Thứ Ba, 14 tháng 4, 2026

CHUYẾN BAY CỦA ĐẠI BÀNG KIM SÚY ĐIỂU

Lời nguyện cho bốn trung ấm giúp đồng thời cắt đứt mọi cõi của luân hồi và niết-bàn

The Flight of the Garuda
An Aspiration for the Four Bardos That Simultaneously Cuts Through All Realms of Saṃsāra and Nirvāṇa

Tác giả: the Second Shechen Rabjam
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển


Hundred Peaceful & Wrathful Deities


***

 Đức A Di Đà, Đức Quán Thế Âm, Đức Kim Cang Tát Đỏa,
Năm gia
đình Phật, Trăm Bộ Phật, Đức Liên Hoa Sinh,
Tam Căn Bản, chư bổn
tôn hiền hòa và phẫn nộ, cùng Tam Bảo Tối Thượng—
Từ tận đáy lòng, chúng
con cầu nguyện chư vị: xin ban phước lành!

Trong một đài quang minh cầu vồng xoáy chuyển phía trên đỉnh đầu con,
An trụ vững chắc trên tòa sen, mặt trời và mặt trăng bất khả phân—
Kính lễ vị Đạo
sư tôn quý, hiện thân của mọi gia trì,
Chúng
con nhất tâm cầu nguyện: xin từ bi đoái nhìn những đứa con của các Ngài!

 Đảnh lễ Đức Phật Phổ Hiền, bản giác thanh tịnh nguyên sơ,
Vốn luôn an trụ như thân bình trẻ trung nơi trung tâm trái tim con,
Chúng
con cầu nguyện, nhận ra bản tánh của mình bất khả phân với Ngài:
Xin gia trì để trạng thái tự nhiên hiển lộ nguyên
.”

Con đã đạt được thân người quý báu với đủ tự do và thuận duyên, thật khó tìm,
Con đã gặp được vị Đạo
sư chân chính, đầy đủ phẩm hạnh, thật khó gặp,
Con đã thọ nhận con đường tối thượng của sự thành thục và giải thoát thuộc Bí
Mật vĩ đại, thật khó đạt được.
Xin gia trì để con có thể thành tựu con đường giải thoát, điều thật khó thành tựu.

Với một tâm trí luôn nhanh chóng nhớ đến vô thường và cái chết,
Nguyện cho con thấy những thú vui và của cải của luân hồi chỉ như tia chớp lóe lên,
Hoặc mong manh, không thật như cầu vồng giữa bầu trời.
Xin gia hộ để sự khẩn thiết ấy khởi sinh trong tâm con.

Xin gia hộ để con thấy vòng luân hồi như một vực thẳm đáng sợ,
Như ổ rắn độc hay cõi của loài quỷ dữ,
Và từ tận sâu thẳm trong con, nguyện quay lưng lại
Với mọi sự chấp trước vào những việc của đời này.

Xin gia hộ để con suy xét cẩn trọng về kết quả của hành động thiện và bất thiện, biết điều gì nên làm và điều gì nên tránh,
Rồi dâng hiến ba nghiệp của con cùng với của cải vật chất cho thiện hạnh,
Và nỗ lực tích lũy hai tư lương thanh tịnh là phước
đức và trí tuệ,
Khi con hòa nhập dòng tâm thức của mình với Chánh Pháp.

Xin gia hộ cho con lòng từ bi để nhận ra tất cả chúng sinh đều từng là cha mẹ của con,
Và nguyện tự mình gánh vác trọng trách lớn lao là giải thoát
Những ai đang trôi dạt trong đại dương của hang
trăm nỗi khổ,
Cùng thành tựu sự phát khởi tâm Bồ-đề một cách rộng lớn.

Xin gia hộ để con đạt đến sự viên mãn không sai lầm
Của tất cả những pháp tu thâm diệu về bổn tôn, mật
ngôn và định lực (samādhi),
Thuộc hai giai đoạn phát khởi và viên mãn,
Được tịnh hóa bằng dòng sông của bốn quán đỉnh,
Rửa sạch mọi phiền não chướng và sở tri chướng đã tích lũy từ vô thủy kiếp.

Xin gia hộ cho con có được kiến giải chứng ngộ tính bình đẳng của luân hồi và niết bàn,
Thiền định về linh
quang thanh tịnh không gián đoạn,
Và hạnh Bồ Tát đầy đủ sáu ba-la-mật,
Nhờ đó con có thể đạt được quả vị của bốn thân (tứ thân Phật[1]).

Nguyện cho các hiện tượng tầm thường—môi trường và chúng sinh—hiện bày như mandala của chư bổn tôn,
Nguyện cho mọi âm thanh—bên ngoài và bên trong—được nhận ra như âm vang của mật
ngôn,
Nguyện cho mọi ý niệm phân biệt được giải thoát vào trong
pháp tánh (dharmatā),
Nguyện cho bất cứ điều gì hiển hiện đều là mandala thanh tịnh. 

Nguyện cho các nút thắt trong các kinh mạch cố định được tự nhiên tháo mở,
Nguyện cho các luồng khí (winds) lưu chuyển đi vào kinh mạch trung ương,
Nguyện cho các giọt tinh yếu (bindu) của tâm được nhận ra đúng với bản tánh chân thật của chúng,
Nguyện cho con thành tựu con đường thâm diệu của Kim Cang Du-già. 

Từ trạng thái nhất tâm an tĩnh,
Trong bản tánh bất động của thực tại chân như,
Nguyện con tu tập pháp hợp nhất giữa chỉ (śamatha) và quán (vipaśyanā),
Trong trí tuệ nguyên sơ nơi mọi hiện tướng khởi hiện một cách rõ ràng và không
che dấu

Xin gia hộ cho con, với định lực (samādhi) như hư không,
trong trạng thái an trú thiền định của tánh Không thoát khỏi mọi biên kiến và diễn giải khái niệm,
Và trong hậu thiền định nhận ra tính chất huyễn hóa,
Nguyện thiền định và hậu thiền định hòa nhập thành một dòng liên tục của tánh Không không gián đoạn. 

Trong cảnh giới cắt xuyên qua, pháp giới tự do bất tận của trạng thái tự nhiên vốn thanh tịnh từ nguyên thủy,
Trong trí tuệ nguyên sơ của tâm tánh tự giải thoát,
Nơi các thân (kāyas) và trí tuệ vốn tự hiển bày một cách tự nhiên,
Nguyện xin gia hộ để con có thể thấu giải các trạng thái trung ấm ngay trong chính đời này.

Dù con chưa chứng ngộ được trạng thái ấy,
Nhờ trí tuệ và lòng bi mẫn của các nguồn
quy y,
Nguyện xin gia hộ để con tránh khỏi những khổ đau nặng nề do bệnh tật và các nghịch cảnh,
Và biết chuyển hóa mọi cảm thọ đau khổ thành con đường tu tập.

Vào thời điểm lâm chung, sau khi đã buông bỏ mọi chấp trước và tư tưởng phân biệt,
Như thể xâu kim bằng những chỉ dạy cốt yếu
Về hai giai đoạn phát khởi và viên mãn, trì tụng, cùng các kinh mạch, khí và tinh giọt,
Nguyện con có thể duy trì sự thực hành không gián đoạn và không tán loạn.

Khi bệnh tật tước đi sức mạnh của thân thể huyễn hóa,
Và các căn, các năng lực và các thức trở nên mờ đục,
Nguyện cho mọi nỗi đau đi kèm sự tách rời của thân và tâm
Được chuyển hóa, nhờ gia trì của Ngài, thành trợ duyên cho thiền định (samādhi).

Khi các uẩn, bốn trí tuệ, bốn đại,
Bốn căn và bốn đối tượng—hai mươi yếu tố thô này—1
Tan rã, và các thức giác quan thu rút vào trong,
Nguyện cho tâm con vẫn an trú không dao động và đầy tự tin.

 Khi bốn yếu tố nội tại vi tế hòa tan vào nhau,
Và các luồng khí (wind/“prāṇa”) đi vào kinh mạch trung ương cùng với các dấu hiệu nội tâm,
Bằng việc nhận ra các hình tướng rỗng không hiện ra như sự hiển bày của nhận thức,
Nguyện con an trú không dao động trong trạng thái linh
quang (ánh sáng trong suốt).

 Khi yếu tố đất tan vào yếu tố nước, sinh lực của thân suy giảm,
khiến thân không thể cử động và có cảm giác như đang rơi vào một cái hố sâu.
Khi đó, sương mù hoặc trạng thái mờ đục như khói xuất hiện.
Nguyện con nhận ra sự tan rã của “khí đất” (earth-wind) đi vào kinh mạch trung ương.

 Khi nước tan vào lửa, nước bọt và dịch mũi chảy ra nhiều,
Ban đầu rồi tất cả độ ẩm dần khô kiệt;
Và xuất hiện các chuyển động giống như ảo ảnh, như mưa nhẹ.
Nguyện con nhận ra sự tan rã của “khí nước” (water-wind) đi vào kinh mạch trung ương.

 Khi lửa tan vào gió, hơi ấm của thân thể suy giảm,
Và nhiệt từ các chi
(tay chân) dồn về tim.
Ánh sáng đỏ chớp nháy và tỏa ra như những tia lửa.
Nguyện con nhận ra sự tan rã của “khí lửa” (fire-wind) đi vào kinh mạch trung ương.

Khi gió tan vào tâm thức, hơi thở thoát ra.
Dù có thể hít vào nhẹ nhàng, nhưng cảm giác trở nên nặng nề và nông cạn.
Một ánh sáng xuất hiện, trong sáng như ngọn đèn, không bị lay động bởi gió.
Nguyện con nhận ra sự tan rã của chính “khí gió” (wind of wind) vào trong tâm thức.

 Rồi khi bốn luồng khí (winds) dần lắng xuống,
“đại nghiệp phong” của kiếp (karmic wind of the aeon) được khởi động,
và tâm thức trở nên mờ đục, không rõ ràng, bất ổn.
Khi máu từ các mạch phụ tụ lại trong mạch sống,

Tri giác và nhận biết trở nên tối lại như hoàng hôn đang buông xuống, rồi chấm dứt.
Khi tâm thức tụ lại ở trung tâm trái tim, giọt máu ở phía trên di chuyển;
đôi mắt trợn ngược lên, và hơi thở bên ngoài dừng lại ở một khoảng cách bằng một khuỷu tay.

Rồi khi giọt thứ hai di chuyển, đầu gục xuống,
và với một âm “ha”, hơi thở kéo dài ra ngoài một khoảng bằng mũi tên.
Cuối cùng, khi giọt máu thứ ba được khuấy động, phát ra âm “ik”.
Hơi thở bên ngoài kéo dài ra một sải tay rồi chấm dứt.
Nguyện con nhận ra sự tan rã của khí (wind) vào trong tâm thức.

Rồi, khi thức tan vào không gian, 
Dấu hiệu bên ngoài là ánh sáng năm màu lấp lánh như ảo ảnh. 
Dấu hiệu bên trong là sự rõ ràng không tốn công phu và không có khái niệm. 
Nguyện con nhận ra trí tuệ của hình tướng là bản tính của chính mình.

Sau đó, khi ý thức tan vào không gian, 
Dấu hiệu bên ngoài là ánh sáng năm màu chớp nháy như ảo ảnh. 
Dấu hiệu bên trong là sự rõ ràng không có sự trình bày và không có khái niệm. 
Nguyện con nhận ra trí tuệ của sự xuất hiện là bản chất của chính mình.

Từ haṃ ở đỉnh đầu, yếu tố trắng tan ra
Vào giọt ở trung tâm của trái tim. Dấu hiệu bên ngoài là sự trắng sáng,
Và dấu hiệu bên trong rõ ràng hơn trước, nảy sinh mà không cố định.
Nguyện con nhận ra trí tuệ của sự gia tăng như bản chất của chính mình.

Đoạn đỏ ngắn từ rốn thăng lên
Và tan vào giọt ở trái tim. Dấu hiệu bên ngoài là màu đỏ,
Trong khi dấu hiệu bên trong là một sự sáng suốt vô cùng tinh tế, sự không thể tách rời của gió và tâm.
Nguyện con nhận ra trí huệ của sự đạt được như bản chất của chính mình.

Với sự xuất hiện, ba mươi ba trạng thái khái niệm liên quan đến cơn giận chấm dứt.
Với sự tăng trưởng, bốn mươi trạng thái khái niệm của dục vọng chấm dứt.
Và, với sự đạt được, bảy trạng thái liên quan đến sự nhầm lẫn chấm dứt.
Tám mươi khái niệm tự nhiên liên quan đến ba độc tố này
Che khuất trí tuệ của sự xuất hiện, sự tăng trưởng và sự đạt được.
Thông qua sự chấm dứt tự nhiên của những phiền não tâm lý khái niệm này,
Nguyện con có thể làm chủ ánh sáng tự nhiên của tánh không tự nhiên, của tánh không cực đoan,
Và của tánh không vĩ đại. 

Khi ý thức bị bao phủ bởi ngọn lửa rực cháy và nhỏ giọt của một haṃ, 
Dấu hiệu bên ngoài là một trải nghiệm về sự đen tối, giống như bóng tối dày đặc, 
Và dấu hiệu bên trong xuất hiện giống như bầu trời thu sáng rõ. 
Nguyện con nhận ra trí tuệ của sự gần đạt được như bản tính của chính mình.

Bản chất đó, nguyên thủy tinh khiết, là trống rỗng về bản chất; 
Biểu hiện tự nhiên của nó là niềm hạnh phúc rực rỡ không có điểm tham chiếu, 
Và nó tạo nền tảng cho sự xuất hiện của mọi trí huệ, tinh tế và thô thiển. 
Nguyện rằng ánh sáng của pháp thân trong khoảnh khắc cái chết sẽ hiện ra. 

Do đó, khi bốn ánh sáng pháp thân dần dần xuất hiện
Từ sự trống rỗng của chính tâm trí,
Trí tuệ thuần khiết nguyên sơ cắt xuyên qua sự vững chắc,
Nguyện con được giải thoát tự nhiên trong nền tảng nhận thức thuần khiết nguyên sơ.

 Sau đó, trong trung ấm của pháp tánh, 
Khi không gian tan biến vào ánh sáng, 
Có bốn biểu hiện: những sự xuất hiện của nền tảng nguyên sơ, 
Sự kết hợp của các cụm hình cầu, sự kết hợp của bốn trí tuệ, và sự hiện diện vĩ đại tự phát.

Đầu tiên, khi sự xuất hiện của mặt đất nguyên sơ sinh khởi, 
Những tia sáng cầu vồng năm màu từ các quả cầu trí tuệ 
Của năm ánh sáng trên bầu trời trước mặt con kết nối với đôi mắt con. 
Nguyện cho con nhận ra đây là sợi dây của lòng từ bi liên tục,
Con đường trực tiếp và bí mật của Kim Cang Tát Đỏa, 
Và bằng cách tập trung sự tỉnh thức một cách không bị xao lãng và nhất tâm vào nó, 
Mong rằng mẹ và con pháp tánh sẽ hợp nhất ngay lập tức 
Vào không gian tối thượng phía trên như một ngôi sao băng.

 Nếu điều này không được nhận diện, thì mặc dù không có sự thay đổi theo thời gian, 
Với một sự thay đổi trong sự biểu hiện,
Một cõi sáng rộng lớn và tuyệt vời sẽ xuất hiện 
Trong đó, một khối lượng các tia sáng tinh khiết và tinh tế,
Tất cả đều rõ ràng và rực rỡ, lung linh và rung động, 
Di chuyển và lắc lư, khi chúng lan tỏa khắp nơi và mọi thứ. 
Nguyện con
có thể nhận ra tất cả chúng như sự biểu hiện của chính sự tỉnh thức của tôi 
Và được giải thoát ngay tại khoảnh khắc đó.
Trong không gian đó, các cụm của sự hợp nhất [của sự rõ ràng và tánh không]
Xuất hiện với tiếng ồn và ánh sáng chói lóa khủng khiếp, áp đảo.
Và các hình thức giận dữ của các vị bổn tôn với dáng vẻ đáng sợ, hét lên "Hūṃ!" và "Phaṭ!"
Chúng chỉ đơn giản là ánh sáng tự nhiên của các vị bổn tôn an lạc trong tâm, biểu lộ ra ngoài.

Maṇḍala của Kim Cang Giới (Vajradhātu) xuất hiện vào thời điểm này, 
Và trong một đại sảnh ánh sáng năm màu, vị bổn tôn chính và đoàn tùy tùng của năm gia đình, 
Gồm vô số chùm năm quả cầu, hiện ra. 
Nguyện con nhận ra họ như nhận ra chính khuôn mặt mình trong gương.

Khi những sợi ánh sáng tỏa ra từ trái tim con
Và hòa tan vào trái tim của các vị bổn tôn trong các chùm (năm quả cầu),  
Mong con nhận ra sự tỉnh thức đi vào ánh sáng, 
Và được giải thoát trong sự bất nhị của tỉnh thức của chính con và hình tướng của vị bổn tôn.

Ánh sáng từ trái tim của các vị bổn tôn xuyên qua trái tim con, 
Và, như các vị bổn tôn của các chùm sao, biểu hiện năng động của nhận thức, 
Tan chảy trở lại vào lòng của tự nhận thức, như một đứa trẻ nhảy lên lòng mẹ, 
Nguyện cho con nhận ra ánh sáng giao thoa với sự tỉnh thức.

Khi trí tuệ của sự hợp nhất tan rã, 
Bốn ánh sáng—xanh, trắng, vàng, và đỏ— 
Từ trái tim con lan tỏa thành từng lớp trên bầu trời như tấm vải mở rộng. 
Trên mỗi ánh sáng, các giọt bindu tương ứng với màu sắc của chúng xuất hiện, 
Giống như những bát úp ngược, 
Mỗi bát trang trí với năm bindu nhỏ xíu của ánh sáng năm màu. 
Khi ý thức vẫn vững vàng như dao mổ vàng của một bác sĩ phẫu thuật, 
Nguyện sự giải thoát xảy ra trong không gian của trí tuệ bốn chiều.

Khi sự xuất hiện của trí tuệ tan biến vào hiện diện tự phát, 
Nhận thức của tôi giống như một bầu trời tinh khiết. 
Một quả cầu xanh với hào quang ánh sáng năm màu xuất hiện, 
Bao trùm một không gian vô cùng vô hạn, tinh túy của Phổ Hiền.

Trên là những vị bổn tôn phẫn nộ, và ngay dưới là những vị bổn tôn an bình.
Ở các hướng chính và phụ, các cõi hóa thân (nirmāṇakāya) được sắp xếp một cách đẹp đẽ,
Và dưới là sáu cõi với các bậc thầy (muni) của chúng, những người thuần hóa chúng sinh.

Phát sinh như lòng từ bi, luân hồi và niết bàn không tách rời.
Phát sinh như ánh sáng, tất cả các hiện tượng được chiếu sáng bên trong.
Phát sinh như các thân (kāya) đã giác ngộ, ý thức không đi ra ngoài.
Phát sinh như trí tuệ nguyên thủy, các hiện tượng trở nên trong suốt.
Phát sinh như bất nhị, ý thức an trụ một cách vững vàng.
Phát sinh như tự do khỏi các cực đoan, người ta không rơi vào chủ nghĩa vĩnh hằng hay hư vô.

Qua cánh cửa không thuần khiết, nguồn gốc của sự tồn tại không bị chặn lại. 
Qua cánh cửa thuần khiết, mẹ và con pháp tánh hòa nhập. 
Nguyện con nhận ra bản chất thật sự của tám cách phát sinh này!

Nhớ lại vị bổn tôn, người ta thấy khuôn mặt của bổn tôn tâm thể. 
Nhớ lại con đường, người ta làm chủ pháp tánh của trạng thái trung gian. 
Nhớ lại nơi sinh, người ta tái sinh trong các cõi hóa thân. 
Nhớ lại sự thâm nhập thiền định an chỉ, ta duy trì trong thiền tập trong năm ngày. 
Nhớ lại các chỉ dẫn, ta trải nghiệm nhận thức của mình một cách không phân biệt. 
Nhớ lại quan điểm, người ta được giải thoát qua sự nhận thức, như thể gặp lại một người bạn cũ.

Thông qua thần thông của các giác quan, ta thấy các cõi và biết được những kiếp sống trước.
Thông qua thần thông của tâm, người ta biết được sự sống và cái chết.
Thông qua thần thông của trí tuệ, người ta biết được tâm trí của người khác.
Thông qua thần thông của trí tuệ nguyên sơ, người ta biết được tất cả các hiện tượng ẩn giấu.
Thông qua thần thông của tầm nhìn trí tuệ, người ta phát ra các hiện thân.
Thông qua thần thông vô nhiễm, người ta biết tất cả các hiện tượng của luân hồi và niết bàn.

 Nguyện cho con có thể tinh thông vô số đà-la-ni và các tầng định,
Và từ cảnh giới pháp thân, hiển lộ thành báo thân.
Nguyện cho con du hành qua vô lượng cõi giới, lắng nghe chư Thiện Thệ thuyết pháp.
Và nguyện cho con có năng lực hóa hiện để dẫn dắt tất cả chúng sinh.

 Khi con nhờ đó đạt được sự tự tin vào sự hiển lộ tự phát,
Sau khi mỗi trong tám cách khởi sinh tan biến vào chính nó:
Lòng bi mẫn tan vào lòng bi mẫn như những tia nắng
Trở về với mặt trời, vượt lên cõi của các hiện tướng cảm nhận.

 Ánh sáng tan vào ánh sáng như cầu vồng phai nhạt, 
Hòa quyện thành một vị trong bao la, không còn đặc tính riêng biệt. 

Thân (Kāya) tan vào than (kāya), như thân thể trong một chiếc bình, 
Không còn những đặc điểm như khuôn mặt và bàn tay, hoàn toàn thanh tịnh.

 Trí tuệ tan hòa vào trí tuệ như đứa trẻ nhảy vào lòng mẹ, 
Khi người mẹ và đứa con của thực tại tối hậu hòa làm một.

 Bất nhị tan hòa vào chính nó, như nước hòa vào nước, 
Trở thành một vị duy nhất trong pháp thân nguyên sơ.

 Tự do khỏi những cực đoan tan vào tự do khỏi những cực đoan, như không gian bên trong một vật chứa 
Hòa nhập với không gian bên ngoài, sự bao la vượt ra ngoài tâm trí khái niệm.

Khi cánh cổng của luân hồi tan hòa vào cánh cổng của trí tuệ, 
Nó cô đọng lại thành một bindu duy nhất như một chiếc lều lông yak đang sụp xuống. 

Khi trí tuệ thuần khiết tan vào bản thể của nó, 
Như sư tử tuyết chiếm lĩnh một ngọn núi, 
Tỉnh thức chạm đến nền tảng của giải thoát nguyên sơ, không còn sợ hãi. 
Nguyện cho chúng ta đạt được trạng thái bất biến trong cõi của Phổ Hiền!

 Nếu tôi thiếu tự tin trong khi thực hành trong trung ấm của pháp tánh
Thì khi quang minh của cái chết hiện ra như pháp thân,
Nguyện con sinh khởi trong một thân hợp nhất và, nhờ phương pháp chuyển di mạnh mẽ,
Có thể đạt đến cõi tịnh độ như một mũi tên bay xa.

 Nếu không được giải thoát vào báo thân trong trung ấm của pháp tánh, 
Mặc dù trung ấm của sự trở thành xuất hiện như một giấc mơ, 
Nhờ sức mạnh của sự quen thuộc với vị đạo sư tối thượng, 
Những chỉ dẫn thâm sâu, và kinh nghiệm trực tiếp về pháp tánh quang minh,
Con có thể nhớ lại các cõi thuần tịnh và ngay tại khoảnh khắc ấy, 
Được sinh ra trong
tịnh độ Diệu Hỉ, và chiêm ngưỡng dung nhan của Đức Phật A Súc Bệ; 
tại
tịnh độ Cát Tường (Śrīmat), nhận sự quán đỉnh từ Đức Phật  Bảo Sanh; tại tịnh độ Liên Hoa Đỉnh (Padmakūṭa), nhận lời thọ ký từ Đức Phật A Di Đà;

Và, trong tịnh độ Hành Động Thành Tựu (Karmaprasiddhi), nhận được sự bảo chứng từ Đức Phật Bất Không Thành Tựu.
Ngay khi con nhìn thấy maṇḍala của các vị bổn tôn phẫn nộ trên bầu trời phía trên,
Nguyện con nhận ra đó là sự tự hiển lộ của chính mình.
Trong pháp giới bao la, nguyên sơ thanh tịnh của nền tảng nguyên thủy—
một trạng thái nơi quang minh nội tại, than (kāya), và trí tuệ nguyên sơ là bất khả phân—

Nguyện cho con được ở lại mãi mãi, như một bánh xe chuyển động vĩnh hằng. 
Để điều phục từng và mọi chúng sinh theo căn cơ của họ, 
Nguyện cho con hóa hiện vô số thân ứng hóa, cho đến khi luân hồi được làm trống rỗng.
Và với hoạt động từ bi không ngừng khắp không gian, 
Như một chiếc bình tuyệt hảo, hay cây như ý hoặc viên ngọc, 
Nguyện cho con trở thành bậc hướng dẫn vĩ đại giải thoát 
Tất cả chúng sinh đang đắm chìm trong đại dương của sự tồn tại.

*** 

Bản nguyện thâm diệu này, gọi là “Cánh Bay của Kim Sí Điểu: Bản nguyện cho bốn trạng thái trung gian (bardo), vốn đồng thời cắt xuyên mọi cõi luân hồi và niết bàn”, dành cho những ai thực hành du già của ba kim cang trong Đại Viên Mãn tự nhiên viên mãn.Nó giúp hành giả tiến triển trong bardo của thiền định tự nhiên trong đời này, hoặc đạt giải thoát vào pháp giới (dharmadhātu) của thân pháp (dharmakāya) ánh sáng trong lúc chết,
hoặc chứng ngộ các hiện tướng báo thân (sambhogakāya) tự hiển lộ trong bardo của pháp tánh (dharmatā),
hoặc hiện thành các cõi ứng thân (nirmāṇakāya) một cách tự nhiên trong bardo của sự tái sinh.

Lama Tenzin Dorje đã tu dưỡng tâm mình bằng tâm Bồ-đề; ngài điềm tĩnh, hiền hòa và chân thành cầu tìm sự giải thoát. Trong một thời gian dài, ngài liên tục thỉnh cầu tôi viết một bản nguyện như vậy—một bản có thể được tụng đọc hằng ngày để hỗ trợ việc thực hành liên tục và để chỉ dẫn về trạng thái trung gian (bardo) vào lúc chết. Tuy nhiên, vì bị xao lãng bởi tám mối bận tâm thế gian, tôi đã bỏ qua công việc này trong nhiều năm. Sau đó, vào năm Mộc Dần (1758), còn gọi là Bahudhanya (Năm Lúa Mùa Phong Phú), vào tháng mùa hạ Saga Dawa, thời điểm có bốn đại kỷ niệm của Đức Phật, tôi đã ban truyền chỉ dẫn cốt yếu, quán đảnh và truyền khẩu đọc tụng của pháp môn Ba Kim Cang thuộc Con Đường Thâm Diệu của Sự Hợp Nhất của tất cả chư Thiện Thệ (Deshek Kündü) cho hơn ba trăm đệ tử có duyên lành, đứng đầu là nhiều đạo hữu đã đạt được sự chứng ngộ nội tâm trong yoga tối thượng.

Nhờ những duyên lành của các thực hành đặc biệt thuộc con đường nối liền nền tảng và quả vị, vốn hiện ra rõ ràng và không bị che lấp trong tâm tôi như hình ảnh phản chiếu trong gương, tôi đã nhanh chóng được thúc đẩy bởi “ngọn roi của sự tỉnh nhớ”.

Với mục đích lợi ích cho tất cả những người chân thành tìm đạo, tôi hoàn toàn đảm nhận công việc này.

Tôi, Gyurme Kunzang Nampar Gyalwa, còn được gọi là Pema Sang-Ngak Tendzin, một hành giả du già có lòng sùng kính lan tỏa khắp mười phương và thực hành sự hợp nhất giữa tánh không và lòng bi, đã trải nghiệm sự mỏi mệt cùng với tâm xuất ly mạnh mẽ đối với luân hồi, đồng thời chứng nghiệm pháp tánh (dharmatā) quang minh, vốn hiện ra vững chắc và mãnh liệt.

Tôi đã biên soạn tác phẩm này trong sự hòa hợp với tất cả các bộ mật điển cổ và tân, theo đúng ý nghĩa của thừa tối thượng là Kim Cang Tinh Túy (Vajra Essence), và hoàn thành vào ngày thứ hai của tuần trăng khuyết dần trong tháng Jyeṣṭha (tháng thứ năm). Người sao chép là học giả Gyurme Zangpo.

Nhờ công đức của việc này, nguyện cho tất cả chúng sinh nhận ra mọi hiện tướng mê lầm và bất tịnh đều chính là bản chất của trí tuệ lạc-không (bliss–emptiness), và trực tiếp chứng đạt trạng thái tối thượng nguyên sơ ấy—nơi nền tảng (ground) và quả vị (fruition) không hai, không tách rời, vốn là sự thanh tịnh nguyên thủy.

Cũng có lời dạy rằng:

Khi một bậc đã chứng ngộ, người có mức độ tự tin dựa trên kinh nghiệm trực tiếp,
soạn nên một chuỗi kệ nguyện thanh tịnh,
thì bất kỳ ai tinh tấn thực hành lời nguyện ấy
sẽ tự nhiên và không cần nỗ lực mà nhận được gia trì—điều này không còn gì phải nghi ngờ.

 

 

| Translated by Sean Price, 2026.

 

Source:

zhe chen rab ‘byams ‘gyur med kun bzang rnam rgyal. “bar do rnam pa bzhi’i smon lam ‘khor ‘das zhing kun gcig car gcod pa’i rtsal chen mkha’ lding gshog rlabs”. [s.l.]: [s.n.], [n.d.]

 

Version: 1.1-20260401

1.     Only four aggregates are counted, not consciousness. See Patrul Rinpoche’s A Brief Introduction to the Bardos for the full list: https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/patrul-rinpoche/bardo-introduction

·  Bốn căn (four faculties): thường chỉ bốn năng lực giác quan cơ bản
→ mắt, tai, mũi, lưỡi (thị giác, thính giác, khứu giác, vị giác)

·  Bốn đối tượng (four objects): là các đối tượng tương ứng với các căn đó
→ sắc (hình ảnh), thanh (âm thanh), hương (mùi), vị (vị nếm)

2.     The fifteenth day of Saga Dawa is the day on which the Buddha is said to have entered his mother's womb, been born, attained enlightenment and entered parinirvāṇa.

3.     Literally, the first excellence (bzang po dang po), a poetic way of referring to the second day of the month.

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/second-shechen-rabjam/flight-of-garuda-bardo-aspiration

 

 



[1] Pháp thân, báo thân, hóa thân, kim cang thân

Thứ Bảy, 11 tháng 4, 2026

TRÂN TRỌNG PHẬT GIÁO MẬT TÔNG

 Appreciating Vajrayana

Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển




***

 

Kim cang thừa là một hình thức Phật giáo phát triển từ  Đại thừa , nhấn mạnh vào các giáo lý bí truyền, nghi lễ và thực hành thiền định được cho là giúp đẩy nhanh giác ngộ. Từ Vajra gắn liền với Kim cang (tính chất bất diệt) và Sấm sét (tính chất nhanh chóng và mạnh mẽ), trong khi từ yana có nghĩa là thừa – cỗ xe hay phương tiện đưa bạn đến đích mong muốn.

Do đó, Kim cang thừa có nghĩa là một phương tiện/phương pháp bất diệt và nhanh chóng để đưa chúng ta đến Giác ngộ.

Các học giả cho rằng Phật giáo Kim Cang thừa xuất hiện vài thế kỷ sau khi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni nhập Niết bàn. Nó phát triển như một phản ứng trước những thách thức về xã hội, văn hóa và tôn giáo mà Phật giáo phải đối mặt ở Ấn Độ. Trong Kinh điển Pali, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni khuyên các đệ tử của mình nên tránh một số “nghệ thuật thấp kém” như tụng kinh, thực hiện nghi lễ và xem bói sao. Tuy nhiên, trái lại, Phật giáo Kim Cang thừa lại nhiệt tình đón nhận chính những thực hành này. Do đó, những Phật tử tuân theo Kinh điển Pali thường nhanh chóng bác bỏ Phật giáo Kim Cang thừa như một sự phát triển lệch lạc. Đó không phải là lời của Đức Phật.

Những người ủng hộ Phật giáo Kim Cang thừa đưa ra một quan điểm khác về nguồn gốc của Kim Cang thừa. Theo quan điểm của họ, Đức Phật đã dạy Kim Cang thừa như một phương pháp bí truyền để đạt được giác ngộ, chỉ dành cho những đệ tử có trình độ cao. Nói cách khác, đó là kiến thức đặc ân, chỉ dành cho một số ít người được chọn. Trong khi các phương pháp khác được cho là đòi hỏi nhiều kiếp tu tập, Phật giáo Kim Cang thừa tự giới thiệu mình là sở hữu một "công thức bí truyền" độc đáo, hứa hẹn đạt được Phật quả trong một kiếp sống. Tôi bị thu hút bởi lời hứa về sự giác ngộ nhanh chóng này.

Do đó, tôi đã thay đổi cách tiếp cận Phật giáo của mình, từ một người phản đối nghi lễ trở thành một người nhiệt thành đón nhận thần chú và thủ ấn.

Tôi hy vọng sẽ chia sẻ hành trình cá nhân và những quan sát của mình về các thực hành Phật giáo Mật tông từ góc nhìn của riêng tôi trong loạt bài viết này.

Giao tiếp với các vị bổn tôn Phật giáo Kim Cang thừa – cấp độ 1

Phật giáo Kim Cang thừa bao gồm vô số biểu tượng, pháp cụ và vị bổn tôn Phật giáo, mỗi vị đều mang ý nghĩa và mục đích sâu sắc riêng. Tôi sử dụng thuật ngữ “vị bổn tôn” ở đây thay vì “Phật” hay “Bồ Tát” bởi vì, đối với người mới bắt đầu, đó thường là cách chúng ta liên hệ với những vị bổn tôn Phật giáo này.

Sự hiểu biết của chúng ta về giác ngộ còn hạn chế; chúng ta chưa thực sự nắm bắt được ý nghĩa đích thực của nó. Giác ngộ thường được miêu tả như một trạng thái sức mạnh, sự thánh thiện, trí tuệ và sự thanh tịnh vô cùng lớn lao—một sự hiện diện cao cả, gần như VƯỢT TRÊN cả thần thánh, thể hiện sự toàn vẹn và tốt lành. Tuy nhiên, nó vẫn còn bí ẩn và vượt quá khả năng hiểu biết. Chúng ta được dạy rằng Đức Phật đã siêu thoát khỏi cõi trời nơi chư thiên cư ngụ. Do đó, đối với nhiều người mới bắt đầu, các vị bổn tôn Phật giáo đơn giản chỉ đại diện cho một sự hiện diện tâm linh cao hơn hoặc mạnh mẽ hơn bất kỳ vị bổn tôn nào ngoài Phật giáo.

Cách hiểu này về giác ngộ—và về Đức Phật, Bồ Tát và A La Hán—là điều tự nhiên. Những người tu tập Phật giáo sơ cấp ở Tây Tạng và Ấn Độ cổ đại có lẽ cũng có những quan niệm tương tự, coi giác ngộ như một trạng thái thần thánh thiêng liêng và xem Phật và Bồ Tát như những vị bổn tôn đáp ứng nhiều điều ước khác nhau. Ví dụ, Phật A Di Đà được tin là dẫn dắt tín đồ đến cõi thiên đường hay Cực Lạc của Phật giáo, trong khi Phật Dược Sư được cho là có khả năng chữa bệnh.

Tóm lại, cách tiếp cận Phật giáo này được thiết kế để chào đón những người hướng đến việc thờ cúng và nghi lễ hơn là thiền định. Tuy nhiên, nó cũng tiềm ẩn một số rủi ro.

Một vấn đề phổ biến là mọi người thường gán ghép tính cách của chính mình vào vị bổn tôn mà họ tôn thờ. Một người thù dai có thể tưởng tượng vị bổn tôn của mình cũng không khoan dung, trong khi một người có khuynh hướng hưởng lạc có thể coi vị thần của mình là người khuyến khích lối sống phóng túng. Điều này có thể xảy ra vì nhiều lý do:

-Người thầy thực hiện nghi lễ quán đảnh đã không hướng dẫn rõ ràng.
-Các đệ tử có thể hiểu sai hoặc giải thích sai giáo lý.
-Người thực hành có thể tự mình đưa ra những kết luận sai lầm.
-Các đệ tử có thể thiếu sự trưởng thành hoặc hiểu biết cần thiết, và người thầy có thể không nhận thức được điều này.

Do đó, tôi đã gặp những người thực hành Mật tông biện minh cho hành vi có hại hoặc nuông chiều bản thân như một hình thức “giác ngộ trong sự phẫn nộ” hay “giác ngộ điên cuồng”, đây là sự hiểu sai nghiêm trọng về giáo lý của Đức Phật. Thay vì giúp chế ngự và vượt qua tham lam, thù hận và vô minh, cách tiếp cận sai lầm này có thể làm trầm trọng thêm chúng – hoàn toàn trái ngược với ý định của Đức Phật.

Vậy đâu là cách tiếp cận tốt hơn? Theo ý kiến của riêng tôi;

Đối với một số người, việc nghiên cứu kinh sách dường như là điều không thể và tra tấn. Vì vậy, thay vào đó, chúng ta có thể làm việc dựa trên sự tôn kính bẩm sinh, thậm chí là nỗi sợ hãi của họ đối với thần thánh. Họ phải niệm thần chú một triệu lần với sự tập trung và lòng kính trọng, biết rằng nếu không làm như vậy, điều ước của họ có thể không thành hiện thực—hoặc, theo một số tín ngưỡng, là sự thịnh nộ của thần linh.

Điều thiết yếu là phải dạy các đệ tử tụng niệm thần chú với sự tập trung tuyệt đối. Đó là cách để tôn kính bổn tôn. Hãy tưởng tượng bạn mời một vị tổng thống hoặc nhà vua đến nhà mình, rồi lại phớt lờ họ khi họ đến – đó sẽ là một tội lỗi khủng khiếp, phải không?

Tương tự, khi chúng ta niệm thần chú, chúng ta tin rằng thần linh sẽ hiện diện, vì vậy chúng ta không được để tâm trí mình xao nhãng. Suy nghĩ về những điều khác trong khi niệm thần chú là bất kính. Thay vào đó, chúng ta phải tập trung hoàn toàn vào thần chú, loại bỏ mọi suy nghĩ khác, kể cả ham muốn của bản thân. Đây là cách đúng đắn để thể hiện sự tôn trọng và lòng thành kính.

Việc thực hành này không phải là để đạt được một mục tiêu về số lượng mà là để phát triển khả năng tập trung tinh thần chất lượng. Nếu chúng ta bị phân tâm trong khi niệm chú, điều đó sẽ không được tính, và chúng ta sẽ lặp lại cho đến khi có thể niệm mà không bị phân tâm. Tóm lại, để tôn kính bổn tôn và được đáp ứng lời cầu nguyện, chúng ta phải buông bỏ mọi ham muốn khác và tập trung hoàn toàn. Tôi tin rằng đây là một cách khéo léo để khuyến khích mọi người thực hành chánh niệm và tăng cường kỷ luật tinh thần của họ.

Thêm vào đó, sẽ rất có lợi nếu giáo thọ thiết lập những cam kết đặc biệt từ học sinh của mình—những lời thệ nguyện cá nhân phản ánh sự hy sinh có ý nghĩa. Ví dụ, một học sinh có thể thề sẽ kiêng rượu trừ những dịp nghi lễ đặc biệt, kiêng quan hệ tình dục bừa bãi trừ với người phối ngẫu, dành một lời động viên cho ai đó mỗi ngày, hoặc dâng lễ vật cho người khác hàng ngày.

Vì phương pháp này nhắm đến những người có khuynh hướng thờ cúng thần núi hoặc thực hành hiến tế động vật—và những người có thể không đủ kiên nhẫn để nghiên cứu các khái niệm như Tứ Diệu Đế—nên các thực hành này cần phải đơn giản và dễ thực hiện. Nó giống như việc hướng dẫn một đứa trẻ nổi loạn vậy.

Đương nhiên, người thầy phải hiểu rõ học trò của mình để thiết kế những cam kết phù hợp với sự phát triển về tinh thần và đạo đức của học trò. Ví dụ, nếu một học trò gặp khó khăn trong việc bố thí, người thầy có thể khuyến khích việc cúng dường hằng ngày như một lời nguyện cá nhân để phát triển lòng nhân ái. Bằng cách này, mỗi lời nguyện được điều chỉnh cẩn thận cho phù hợp với sự phát triển của từng cá nhân và hoàn toàn riêng tư. Cũng giống như việc người ta không chia sẻ báo cáo tâm thần với người khác, những cam kết được thực hiện giữa người thầy và học trò Phật giáo Mật tông cũng được giữ bí mật tương tự.

Mối quan hệ này nhấn mạnh sự thân mật và tin tưởng thiết yếu giữa một đạo sư và học trò Phật giáo Mật tông.

Đây là thực hành nền tảng, hay “cấp độ một”, mà học viên phải tuân theo và cam kết thực hiện. Ở giai đoạn này, vị bổn tôn được hình dung như một hiện diện bên ngoài thể hiện những giá trị hoặc nguyên tắc nhất định. Việc thờ cúng bao gồm việc tuân thủ các cam kết nghi lễ, đóng vai trò như sự rèn luyện cho hành động, lời nói và suy nghĩ của chúng ta. Thông qua quá trình này, học viên dần dần tự điều chỉnh bản thân phù hợp với những phẩm chất mà vị bổn tôn đại diện.

Khi chúng ta làm được điều này một cách thành công, lòng tham, sự thù hận và sự si mê sẽ dần mất đi ảnh hưởng đối với tâm trí chúng ta.

Chúc mọi người mạnh khỏe và hạnh phúc.

https://bodhi-bowl.com/2024/11/10/appreciating-vajrayana-part-1/

 


 

Tại Sao Phật Giáo Mật Tông Lại Đề Cập Đến Sự Kết Hợp Giữa Các Cặp Đôi (Yab-Yum)?

 Không, Không Phải Là Những ảo Tưởng Tình Dục. Đó Là Tâm Lý Học Về Các Cặp Đôi Yab-Yum, Sự Kết Hợp Của Trí Tuệ Và Lòng Từ Bi.

Nguyên tác: What’s with all this consort union in Tantric Buddhism? No, it’s not about sexual fantasies. The psychology of Yab-Yum consorts, union of wisdom and compassion.
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển



***

 

Phật giáo Tây Tạng trên hết là thực hành. Trong Mật tông, thực hành, thực hành, thực hành là phương châm tiến bộ. Thực hành có nghĩa là tiến bộ từng bước, và điều đó có nghĩa là thiền định hàng ngày liên quan đến thân, khẩu và ý, dưới hình thức các thủ ấn (thân), thần chú (khẩu) và quán tưởng (tâm). Bằng cách kết hợp cả ba yếu tố, sự tiến bộ diễn ra nhanh chóng, đặc biệt là khi kết hợp tâm trí với các quán tưởng phức tạp sử dụng các biểu tượng mang ý nghĩa sâu sắc được thiết kế để khơi gợi những khám phá tiềm thức.

“Khái niệm về sự hợp nhất — sự hợp nhất của trí tuệ và hạnh phúc — được biểu tượng hóa bằng hình ảnh Cha (lòng từ bi) và Mẹ (trí tuệ) trong sự kết hợp mật thiết. Một cái bắt tay đơn giản sẽ không đủ sức tượng trưng cho việc truyền tải ý nghĩa “hợp nhất thành một”. Tuy nhiên, đôi khi, những ẩn dụ trực quan đó lại bị hiểu sai — và thậm chí dẫn đến tranh cãi.”

Trong lịch sử, chỉ vài thập kỷ trước, khi các nhà thám hiểm người Anh lần đầu tiên đặt chân đến cao nguyên Tây Tạng, họ đã bị sốc bởi tất cả những cảnh tượng tình dục mà họ thấy trong các ngôi chùa Phật giáo. Họ nhanh chóng gán cho người Tây Tạng cái mác lạc hậu, theo chủ nghĩa pháp sư hoặc thờ quỷ. Cho đến những năm 1970, sự khinh miệt đối với Phật giáo Tây Tạng vẫn tiếp tục – ngoại trừ trong một nhóm sinh viên phương Tây ngày càng đông. Thay vì hiểu được ý nghĩa biểu tượng sâu sắc của Karuna (lòng từ bi) và Prajna (trí tuệ) trong sự kết hợp hoàn hảo, nhiều người chỉ thấy sự dâm dục.

Văn hóa phương Tây có xu hướng diễn đạt ý tưởng bằng ngôn từ; văn hóa phương Đông lại thiên về hình ảnh như một phép ẩn dụ. Ngay cả thư pháp Trung Quốc cũng dựa trên hình ảnh. Cuối cùng, Phật giáo Tây Tạng dạy về ngôn ngữ của tâm trí, đó là phép ẩn dụ và biểu tượng trực quan. Biểu tượng nổi tiếng nhất trong Phật giáo Đại thừa là hoa sen, một loài hoa mọc trong bùn lầy nhưng lại vươn lên từ mặt nước trong một vẻ đẹp rực rỡ hoàn hảo. Biểu tượng hoa sen nói lên nhiều điều hơn cả một cuốn sách đầy chữ: nó là biểu tượng cho Phật tính của chính chúng ta trỗi dậy từ những che khuất của cuộc sống hiện tại; nó là biểu tượng của lòng từ bi; và cuối cùng, nó cũng có nhiều ý nghĩa ẩn giấu khác.

Một phần, bản chất của lời nói là không đủ để truyền bá Phật giáo: chúng là những “nhãn hiệu” — điều bị phản đối trong triết học Phật giáo. Nhãn hiệu sinh ra chấp trước và dục vọng. Việc gán nhãn cho một điều là “tốt” và một điều khác là “xấu” dẫn đến việc thèm muốn điều “tốt” và “tránh né” điều xấu.”

Sự gắn bó với các nhãn hiệu

Sự gắn bó với “nhãn hiệu” nằm ở cốt lõi của giáo lý Bát Chánh Đạo của Đức Phật. Các bậc thầy Phật giáo Tây Tạng vĩ đại — thay vì cố gắng mô tả bằng lời — đã diễn đạt bằng các biểu tượng trực quan mà tâm trí nhận biết được. Về lý thuyết, biểu tượng truyền đạt chính xác hơn lời nói. Sự hợp nhất của mẹ/cha trở thành:

-sự hợp nhất của lòng từ bi (nam) và trí tuệ (nữ)

-phương tiện khéo léo (nam) và sự thấu hiểu (nữ)

-chân lý tương đối (nam) và chân lý tuyệt đối (nữ).

Ngay cả ở dạng văn bản — như với các nghi thức (sadhana) được sử dụng trong thực hành — giáo lý vẫn mang tính trực quan và giàu cảm xúc. Một nghi thức (sadhana) chủ yếu là mô tả rất chi tiết về một biểu tượng trực quan, đến từng màu tóc, biểu cảm trên khuôn mặt, cử chỉ của bàn tay, và nhiều chi tiết cụ thể của mandala nền.

Không phải là dục vọng trần tục — được truyền cảm hứng từ tính thực tiễn

Nỗi kinh hoàng mà một số người phương Tây cảm thấy, trước những năm 60 đầy tự do (hoặc thậm chí cả ngày nay), có thể liên quan đến sự khắt khe, lòng nhiệt thành theo chủ nghĩa thanh giáo nói chung. Đây cũng là lý do tại sao Đức Đạt Lai Lạt Ma nổi tiếng khuyên các bậc thầy không nên công khai thảo luận về những thực hành thị giác cao cấp này, ngoại trừ với những học trò đã được nhận giáo lý, vì có khả năng họ sẽ bị hiểu lầm. Một phần, đây là lý do đằng sau các nghi lễ trao quyền, giáo lý và sự ủy quyền.

Thật không may, internet xuất hiện, và đã quá muộn để "che giấu" những hình ảnh có thể bị hiểu sai. Giờ đây, tất cả những gì giáo thọ có thể làm là giải thích chúng. Tương tự, các câu thần chú được đăng tải tự do trên internet mà không kèm theo lời dạy.”

Vào thời đó, đặc biệt là trước những năm 1960 tự do, tình dục hầu như không được nhắc đến ở phương Tây. Đối với người dân Tây Tạng, tình dục chỉ là một chức năng của cuộc sống, và nó cũng là một biểu tượng hợp lý, không mơ hồ về sự hòa hợp — do đó, là một biểu tượng trực quan rất thiết thực. Ngay cả trong những năm 60 tự do về tình dục, khi Phật giáo nở rộ ở phương Tây, Mật tông Kim cang thừa vẫn còn "lạ lẫm".


                                Stunning-Heruka_Chakrasamvara-2-armed

Yab Yum có nghĩa là Cha và Mẹ

Các vị bổn tôn được hình dung trong sự kết hợp phối hợp là Yab Yum. Yab theo nghĩa đen là “cha” và Yum theo nghĩa đen là “mẹ”. Điều này mang lại cảm giác về khái niệm Yab Yum như một sự hóa thân cao hơn của chư Phật — đó là thực hành quán tưởng cao nhất, Mật tông Yoga tối thượng — bởi vì đó là một quán tưởng hoàn chỉnh kết hợp Lòng Từ Bi Giác Ngộ và Trí Tuệ như là Cha và Mẹ, chứ không chỉ một trong hai.

Ở Tây Tạng và các quốc gia khác nơi Phật giáo Mật tông phát triển mạnh, ngay cả các tăng ni — những người từ bỏ dục vọng cũng như từ bỏ mọi ham muốn hay chấp trước khác (bao gồm cả thức ăn) — cũng sẽ không cảm thấy kích thích bởi biểu tượng đó. Đúng là trong các thực hành Yoga tối thượng, khái niệm “hạnh phúc” rất quan trọng — ánh sáng trong suốt (linh quang) và hạnh phúc — nhưng ở đây, tình dục lại là một phép ẩn dụ chính xác, bởi vì khoái cảm của tình dục được nhận ra ngay lập tức là “hạnh phúc” (do đó, tâm trí nhận ra ngay lập tức), chứ không phải là dục vọng thể xác. Những hình ảnh này không khuyến khích tình dục bừa bãi; chúng chỉ đơn thuần truyền tải một thông điệp rõ ràng.

Biểu Tượng Biến Đổi — Biến Đổi Những Hình ảnh Thông Thường

Sự khác biệt chính giữa Phật giáo Đại thừa và các thực hành Mật tông cao cấp là mục tiêu “biến đổi những hình ảnh thông thường”. Kim cang thừa là Đại thừa cao cấp, bao gồm tất cả các thực hành dựa trên kinh điển; sau đó, bổ sung thêm các thực hành quán tưởng cao cấp được thiết kế để giúp tâm trí chuyển hóa.

“Vì vậy, ngoài việc là biểu tượng của sự hợp nhất giữa lòng từ bi (nam) và trí tuệ (nữ), biểu tượng này còn là sự thể hiện của quá trình chuyển hóa. Trong Phật giáo Tây Tạng, chuyển hóa là một thực hành quan trọng. Chúng ta cố gắng chuyển hóa những nhận thức sai lệch của mình về thế giới “thực” và mở đường cho sự nhận thức trực giác, trí tuệ.”

Ngoài ra còn có cảm giác "hợp nhất" với thần thánh thiêng liêng (đó là ánh sáng thuần khiết tối thượng hoặc sự nhận thức về Tánh Không). Như nhà tâm lý học Rob Preece giải thích:

“…một sự kết hợp mật thiết với thần thánh thiêng liêng```… Chúng ta cảm nhận được tiềm năng của toàn thể chỉ có thể đạt được thông qua sự kết hợp này, nhưng lại không nhận ra rằng đây là một trải nghiệm bên trong, chứ không phải bên ngoài. Animus (nam tính) và Anima (nữ tính)  được biết đến là Daka (không hành nam) và Dakini (không hành nữ) trong Tantra.” [1]

Những Hình ảnh Gây Định Kiến

“Vào tận năm 1959, Richard Nixon (khi đó là Phó Tổng thống) được cho là đã từ chối xem xét việc giúp đỡ những người “thờ quỷ” ở Tây Tạng — điều này rõ ràng là vì ông đã nhìn thấy hình ảnh Đại Oai Đức Kim Cang (Yamantaka) cùng với người phối ngẫu của mình. Tất nhiên, biểu tượng của Yamantaka là lòng từ bi giận dữ — như kẻ thù của cái chết — trong sự kết hợp với người phối ngẫu thông thái của mình.”

Năm 1962, danh tiếng này vẫn tiếp tục tồn tại, khi trong một cuốn sách có tựa đề Phật giáo, Christmas Humphreys viết: "Không nơi nào khác ngoài Tây Tạng lại có nhiều thuật phù thủy và ma thuật 'đen' đến vậy, sự suy đồi tâm trí hướng đến những mục đích ích kỷ, xấu xa đến thế."

“Sau này, khi những người tị nạn từ Tây Tạng di cư khắp thế giới, nhận thức đã thay đổi từ "nguyên sơ và ma quỷ" thành "nhân ái và khôn ngoan". Làm thế nào mà nhận thức này lại có thể thay đổi mạnh mẽ và nhanh chóng đến vậy?”

Nhận thức đã thay đổi bởi vì, thay vì đánh giá dựa trên những lời lẽ trong một cuốn sách được viết bởi các học giả thời Victoria, chúng ta đã trực tiếp trải nghiệm trí tuệ từ bi - được thể hiện qua những bậc thầy như Đức Đạt Lai Lạt Ma, Kyabje Trijang Rinpoche, Lama Yeshe, và nhiều người khác.

Tâm Lý Học Về Sự Kết Hợp

Nhà tâm thần học lỗi lạc Carl Jung, ngay từ đầu, đã giúp làm sáng tỏ ngôn ngữ của các biểu tượng — và giúp chúng ta hiểu được nền tảng tâm lý vững chắc của Phật giáo Tây Tạng. Nhưng, vẫn khó để gạt bỏ thôi thúc muốn mô tả một cách không công bằng về sự kết hợp tình dục. Trong Ganpat, Con đường đến Lamaland (một cuốn sách mang tính miệt thị lấy bối cảnh thời kỳ những nhà thám hiểm người Anh đầu tiên), tác giả đã viết:

Người Tây Tạng, một dân tộc miền núi với những mê tín dị đoan tự nhiên vốn có ở tất cả các chủng tộc si mê sống dưới những vùng tuyết phủ cao, với nỗi kinh hoàng của gió bão, tuyết rơi và lở tuyết luôn rình rập, cùng sự cô độc khắc nghiệt của những vùng núi cao xung quanh, không thể tránh khỏi việc bị các Lạt Ma chi phối. Vì vậy, ngày nay Lạt Ma là người quan trọng nhất ở Tây Tạng, và cuộc sống của người Tây Tạng theo đúng nghĩa đen là một vòng luẩn quẩn không ngừng nghỉ để tránh né ma quỷ từ khi sinh ra đến khi chết.”

Yamantaka-with-consort-yabyum

Biểu tượng Mật tông Yoga tối thượng (Vô Thượng Du Già)

Trong Mật tông Kim Cang thừa, các vị bổn tôn Mật tông Yoga tối thượng là “khía cạnh” hay “sự phát ra” của Đức Phật. Chân lý tối thượng — prajna hay trí tuệ — nói lên ngôn ngữ của sự hợp nhất và tánh không của bản ngã. Để truyền đạt chân lý này, thay vì miêu tả Đức Phật ngồi dưới cây Bồ đề rồi “kể” cho chúng ta nghe về những pháp tu cao hơn, các bậc thầy vĩ đại lại hình dung các vị bổn tôn trong hình dạng hung dữ (phương tiện khéo léo) và trong sự hợp nhất với các vị phối ngẫu (trí tuệ). Rob Preece, trong cuốn sách đột phá của ông, Tâm lý học Mật tông Phật giáo, giải thích:

Trong Mật tông Yoga tối thượng, các vị bổn tôn hiện thân cho nam tính và nữ tính được gọi là daka (tiếng Tây Tạng: khadro) và dakini (tiếng Tây Tạng: khadroma)… Để hiểu về daka và dakini, chúng ta có thể xem xét sự tương đồng trong quan điểm của Jung về Animus [2] và Anima [3] trong văn hóa phương Tây, cũng như ảnh hưởng của chúng cả về mặt cá nhân và trong các mối quan hệ… Trong sự phóng chiếu Anima  và Animus của chúng ta, có thể chúng ta đã bị mê hoặc vào một mối quan hệ — không phải ở thế giới bên ngoài, mà là với một thực tại bên trong… Trong thần thoại [phương Tây] về Tristan và Isolde, Tristan yêu say đắm một hình tượng nữ không phải là người phụ nữ có thật. Nàng giống như một sinh vật lai hoặc nàng thơ. Khi chàng gặp một người phụ nữ có thật, người có thể giúp chàng trở lại cuộc sống bình thường, chàng vẫn không thể yêu và chấp nhận nàng… Chàng bị cuốn hút mạnh mẽ bởi hình ảnh lãng mạn đến nỗi chàng chọn quay trở lại thực tại tưởng tượng…”

“Câu chuyện này miêu tả điều mà mỗi chúng ta đều khao khát — sự kết hợp mật thiết với thần thánh… Chúng ta cảm nhận được tiềm năng của sự toàn vẹn chỉ có thể đạt được thông qua sự kết hợp này, nhưng lại không nhận ra rằng đây là một trải nghiệm nội tâm, chứ không phải là một trải nghiệm bên ngoài. Animus và Anima được biết đến là daka và dakini trong Mật tông.”[1]

Thân, Khẩu và Tâm: ba Kim Cang

Một lý do khác khiến hình ảnh, biểu tượng và hoạt động được kết hợp vào thực hành Mật tông là vì Mật tông bao gồm cả ba “kim cang”: thân, khẩu và tâm. Ví dụ, các thủ ấn và cử chỉ là hoạt động, thuộc về thân; thần chú, lời tán tụng và lời cúng dường thuộc về khẩu; thiền định và quán tưởng thuộc về tâm./.

Phụ thích:

[1] The Psychology of Tantra, by Rob Preece.
[2] Animus: Ngược lại, Animus là phần nam tính trong tâm lý của một người phụ nữ. Animus biểu thị cho những đặc điểm như lý trí, sức mạnh, quyền lực, và hành động quyết đoán. Đối với phụ nữ, Animus có thể hiện dưới dạng hình ảnh người đàn ông lý tưởng hoặc những biểu tượng nam tính khác mà họ cảm nhận trong cuộc sống.
[3] Anima: Đây là khái niệm chỉ phần nữ tính trong tâm lý của một người đàn ông. Anima đại diện cho những yếu tố cảm xúc, trực giác, sự nuôi dưỡng, và những phẩm chất mềm mại, đồng cảm, thường gắn liền với hình ảnh người phụ nữ trong tâm trí của người đàn ông. Anima có thể thể hiện qua nhiều hình ảnh, từ những người phụ nữ trong đời sống thực tế đến các biểu tượng nữ thần trong văn hóa hoặc tôn giáo.

 

https://buddhaweekly.com/whats-consort-union-tantric-buddhism-no-not-sexual-fantasies-psychology-yab-yum-consorts-union-wisdom-compassion/