyển hóa của chúng. Mỗi hình ảnh đại diện cho một Bát Nhã làm nổi bật bản chất tâm linh riêng biệt mà nó mang trong mình, dẫn dắt người tu hành trên hành trình hướng đến sự thấu hiểu sâu sắc hơn và giác ngộ.



1
- Lộ Xá Na  - Phật Nhãn Phật Mẫu Phối Ngẫu của Tỳ Lô Giá Na Phật
"Theo tác phẩm Advayavajra Samgraha (Bất Nhị Kim Cương Tập), Locanā (Lộ Xá Na Phật Mẫu) được cho là xuất thân từ Tathāgata-kula (Như Lai Bộ/Tộc Như Lai). Ngài được mô tả dưới cả hai hình tướng an bình (peaceful) và phẫn nộ (wrathful), với số lượng cánh tay biến hóa đa dạng bao gồm các dạng hai, sáu và tám tay."

*Khía cạnh Trí tuệ: Pháp giới Thể Tánh Trí
*Màu sắc: Trắng (Tượng trưng cho sự thuần khiết và cởi mở) 
*Nguyên tố: Không gian 
*Âm chủng tử: Lom 
*Đặc điểm biểu tượng:

• Được mô tả ngồi trong tư thế thiền định với tay phải trong Dữ Nguyện Ấn hoặc Thí Nguyện Ấn (Varada Mudra). Tay trái đặt trên ngực.  

• Đội vương miện năm vị Phật, biểu trưng cho sự hợp nhất của mọi khía cạnh trí tuệ.

• Cầm một bánh xe trong hoa sen của mình khi ngồi trong tư thế  Lạc Lợi Đa Tọa  hay Du Hý Tọa (Lalita asana). 

Hình ảnh của Locana rất hiếm, mặc dù một trong những mô tả đáng chú ý của bà được tìm thấy tại Bảo tháp Swoyambhu, Kathmandu, Nepal. Người ta tin rằng những tín đồ thực hành theo Đức Phật Vairocana và Locana sẽ đạt được trí tuệ để cắt xuyên qua ảo tưởng.



2- Thủy Tạng Phật - Ma Ma Cơ – Phối Ngẫu của A Súc Bệ Phật

"Phật Mẫu Mamaki thuộc về Kim Cương bộ (Vajra family), do đó, kim cương chùy (vajra) là pháp khí biểu trưng của Ngài. Với tư cách là vị trì giữ kim cang chùy, Ngài là một biểu tượng đầy uy lực và bản tính của Ngài được xem là sự chuyển hóa của sân hận (hatred). Ngài còn được biết đến với một tên gọi khác là Dvesarati."


  • Khía cạnh Trí tuệ: Đại viên cảnh trí (Trí tuệ sáng suốt như gương).
  • Màu sắc: Xanh dương (Tượng trưng cho sự thuần khiết và bản tính phản chiếu).
  • Chủng tử tự: Mãm (Mam).
  • Đặc điểm hình tượng:
    • Tay phải cầm Kim cang chùy (Vajra), biểu thị cho tính bất hoại và sự sắc bén của tuệ giác.
    • Đôi khi được mô tả cầm một chiếc gương, nhấn mạnh sự phản chiếu thực tại đúng như nó vốn là, không bị bóp méo.
    • Diện mạo của Ngài luôn tĩnh lặng và an nhiên, phản ánh bản chất bất biến, không bị xao động của chân lý.
    • Thường xuất hiện với dạng 2 tay, nhưng cũng được mô tả trong các hình tướng 6 tay, 8 tay và 12 tay.

Trong truyền thống Phật giáo Newar (Nepal), Māmakī được thờ cúng đặc biệt thông qua một bộ ba vật phẩm nghi lễ (triad ritual objects). Trong tiếng Newari, chúng được gọi là:

1.    Anti: Một chiếc bình đặc biệt dùng để đựng rượu lên men.

2.    Khayakori: Chén đựng sữa chua (yoghurt).

3.    Thapin: Bình đựng bia lên men.



3- - Phan Trà La Hoa Tất Ni - Bạch Y Phật Mẫu – Phối Ngẫu của A Di Đà Phật
Phật Mẫu Pandara là hiện thân của ham muốn hoặc ái dục (passion/lust), thứ mà sau đó được chuyển hóa thành Diệu quan sát trí (Wisdom of discriminating awareness). Điều này là do trong Phật giáo Kim Cang thừa, ái dục (kāma hoặc rāga) cũng được xem là một con đường dẫn đến giác ngộ khi được nhiếp phục thông qua thực hành nghi quỹ (sadhana). Tên gọi khác của Pandara là Rāgarati.

  • Khía cạnh Trí tuệ: Diệu quan sát trí.
  • Màu sắc: Đỏ (Tượng trưng cho sự chuyển hóa của ái dục).
  • Đại (Yếu tố): Hỏa (Lửa).
  • Chủng tử tự: Păm (Pam).
  • Đặc điểm hình tượng:
    • Thường được mô tả cầm một đóa hoa sen, đại diện cho sự thanh khiết nảy sinh từ bùn lầy của vô minh.
    • An tọa trong tư thế an bình, thiền định, thường tỏa ra hơi ấm và lòng từ bi.
    • Nụ cười dịu dàng của Ngài biểu thị sự phân định rõ ràng giữa nhận thức thanh tịnh và bất tịnh.



4
- Samayatārā - Thệ Nguyện Độ Mẫu) là phối ngẫu của Đức Phật Amoghasiddhi (Bất Không Thành Tựu).

Ngài còn được gọi là Irsyarati, dịch nghĩa là bản tính của đố kỵ. Ngài chuyển hóa lòng đố kỵ thành Thành sở tác trí (Trí tuệ hoàn thành mọi sở nguyện). Tướng mẫu Tara xuất thân từ Nghiệp bộ (Karma family) và là hiện thân cho các hoạt động giác ngộ của tất cả chư Phật trong ba đời (quá khứ, hiện tại, vị lai).

  • Khía cạnh Trí tuệ: Thành sở tác trí (All-accomplishing Wisdom).
  • Màu sắc: Xanh lá cây (Tượng trưng cho sức sống và hành động).
  • Đại (Yếu tố): Phong (Gió/Không khí).
  • Chủng tử tự: Tam (Tam).
  • Đặc điểm hình tượng:
    • Tay phải cầm Kim cương chùy kép (Double vajra/Vi sai kim cương), nhấn mạnh vào các phương tiện thiện xảo và năng lực bảo hộ.
    • Thường xuất hiện trong tư thế năng động, biểu thị vai trò chủ động của Ngài trong việc vượt qua các chướng ngại.
    • Biểu tượng của Ngài là đóa hoa sen xanh đêm (Utpala).
    • Thường được mô tả với 2 tay, 6 tay hoặc 8 tay.

 


5- Vajradhātvīśvarī (Kim Cang Giới Tự Tại Mẫu) là phối ngẫu của Đức Phật Ratnasambhava (Bảo Sinh Như Lai).

Khi cùng an tọa, Phật Mẫu Vajradhātvīśvarī được vây quanh bởi bốn vị nữ Trí Tuệ (Prajnas) khác là: Locana, Mamaki, Pandara và Tara. Theo mô tả trong chương Pancakara của tác phẩm Advayavajra Samgraha, Ngài có hình tướng tương tự như Đức Vajrasattva (Kim Cương Tát Đỏa). Ngài còn được biết đến với các tên gọi khác là: Nairatma (Vô Ngã Mẫu), Vajravarahi (Kim Cương Hợi Mẫu) và Jnanadakini (Trí Tuệ Không Hành Mẫu).

  • Khía cạnh Trí tuệ: Bình đẳng tính trí (Equality Wisdom).
  • Màu sắc: Vàng (Tượng trưng cho sự giàu có, sung túc và không thiên vị).
  • Đại (Yếu tố): Không đại (Space) hoặc Tánh Không (Emptiness).
  • Đặc điểm hình tượng:
    • An tọa trong tư thế Lalita asana (Du hý tọa) đầy năng động.
    • Thường được mô tả với 2 tay, nhưng cũng có các hình tướng 6 tay và 8 tay.
    • Tay phải kết ấn Varada (Dữ nguyện ấn), từ đó mọc lên một cành hoa sen. Trên hoa sen nâng đỡ một viên ngọc (Jewel/Ratna).
    • Tay trái kết ấn Vitarka (Biện luận ấn/Thuyết pháp ấn), cũng nâng đỡ một cành hoa sen.

SỰ HỢP NHẤT CỦA TRÍ TUỆ VÀ TỪ BI (Yab-Yum )


Năm gia đình Phật

"Trong Phật giáo Mật tông, khái niệm Yab-Yum (nghĩa là Cha-Mẹ) minh họa một cách tuyệt đẹp sự hợp nhất giữa phương tiện (nguyên lý nam) và trí tuệ (nguyên lý nữ). Sự hợp nhất này là chìa khóa để thấu hiểu tính bất nhị (không hai) – điều cốt yếu để đạt được giác ngộ. Trong biểu tượng thiêng liêng này, hình tượng nam (thường là một trong Ngũ Trí Như Lai) đại diện cho phương tiện, lòng từ bi và các phương tiện thiện xảo. Trong khi đó, hình tượng nữ (hiện thân của một trong Ngũ Trí Phật Mẫu - Prajnas) đại diện cho trí tuệ và thực tại tối hậu. Cái ôm chặt của họ tượng trưng cho sự hòa quyện nhịp nhàng của các nguyên lý này, cho thấy trí tuệ và lòng từ bi luôn gắn kết chặt chẽ với nhau trên hành trình giác ngộ."

"Sự hợp nhất mang tính biểu tượng này hoàn toàn không phải về ham muốn xác thịt; thay vào đó, nó biểu thị sự hợp nhất sâu sắc của các phẩm tính giác ngộ. Hình tượng Yab-Yum thường mô tả vị Phật Mẫu ngồi trong lòng vị Phật Nam, trái tim của họ đồng điệu (thẳng hàng), nhắc nhở chúng ta rằng phương tiện và trí tuệ không phải là hai thực thể riêng biệt mà là hai mặt của cùng một trạng thái giác ngộ. Thông qua các pháp thực hành thiền định, hành giả quán tưởng sự hợp nhất này để nuôi dưỡng sự cân bằng giữa lòng từ bi năng động và tuệ giác sâu sắc, cuối cùng dẫn đến trải nghiệm trực tiếp về bản chất thực của thực tại."

Trí Tuệ Chuyển Hóa Của Năm Bát Nhã (Ngũ Trí Phật Mẫu)

"Ngũ Trí Phật Mẫu, được tôn vinh là phối thân của Ngũ Trí Như Lai, là hiện thân cho bản chất sống động và đầy tính chuyển hóa của trí tuệ trong Phật giáo Kim Cang thừa. Các Ngài không chỉ đơn thuần là những người đồng hành; mà là những biểu hiện độc nhất của năng lượng giác ngộ, mỗi vị chuyển hóa một 'phiền não độc' cụ thể (mental poison) thành một phương diện của trí tuệ siêu việt. Sự hiện diện của các Ngài soi sáng con đường từ si mê đến tỉnh giác, từ khổ đau đến tự tại."

"Trong những hình tướng biểu tượng của mình, Ngũ Trí Phật Mẫu hé lộ tiềm năng sâu thẳm tồn tại trong mọi trải nghiệm của con người – đó là quá trình mầu nhiệm chuyển hóa vô minh, tham ái, sân hận, kiêu mạn và đố kỵ thành trí tuệ, lòng từ bi và sự an lạc nội tại. Bằng cách quán tưởng những phẩm hạnh và hóa thân vào các đặc điểm của các Ngài, hành giả không chỉ đạt được tuệ giác mà còn đón nhận sự kết nối sống động giữa lòng từ và trí tuệ. Hành trình chuyển hóa nội tâm này cuối cùng dẫn dắt hành giả đến sự chứng ngộ về tỉnh giác bất nhị (non-dual awareness), nơi trí tuệ và phương tiện hòa quyện làm một, vượt lên trên tư duy tầm thường và hiển lộ bản chất rạng ngời của tâm thức giác ngộ."


https://enlightenmentthangka.com/blogs/thangka/the-five-prajnas-wisdom-consorts-of-the-dhyani-buddhas?srsltid=AfmBOorv31tt_1Cqqsi-EXTn0ShVMGs8OaJM43OgGPzI8de62qkextqu




Thứ Năm, 23 tháng 4, 2026

THỰC HÀNH ĐẠI OAI ĐỨC KIM CANG VĂN THÙ SƯ LỢI

 A Daily Practice of Mañjuśrī Yamāntaka

Tác giả: Jamyang Khyentse Chökyi Lodrö
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển

***



 Với phần quy y và phát tâm Bồ-đề làm tiên khởi, hãy trì tụng như sau:

Ayai! Từ pháp giới, khoảng không tánh Không của chữ É[1] như thị,
Vốn bất sinh và chẳng hề diệt,
Con nhất tâm quán tưởng về chân tánh vốn tự hiện hữu:
Trong đại cung điện của chữ Ai[2],
Chẳng do nhân duyên tạo tác mà thành,

Văn Thù Sư Lợi hiện khởi từ giác tính, tựa cá nhảy khỏi mặt nước,
Trong một thân tướng rạng rỡ huy hoàng,
Ngài đứng trên các loài Long tộc, Thân (Nyen), Địa thần, Ma vương (Rudra)[3],
Trên lưng trâu, cùng nhật luân, nguyệt luân và tòa sen.

Ngài có ba mặt, sáu tay và bốn chân[4] trong tư thế sải bước,
Mặt bên phải trắng, mặt bên trái đỏ, và mặt chính giữa màu xanh dương.
Các tay bên phải Ngài cầm bánh xe pháp, gươm báu và chày kim cang;
Các tay bên trái Ngài cầm linh chùy, chày gỗ và kết thủ ấn phẫn nộ.

Ngũ bộ Phẫn nộ tôn trang nghiêm nơi đỉnh bảo quan,
Ngài mang đầy đủ các tướng trạng oai hùng và trang sức chốn lâm táng.
Phối ngẫu
của Ngài, bậc bất nhị trong pháp giới,
Thân sắc xanh đen, dâng hiến trái tim và bát sọ người đầy máu cam lồ.

Như các hóa thân, tám vị bồn tôn trang nghiêm
Cùng mười vị Phẫn nộ Trí tuệ thảy đều hiện diện.
Các vị Bản tôn hóa hiện vô số hải hội phẫn nộ,
Và một sự tỏa lan rực rỡ của những tia lửa kim cang

Hãy quán tưởng chúng thảy đều hiện hữu nhưng chẳng thật,
Nơi nhật luân tại tâm của ngài Đại Oai Đức Kim Cang,
Chuỗi chân ngôn xoay quanh chủng tự Hūṃ,
Phóng tỏa và thu nhiếp các luồng ánh sáng để thành tựu hai mục đích.
Vạn vật hiện hữu và sinh khởi đều hiện hành như là tuệ giác,
Nơi Bản tôn và mật ngôn của Đức Đại Oai Đức là bất nhị vô phân.

ཨོཾ་ཨཱ་ཀྲོ་ཏེ་ཀ་ཡ་མཱནྟ་ཀ་ཧ་ན་མ་ཐ་བྷཉྫ་ཧཱུྃ་ཕཊ༔

om a trotéka yamantaka hana mata bhandza hung pé

oṃ āḥ krodhika yamāntaka hana matha bhañja hūṃ phaṭ

Trì tụng mật ngôn tiếp cận phổ quát này.
Vào cuối buổi tu, kết luận với:

Thân tướng của Bản tôn hòa tan vào trong tịnh quang (ánh sáng rạng ngời).
Sau đó, Ngài lại hiện khởi một lần nữa trong hình tướng uy nghiêm rực rỡ.

Vajra kāvāci rakṣa haṃ

Nguyện nhờ thiện hạnh và công đức này, con sẽ mau chóng
Đạt được sự chứng ngộ của ngài Văn Thù Phẫn Nộ (Yamāntaka),
Và qua đó, nguyện cho hết thảy mọi chúng sinh
Cũng đều cùng đạt đến trạng thái hoàn hảo của Ngài.

"Hồi hướng công đức và đọc lời cầu nguyện phát nguyện."

Bản văn này được sáng tác bởi ngài Chökyi Lodrö.

 

| Translated by Adam Pearcey and Sean Price, with the generous support of the Khyentse Foundation and Tertön Sogyal Trust, 2021. This translation is dedicated to the memory of Hubert Decleer (1940–2021).

Source:

'Jam dbyangs chos kyi blo gros. “’jam dpal gshin rje’i rgyun khyer/“ in ’Jam dbyangs chos kyi blo gros kyi gsung ’bum. 12 vols. Bir: Khyentse Labrang, 2012. W1KG12986 Vol. 5: 145–146

  https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/jamyang-khyentse-chokyi-lodro/daily-yamantaka


[1] Chữ É đại diện cho Prajna (Trí tuệ nhận thức tính Không). Nó tượng trưng cho bản chất trống rỗng, không giới hạn của pháp giới (Dharmadhatu), nó đang chỉ về trạng thái nguyên sơ, thuần khiết nhất của tâm—nơi mà trí tuệ và tính không bất khả phân ly.
[2] Bản chất nguyên sơ (Primordial State): Chữ A trong tiếng Phạn là chữ cái đầu tiên, tượng trưng cho sự "vô sinh" (unborn) — trạng thái mà mọi thứ chưa khởi đầu và cũng không bao giờ kết thúc. "Cung điện của chữ Ai" chính là ẩn dụ cho Pháp thân (Dharmakaya), hay trạng thái tự nhiên của tâm ta.
[3] Nāgas, Nyen, Earth lords (Long, Thân, Địa chủ): Đây là các tinh linh (chư thiên, quỷ thần) thuộc thế giới tự nhiên. Việc đứng trên họ biểu thị sự làm chủ hoàn toàn các năng lực của cõi luân hồi và sự điều phục các năng lực tiêu cực trong trời đất.
[4] hình tướng bốn chân sải bước thể hiện sự hoạt động không ngừng để cứu độ chúng sinh.


 

NGUYỆN CẦU XÓA BỎ MỌI CHƯỚNG NGẠI TRÊN CON ĐƯỜNG

The Prayer Which Removes All Obstacles from the Path (Barché Lamsel)

Tác giả: Orgyen Chokgyur Dechen Lingpa
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển

***


CA NGỢI 12 DANH HIỆU CỦA ĐỨC LIÊN HOA SANH

ཨོཾ་ཨཱཿཧཱུྃ་བཛྲ་གུ་རུ་པདྨ་སིདྡྷི་ཧཱུྃ༔

om ah hung benza guru pema siddhi hung

oṃ āh hūṃ vajra guru padma siddhi hūṃ

Chúng con cầu nguyện lên Pháp thân A Di Đà!
Chúng con cầu nguyện lên Báo thân—Đấng Đại Bi!
Chúng con cầu nguyện lên Ứng thân Liên Hoa Sanh! 

Sự hiển lộ kỳ diệu, bậc thầy của con, 
Tại Ấn Độ, ngài đã sinh ra, đã học tập và quán chiếu; 
Ngài đã đến trái tim của Tây Tạng, để khuất phục những ác ma kiêu ngạo, 
Tại Orgyen, ngài an trụ, thực hiện lợi ích cho chúng sinh: 

Với lòng bi mẫn của Ngài, hãy truyền cảm hứng cho chúng con bằng sự gia hộ của Ngài!
Với lòng từ ái của Ngài, hãy dẫn dắt chúng con và những người khác trên con đường!
Với sự chứng ngộ của Ngài, hãy ban cho chúng con những thành tựu!
Với sức mạnh của Ngài, hãy xua tan những chướng ngại đang đối diện tất cả chúng con!
Những chướng ngại bên ngoài—xua tan chúng ở bên ngoài,
Những chướng ngại bên trong—xua tan chúng ở bên trong,
Những chướng ngại bí mật—xua tan chúng vào không gian!
Trong sự sùng kính, con kính lễ và quy y nơi Ngài!

ཨོཾ་ཨཱཿཧཱུྃ་བཛྲ་གུ་རུ་པདྨ་སིདྡྷི་ཧཱུྃ༔

om ah hung benza guru pema siddhi hung

oṃ āh hūṃ vajra guru padma siddhi hūṃ

1- Gyalwé Dungdzin(1) - Bậc trì giữ dòng dõi của các Đấng Chiến Thắng

Khi chúng con chiêm ngưỡng điều kỳ diệu nơi hình tướng hoàn hảo của Ngài, 
Tay phải Ngài kết ấn của thanh kiếm, 
Tay trái kết ấn triệu thỉnh. 
Miệng Ngài mở, răng lộ ra, Ngài ngước nhìn lên bầu trời. 
Ôi Gyalwé Dungdzin, Đấng Hộ trì chúng sinh:

 Với lòng bi mẫn của Ngài, hãy truyền cảm hứng cho chúng con bằng sự gia hộ của Ngài!
Với lòng từ ái của Ngài, hãy dẫn dắt chúng con và những người khác trên con đường!
Với sự chứng ngộ của Ngài, hãy ban cho chúng con những thành tựu!
Với sức mạnh của Ngài, hãy xua tan những chướng ngại đang đối diện tất cả chúng con!
Những chướng ngại bên ngoài—xua tan chúng ở bên ngoài,
Những chướng ngại bên trong—xua tan chúng ở bên trong,
Những chướng ngại bí mật—xua tan chúng vào không gian!
Trong sự sùng kính, con kính lễ và quy y nơi Ngài!

ཨོཾ་ཨཱཿཧཱུྃ་བཛྲ་གུ་རུ་པདྨ་སིདྡྷི་ཧཱུྃ༔

om ah hung benza guru pema siddhi hung

oṃ āh hūṃ vajra guru padma siddhi hūṃ

2- Mawé Sengé - Sư Tử của ngôn thuyết (biểu trưng cho trí tuệ vô song, tương tự Văn Thù Bồ Tát).

Khi nghe những giáo lý vô giá của Pháp tạng,
Thân Ngài tỏa sáng với hào quang rực rỡ,
Trong tay phải, những bộ kinh của Tam Tạng,
Trong tay trái, các bản văn của Kīlaya.
Tất cả những giáo lý thâm sâu này đã thấm nhuần tâm Ngài,
Ôi Paṇḍita của Yangleshö:
 

 Với lòng bi mẫn của Ngài, hãy truyền cảm hứng cho chúng con bằng sự gia hộ của Ngài!
Với lòng từ ái của Ngài, hãy dẫn dắt chúng con và những người khác trên con đường!
Với sự chứng ngộ của Ngài, hãy ban cho chúng con những thành tựu!
Với sức mạnh của Ngài, hãy xua tan những chướng ngại đang đối diện tất cả chúng con!
Những chướng ngại bên ngoài—xua tan chúng ở bên ngoài,
Những chướng ngại bên trong—xua tan chúng ở bên trong,
Những chướng ngại bí mật—xua tan chúng vào không gian!
Trong sự sùng kính, con kính lễ và quy y nơi Ngài!

ཨོཾ་ཨཱཿཧཱུྃ་བཛྲ་གུ་རུ་པདྨ་སིདྡྷི་ཧཱུྃ༔

om ah hung benza guru pema siddhi hung

oṃ āh hūṃ vajra guru padma siddhi hūṃ

3- Kyéchok Tsul Zang - Bậc Thánh nhân tối thượng với phẩm hạnh cao quý

Khi đặt dưới lời thề các vị hộ pháp giữ trọn lời nguyện của mình 
Tại nơi quyền năng tối thượng ấy, tinh khiết và kỳ diệu, 
Ngay tại biên giới giữa Ấn Độ và Tây Tạng,2 
Ngài ban phước lành, và ngay khi Ngài đến 
Ngọn núi trở nên thơm ngát, hương thơm ngọt ngào lan tỏa trong không khí,
Ngay cả trong mùa đông hoa sen vẫn nở, 
Và có một dòng suối mang tên ‘Cam lồ của Giác ngộ'. 
Trong nơi tối thượng và thiêng liêng này, tràn ngập hỷ lạc, 
Ôi Kyéchok Tsul Zang, khoác trong y pháp,
Tay phải của ngài cầm một chày kim cang chín nhánh, 
Tay trái giữ một chiếc hộp khảm ngọc quý 
đầy tràn tinh chất cam lộ của rakta. 
Ngài ràng buộc bằng lời thệ ước các ḍākinī và những hộ pháp giữ gìn giới nguyện, 
và ngài đạt được thành tựu của việc được diện kiến trực tiếp vị bổn tôn tâm thể:

 Với lòng bi mẫn của Ngài, hãy truyền cảm hứng cho chúng con bằng sự gia hộ của Ngài!
Với lòng từ ái của Ngài, hãy dẫn dắt chúng con và những người khác trên con đường!
Với sự chứng ngộ của Ngài, hãy ban cho chúng con những thành tựu!
Với sức mạnh của Ngài, hãy xua tan những chướng ngại đang đối diện tất cả chúng con!
Những chướng ngại bên ngoài—xua tan chúng ở bên ngoài,
Những chướng ngại bên trong—xua tan chúng ở bên trong,
Những chướng ngại bí mật—xua tan chúng vào không gian!
Trong sự sùng kính, con kính lễ và quy y nơi Ngài!

ཨོཾ་ཨཱཿཧཱུྃ་བཛྲ་གུ་རུ་པདྨ་སིདྡྷི་ཧཱུྃ༔

om ah hung benza guru pema siddhi hung

oṃ āh hūṃ vajra guru padma siddhi hūṃ

4- Dükyi Shéchen - Bậc đại hàng phục ma quân

"Khi Ngài thiết lập giáo pháp của chư Phật,
Và tu tập tại rừng Núi Đá Phiến,
Cây linh chùy Phổ Ba của Ngài bay vút lên bầu trời bao la.
Ngài bắt lấy nó bằng ấn Kim Cang, rồi xoay tròn..."

giữa hai lòng bàn tay rồi phóng vào rừng Đàn Hương,
Khiến lửa bùng lên dữ dội, làm cạn khô cả hồ nước nơi ấy.
Chỉ trong nháy mắt, Ngài thiêu rụi vùng đất của ngoại đạo thành tro tàn,
Và nghiền nát lũ Dạ-xoa chúa tể bóng tối thành cát bụi.
Ôi đức Dükyi Shéchen vô song!"

 Với lòng bi mẫn của Ngài, hãy truyền cảm hứng cho chúng con bằng sự gia hộ của Ngài!
Với lòng từ ái của Ngài, hãy dẫn dắt chúng con và những người khác trên con đường!
Với sự chứng ngộ của Ngài, hãy ban cho chúng con những thành tựu!
Với sức mạnh của Ngài, hãy xua tan những chướng ngại đang đối diện tất cả chúng con!
Những chướng ngại bên ngoài—xua tan chúng ở bên ngoài,
Những chướng ngại bên trong—xua tan chúng ở bên trong,
Những chướng ngại bí mật—xua tan chúng vào không gian!
Trong sự sùng kính, con kính lễ và quy y nơi Ngài!

ཨོཾ་ཨཱཿཧཱུྃ་བཛྲ་གུ་རུ་པདྨ་སིདྡྷི་ཧཱུྃ༔

om ah hung benza guru pema siddhi hung

oṃ āh hūṃ vajra guru padma siddhi hūṃ

5- Dzam Ling Gyen Chok - Trang sức tối thượng của thế giới này (Nam Thiền Bộ Châu).

Khi chế ngự các la sát,
Ngài xuất hiện như một thanh niên trong y phục hóa thân,
Hình tướng kỳ diệu, xinh đẹp của Ngài, với sắc màu tuyệt đẹp,
Hàm răng hoàn hảo và mái tóc vàng, thật lộng lẫy
Như một thiếu niên mười sáu tuổi,
Khoác trên mình mọi đồ trang sức ngọc ngà.
Tay phải ngài nắm chặt một chiếc
linh chùy Phổ Ba bằng đồng,
Hàng phục các ma vương và la sát.
Bàn tay trái của ngài cầm một cây Phổ Ba bằng gỗ tếch, 
ban phước bảo hộ cho những người con trai và con gái tận tụy của ngài, 
trên cổ ngài đeo một chùy Phổ Ba bằng sắt— 
ngài và vị bổn tôn tâm thể là không thể tách rời, 
Ôi Dzam Ling Gyen Chok, hiện thân của tính bất nhị:

  Với lòng bi mẫn của Ngài, hãy truyền cảm hứng cho chúng con bằng sự gia hộ của Ngài!
Với lòng từ ái của Ngài, hãy dẫn dắt chúng con và những người khác trên con đường!
Với sự chứng ngộ của Ngài, hãy ban cho chúng con những thành tựu!
Với sức mạnh của Ngài, hãy xua tan những chướng ngại đang đối diện tất cả chúng con!
Những chướng ngại bên ngoài—xua tan chúng ở bên ngoài,
Những chướng ngại bên trong—xua tan chúng ở bên trong,
Những chướng ngại bí mật—xua tan chúng vào không gian!
Trong sự sùng kính, con kính lễ và quy y nơi Ngài!

ཨོཾ་ཨཱཿཧཱུྃ་བཛྲ་གུ་རུ་པདྨ་སིདྡྷི་ཧཱུྃ༔

om ah hung benza guru pema siddhi hung

oṃ āh hūṃ vajra guru padma siddhi hūṃ

6- Pemajungné - Liên Hoa Sinh (Bậc sinh ra từ hoa sen)

Khi bạn chọn đến, 'Xứ sở của những hóa thành’
Mặt đất nơi giàn hỏa thiêu rực cháy được thắp lên
Biến thành một hồ nước, rộng bằng một mũi tên bắn,
Nơi, trên một đóa hoa sen nở, Ngài xuất hiện, tuyệt vời và lấp lánh.
Trong hoa sen, Ngài hiển lộ sự chứng ngộ của mình 
Và đạt được danh hiệu Pemajungné, ‘Người sinh ra từ hoa sen’. 
Ngài hiện thân như một vị Phật giác ngộ hoàn toàn — 
Ôi hóa thân kỳ diệu, như chính Ngài:
 Với lòng bi mẫn của Ngài, hãy truyền cảm hứng cho chúng con bằng sự gia hộ của Ngài!
Với lòng từ ái của Ngài, hãy dẫn dắt chúng con và những người khác trên con đường!
Với sự chứng ngộ của Ngài, hãy ban cho chúng con những thành tựu!
Với sức mạnh của Ngài, hãy xua tan những chướng ngại đang đối diện tất cả chúng con!
Những chướng ngại bên ngoài—xua tan chúng ở bên ngoài,
Những chướng ngại bên trong—xua tan chúng ở bên trong,
Những chướng ngại bí mật—xua tan chúng vào không gian!
Trong sự sùng kính, con kính lễ và quy y nơi Ngài!

ཨོཾ་ཨཱཿཧཱུྃ་བཛྲ་གུ་རུ་པདྨ་སིདྡྷི་ཧཱུྃ༔

om ah hung benza guru pema siddhi hung

oṃ āh hūṃ vajra guru padma siddhi hūṃ

7- Khyépar Pakpé Rigdzin - Bậc Trì Minh Vương (Vidyadhara) siêu việt đặc biệt.

Khi Ngài tỏa sáng như mặt trời trên Tây Tạng,
Một vị dẫn đường đầy kính ngưỡng cho bất kỳ ai mang lòng sùng kính trong tim,
Ngài hiển hiện bất cứ hình tướng nào mà mỗi chúng sinh cần để được điều phục.
Trên cao nơi đèo Khala thuộc Tsang,
Ngài khiến các cư
hộ trì là các chiến thần phải lập lời giới nguyện.
Xuống tận thung lũng Tsawarong,
Chính những vị cư sĩ là
thần núi kiêu mạn của chư thiên,
Hai mươi mốt vị ấy, Ngài đã buộc họ phải tuyên thệ lòng trung thành.
Tại Mangyul, nơi ngôi đền 'Tầng Mây Yêu Thương' (Jampa Trulnang),
Ngài đã ban các thành tựu cho bốn vị tỳ-kheo.3

"Ôi Đấng Trì Minh Thù Thắng Siêu Việt (Khyépar Pakpé Rigdzin)!"

Với lòng bi mẫn của Ngài, hãy truyền cảm hứng cho chúng con bằng sự gia hộ của Ngài!
Với lòng từ ái của Ngài, hãy dẫn dắt chúng con và những người khác trên con đường!
Với sự chứng ngộ của Ngài, hãy ban cho chúng con những thành tựu!
Với sức mạnh của Ngài, hãy xua tan những chướng ngại đang đối diện tất cả chúng con!
Những chướng ngại bên ngoài—xua tan chúng ở bên ngoài,
Những chướng ngại bên trong—xua tan chúng ở bên trong,
Những chướng ngại bí mật—xua tan chúng vào không gian!
Trong sự sùng kính, con kính lễ và quy y nơi Ngài!

ཨོཾ་ཨཱཿཧཱུྃ་བཛྲ་གུ་རུ་པདྨ་སིདྡྷི་ཧཱུྃ༔

om ah hung benza guru pema siddhi hung

oṃ āh hūṃ vajra guru padma siddhi hūṃ

8- Dzütrul Thuchen - Bậc đại thần thông lực.

Trên thảo nguyên vinh quang của Palmotang
Ngài thề với mười hai nữ thần tenma một lời thề ràng buộc.
Trên đèo Khala ở miền Trung Tây Tạng,
Ngài nối kết nữ thần tuyết trắng Gangkar Shamé bằng lời thề.

Trong vùng đầm lầy Damshö trước Núi Lhabüi Nying,
Ngài tuyên thệ với Thangla Yarshu một lời nguyện long trọng.
Trên cao, trên đỉnh Núi Hépori,
Ngài bắt tất cả chư thiên và la sát phải thề:

Và trong số tất cả các vị thiên thần và ác quỷ to lớn này,
Một số dâng hiến chính bản chất của sinh lực mình,
Một số trở thành người hộ vệ những lời dạy,
Những vị khác cam kết sẽ hành động như những người thị giả của ngài.
Hỡi Dzutrul Thuchen vĩ đại:

Với lòng bi mẫn của Ngài, hãy truyền cảm hứng cho chúng con bằng sự gia hộ của Ngài!
Với lòng từ ái của Ngài, hãy dẫn dắt chúng con và những người khác trên con đường!
Với sự chứng ngộ của Ngài, hãy ban cho chúng con những thành tựu!
Với sức mạnh của Ngài, hãy xua tan những chướng ngại đang đối diện tất cả chúng con!
Những chướng ngại bên ngoài—xua tan chúng ở bên ngoài,
Những chướng ngại bên trong—xua tan chúng ở bên trong,
Những chướng ngại bí mật—xua tan chúng vào không gian!
Trong sự sùng kính, con kính lễ và quy y nơi Ngài!

ཨོཾ་ཨཱཿཧཱུྃ་བཛྲ་གུ་རུ་པདྨ་སིདྡྷི་ཧཱུྃ༔

om ah hung benza guru pema siddhi hung

oṃ āh hūṃ vajra guru padma siddhi hūṃ

9- Dorjé Drakpo Tsal - Kim Cang Phẫn Nộ Lực

Khi bạn gieo trồng những lời dạy vi diệu của Chánh Pháp,
Tựa như đang dựng lên lá cờ chiến thắng,
Tâm
linh Samyé tự nhiên viên thành, không cần xây dựng,
Và toàn bộ viễn kiến của nhà vua được thành tựu.

Sau đó, con mang tên của ba đấng tối cao—
Một là Padmākara, 'Sinh ra từ hoa sen',
Một là Liên Hoa Sanh - Padmasambhava,
Và một người là Tsokyé Dorjé, Kim Cang sinh ra ở hồ'.
Hỡi Dorjé Drakpo Tsal, giờ đây chúng con kêu cầu ngài bằng danh xưng bí ẩn của ngài

Với lòng bi mẫn của Ngài, hãy truyền cảm hứng cho chúng con bằng sự gia hộ của Ngài!
Với lòng từ ái của Ngài, hãy dẫn dắt chúng con và những người khác trên con đường!
Với sự chứng ngộ của Ngài, hãy ban cho chúng con những thành tựu!
Với sức mạnh của Ngài, hãy xua tan những chướng ngại đang đối diện tất cả chúng con!
Những chướng ngại bên ngoài—xua tan chúng ở bên ngoài,
Những chướng ngại bên trong—xua tan chúng ở bên trong,
Những chướng ngại bí mật—xua tan chúng vào không gian!
Trong sự sùng kính, con kính lễ và quy y nơi Ngài!

ཨོཾ་ཨཱཿཧཱུྃ་བཛྲ་གུ་རུ་པདྨ་སིདྡྷི་ཧཱུྃ༔

om ah hung benza guru pema siddhi hung

oṃ āh hūṃ vajra guru padma siddhi hūṃ

10- Kalden Drendzé - Bậc dẫn dắt những người hữu duyên

Khi Ngài thực hành tại Samyé Chimphu,
Ngài xua tan những hoàn cảnh bất lợi và đạt được những thành tựu.
Ngài đưa nhà vua và các thượng thư đi trên con đường giải thoát,
Phá hủy những giáo lý của Bönpo mà triệu hồi các ác thần,
Và thể hiện pháp thân, quý giá và thanh khiết.
O Kalden Drendzé, người dẫn dắt chúng con, những kẻ may mắn đến Phật quả:

Với lòng bi mẫn của Ngài, hãy truyền cảm hứng cho chúng con bằng sự gia hộ của Ngài!
Với lòng từ ái của Ngài, hãy dẫn dắt chúng con và những người khác trên con đường!
Với sự chứng ngộ của Ngài, hãy ban cho chúng con những thành tựu!
Với sức mạnh của Ngài, hãy xua tan những chướng ngại đang đối diện tất cả chúng con!
Những chướng ngại bên ngoài—xua tan chúng ở bên ngoài,
Những chướng ngại bên trong—xua tan chúng ở bên trong,
Những chướng ngại bí mật—xua tan chúng vào không gian!
Trong sự sùng kính, con kính lễ và quy y nơi Ngài!

ཨོཾ་ཨཱཿཧཱུྃ་བཛྲ་གུ་རུ་པདྨ་སིདྡྷི་ཧཱུྃ༔

om ah hung benza guru pema siddhi hung

oṃ āh hūṃ vajra guru padma siddhi hūṃ

11- Rakṣa Tötreng - La Sát Phổ Hiền (vị quỷ vương đeo tràng hạt đầu lâu - thể hiện sự hàng phục các loài hung dữ như La sát)

Rồi ngươi rời đi, đến vùng đất Orgyen,
Nơi giờ đây Ngài khuất phục những con quỷ la sát;
Điều kỳ diệu vĩ đại – vượt qua bất kỳ con người nào,
Một kỳ quan vĩ đại – trong những hành động giác ngộ phi thường của ngài,
Một Sức mạnh vĩ đại – với tất cả những quyền năng kỳ diệu của ngài:

Với lòng bi mẫn của Ngài, hãy truyền cảm hứng cho chúng con bằng sự gia hộ của Ngài!
Với lòng từ ái của Ngài, hãy dẫn dắt chúng con và những người khác trên con đường!
Với sự chứng ngộ của Ngài, hãy ban cho chúng con những thành tựu!
Với sức mạnh của Ngài, hãy xua tan những chướng ngại đang đối diện tất cả chúng con!
Những chướng ngại bên ngoài—xua tan chúng ở bên ngoài,
Những chướng ngại bên trong—xua tan chúng ở bên trong,
Những chướng ngại bí mật—xua tan chúng vào không gian!
Trong sự sùng kính, con kính lễ và quy y nơi Ngài!

ཨོཾ་ཨཱཿཧཱུྃ་བཛྲ་གུ་རུ་པདྨ་སིདྡྷི་ཧཱུྃ༔

om ah hung benza guru pema siddhi hung

oṃ āh hūṃ vajra guru padma siddhi hūṃ

12- Guru Dechen Gyalpo - Đạo sư Đại Lạc Vương

Được ban cho trí tuệ về thân, ngữ và tâm, Ngài là vị hướng dẫn vinh quang của chúng con;
Ngài đã tự giải phóng mình khỏi những che mờ, và do đó, hiểu biết ba cõi một cách rõ ràng, sống động;
Ngài đã đạt được thần tựu tối cao, và do đó sở hữu thân thể tối cao của đại lạc tuyệt vời;
Hãy loại bỏ vĩnh viễn mọi chướng ngại để chúng con giác ngộ!

Với lòng bi mẫn của Ngài, hãy truyền cảm hứng cho chúng con bằng sự gia hộ của Ngài!
Với lòng từ ái của Ngài, hãy dẫn dắt chúng con và những người khác trên con đường!
Với sự chứng ngộ của Ngài, hãy ban cho chúng con những thành tựu!
Với sức mạnh của Ngài, hãy xua tan những chướng ngại đang đối diện tất cả chúng con!
Những chướng ngại bên ngoài—xua tan chúng ở bên ngoài,
Những chướng ngại bên trong—xua tan chúng ở bên trong,
Những chướng ngại bí mật—xua tan chúng vào không gian!
Trong sự sùng kính, con kính lễ và quy y nơi Ngài!

ཨོཾ་ཨཱཿཧཱུྃ་བཛྲ་གུ་རུ་པདྨ་སིདྡྷི་ཧཱུྃ༔

om ah hung benza guru pema siddhi hung

oṃ āh hūṃ vajra guru padma siddhi hūṃ

ཨོཾ་ཨཱཿཧཱུྃ་བཛྲ་གུ་རུ་པདྨ་ཐོད་ཕྲེང་རྩལ་བཛྲ་ས་མ་ཡ་ཛཿསིདྡྷི་ཕ་ལ་ཧཱུྃ་ཨཱ༔

om ah hung benza guru pema tötreng tsal benza samaya dza siddhi pala hung a

oṃ āh hūṃ vajra guru padma tötreng tsal vajra samaya jaḥ siddhi phala hūṃ āḥ

 ***

Không còn nghi ngờ gì nữa, vị đại bạch bảo sư Orgyen Chokgyur Dechen Lingpa đã hiện thân đặc biệt cho thời đại này. Từ dưới chân Đấng Vĩ đại Tuyệt vời tại cửa Danyin Khala Rong, ngài đã mặc khải 'Sách hướng dẫn truyền khẩu tinh túy: Bảo vật Ban Ước' từ 'Thực hành Trái tim của Đạo sư:
Xua tan Mọi Chướng ngại vật' – Lamé Tukdrup Barché Kunsel. Lời cầu nguyện này tạo thành
phương pháp tu tập bên ngoài của sự mặc khải này.

Cầu mong lời cầu nguyện này trở thành
nguyên nhân để hoàn toàn hóa giải mọi chướng ngại và sự suy đồi cho cả
giáo lý và chúng sinh, đồng thời đạt được mọi mục tiêu của đức hạnh và
thiện lành! Maṅgalaṃ!

Translated with https://laratranslate.com 

Rigpa Translations, 2013. Revised 2016, 2017 & 2020. With many thanks to Hubert Decleer for his clarifications concerning place names, and to Erik Pema Kunsang for his pioneering translation of this text.

 

Version: 4.3-20220309

1.   
 Trong thực hành liên quan đến lời cầu nguyện này, Guru Rinpoche hiện thân là Orgyen Tötreng Tsal, được bao quanh bởi mười hai hóa thân của ngài: Gyalwé Dungdzin, Mawé Sengé, Kyéchok Tsulzang, Dükyi
Shéchen, Dzamling Gyenchok, Pemajungné, Khyépar Pakpé Rigdzin, Dzutrul Tuchen,
Dorjé Drakpo Tsal, Kalden Drendzé, Rakṣa Tötreng và Dechen Gyalpo.

2.   
 Hubert Decleer đã lập luận rằng dòng này
thực tế nên đọc là:
རྒྱ་གར་བལ་ཡུལ་ས་མཚམས་སུ༔, tức là “Ngay trên biên giới giữa Ấn Độ và
Nepal,”

3.   
 Đây là bốn sứ giả do Vua Tri Songdetsen điều đến để mời Đức Padmasambhava đến Tây Tạng, gồm có Nanam Dorje Dudjom, Palgyi Sengé, Shakyaprabha và Palgyi Senge.

 

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/chokgyur-dechen-lingpa/barche-lamsel