Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2026

DI HUẤN THỨ HAI CủA ĐỨC PHẬT

(trích từ Vima Nyingtik)

Trong ngôn ngữ Ấn Độ: buddha-dhekaramadhu-nāma
Trong ngôn ngữ Tây Tạng: sangs rgyas kyi zhal chems gnyis pa zhes bya ba
Trong ngôn ngữ English: The Second Testament of the Buddha
Trong ngôn ngữ Việt: Di huấn thứ hai của Đức Phật

Việt dịch: Quảng Cơ 
Biên tập: Tuệ Uyển 


***

Kính lạy Đức Phật Toàn Giác, Toàn Thiện, Đấng Chiến Thắng nhờ Sức mạnh Uy lực!
Nếu muốn chắc chắn chứng quả Phật,
Hãy rèn luyện thuần thục các pháp tu tiên quyết (pháp hành sơ
bộ).
Bởi vì hành giả chẳng thể thoát khỏi ba cõi
Nếu không phân định rõ ràng (Rushen)
Giữa Thân, Khẩu và Ý,
Nên hãy rèn luyện các pháp tu sơ
bộ.

Nếu thuần thục các điểm cốt tủy của pháp tu sơ bộ,
Hành giả sẽ thấu đạt chứng ngộ (giác ý), cả thông thường lẫn tối thượng.

Hãy độc cư nơi thanh vắng (vùng hẻo lánh).

Để thực hành pháp tu tiên quyết của thân,
Hãy đóng vai các hành vi khác nhau của sáu cõi chúng sinh.
Và thực hiện các hoạt động hướng về Tam Bảo.
Hãy ngồi thẳng người với hai lòng bàn chân áp vào nhau
Và chắp hai lòng bàn tay lại phía trên đỉnh đầu.
Bất kỳ ai áp dụng pháp thực hành thân như vậy
Sẽ không bị thoái chuyển về thân,
[1]chướng ngại được an dịu,
Vượt qua bám chấp và thanh tịnh các che chướng.
Với thân được giải thoát thành Hóa thân (Nirmāṇakāya),
Thân ấy sẽ bất nhị (không thể tách rời) với sắc thân của Phật
Và không còn lại bất kỳ dư báo nào.

Để thực hành pháp tu tiên quyết của khẩu,
Hãy mô phỏng các âm thanh khác nhau của sáu cõi chúng sinh.
Rèn luyện toàn bộ các cung bậc âm thanh—
Của các vị Bản tôn an bình, phẫn nộ và của các đại (tự nhiên).
Dành ba ngày cho điểm cốt tủy của pháp ấn chứng (niêm phong).[2]
Rèn luyện sự linh hoạt, phát triển sự dẻo dai và phóng tâm đi.
Bất kỳ ai thực hành theo cách này bằng khẩu
Sẽ vượt qua bám chấp, thanh tịnh các che chướng của khẩu,
Tránh được sự thoái chuyển[3] và đạt giải thoát trong Báo thân (Sambhogakāya) bất
nhị.

Để thực hành pháp tu tiên quyết của ý,
Hãy quán tưởng đến những nỗi khổ đau của sáu cõi chúng sinh.
Rồi tìm kiếm nơi tâm này khởi sinh.
Không tìm thấy nơi sinh, hành giả sẽ gặp Pháp thân (Dharmakāya).
Rồi tìm kiếm nơi tâm này trú ngụ.
Không tìm thấy nơi trú, hành giả sẽ gặp Báo thân (Sambhogakāya).
Rồi tìm kiếm nơi tâm này đi về.
Không tìm thấy nơi diệt, hành giả sẽ gặp Hóa thân (Nirmāṇakāya).
Bất kỳ ai thực hành theo cách này bằng ý
Sẽ xua tan bám chấp, an dịu các chướng ngại,
Thanh tịnh các che chướng, không bao giờ thoái chuyển về ba cõi,
Và bước vào tánh bất nhị, giải thoát trong Pháp thân.

Sau đó, hãy thuần thục trong việc để cho Thân, Khẩu
Và Ý được an định trong trạng thái thư thái tự nhiên.
Rồi một khi đã phục hồi năng lượng cho cả ba,
Hãy dấn thân vào chính pháp hành với niềm tinh tấn.

Khi đã hoàn tất các pháp tu sơ bộ theo cách này,
Hãy để chúng xả bỏ khỏi tâm trí bạn.
Để đạt đến điểm cốt tủy của sự chứng ngộ trực tiếp,
Hãy buông bỏ mọi tạo tác của Thân, Khẩu và Ý.

Khi Đức Phật Toàn Giác thị hiện nhập Đại Bát Niết Bàn tại nơi hội tụ của các bậc Không Hành Nữ (Ḍākinī), ở phía đông của đại bãi tha ma Núi Lửa[5] Rực Cháy, ngài Garab Dorje đã ngã xuống đất và thống khổ kêu lên:

Kye-ma kyi-hü! Than ôi! Ôi chao!
Khi ánh đèn của bậc Thầy đã tắt,
Ai sẽ là người xua tan bóng tối của thế gian?

Khi ngài hồi phục, ngài thấy cẳng tay phải của Đức Phật xuất hiện trong một khối ánh sáng rực rỡ, thả xuống một chiếc hộp bằng pha lê quý giá chỉ bằng kích thước của một móng tay. Bên trong hộp chứa lời giáo huấn này, được viết bằng những ký tự tự sinh từ năm loại đá quý trên nền đá lạt-ma (lapis lazuli) nóng chảy. Bản văn tối thượng mang đại gia trì này—tức Hậu Chúc Di Giáo của Đức Phật—xuất hiện là để hóa thân (nirmāṇakāya) Garab Dorje có thể du trì (bzung ba).[4] Như một người dẫn đường đưa hết thảy chúng sinh vượt thoát [luân hồi], giáo pháp này được truyền dạy như đứa con duy nhất chứa đựng và hội tụ mọi điểm yếu cốt tủy của toàn bộ giáo lý.

 

 

| Translated by Adam Pearcey with the generous support of the Tsadra Foundation, 2024.


Ghi chú

1- Văn bản ở đây có sự khác biệt so với Hậu Chúc Di Giáo (Second Testament) được lưu giữ trong tuyển tập Khandro Nyingtik (Không Hành Tâm Tùy), trong đó thuật ngữ "vọng tưởng/khái niệm hóa" (rtog - tyog) xuất hiện thay cho từ "thoái lui" (ldog - dok).
2- Phép ấn niêm (sealing) được chia làm hai loại: ngoại ấn niêm đối với các hiện tượng hiện hành (appearances) và nội ấn niêm đối với các uẩn (aggregates).
3- Một lần nữa, có sự khác biệt giữa bản văn này và phiên bản của cùng một văn bản trong tuyển tập Khandro Nyingtik, bản của tuyển tập đó sử dụng từ "vọng tưởng/khái niệm hóa" (rtog) thay cho từ "thoái lui" (ldog).
4- Văn bản ở đây khác với phiên bản trong tuyển tập Khandro Nyingtik. Phiên bản hiện tại dùng từ bzung ba (du trì/giữ lại), trong khi bản Khandro Nyingtik lại dùng từ rjes su bzung ba (được dắt dẫn/được hộ trì).
5- bãi tha ma Núi Lửa Rực Cháy không phải là một nghĩa địa u ám theo nghĩa thế gian, mà là một "trường huấn luyện tối thượng" – nơi cái chết của ảo tưởng diễn ra để nhường chỗ cho sự tái sinh của tâm giác ngộ bất sinh bất diệt./Nơi Garab Dorje đắc đạo và nhập diệt/Nơi hội tụ của các Khảnh không hành nữ (Ḍākinīs/Biểu tượng cốt tủy trong tu tập Kim Cương Thừa/Ngọn lửa Trí tuệ (Volcano/Blazing)/


https://www.lotsawahouse.org/words-of-the-buddha/second-testament-vima-nyingtik

 

NGUYỆN VĂN VÃNG SINH CỰC LẠC

 Aspiration to Be Reborn in the Realm of Sukhāvatī

Tác giả: Jigme Lingpa
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển

***

 Kính lạy Đức Thế Tôn, bậc vô cấu và thanh tịnh vô biên!

Trong cõi giới của ánh sáng rực rỡ và hỷ lạc vô tận này,
được hình thành từ công đức tích lũy của Đức Phật,
có Đấng bảo hộ A Di Đà với thọ mạng vô biên hiển trị.
Dưới chân Ngài, con xin phủ phục đảnh lễ:
Nguyện cho con được tái sinh vào Cực Lạc, thế giới của niềm hạnh phúc diệu kỳ!

Khi Ngài còn là vị Tỳ-kheo Pháp Tạng,
Trước tôn dung của Đức Phật Thế Tự Tại Vương,
Ngài đã phát nguyện thiết tha kiến lập một cõi tịnh độ thù thắng,
'Con kính lạy Ngài. Cúi xin Ngài chứng minh cho con nguyện
ước này!'
Nguyện cho con được vãng sanh về cõi Cực Lạc an vui!

Mặt đất phẳng lặng như lòng bàn tay trẻ thơ
Mềm mại, mịn màng và êm dịu,
Nhưng quy mô bao la, chẳng có giới hạn hay biên cương,
Khắp nơi đều được phủ tràn bằng muôn vàn loại trân bảo.
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!

Cõi nước vi diệu này không có núi Tu Di, chẳng có đại dương bao la,
Không có dãy hắc sơn vòng quanh hay những nhà cửa phàm trần tục lụy.
Cây như ý làm bằng bảy loại trân bảo của cõi ấy
Rộng một ngàn do-tuần, cao sáu trăm do-tuần.
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!

 Khi những cành cây trĩu nặng lá, trái cùng hoa
Và kết dính những chuỗi xích vàng, lay động theo làn gió mang hương thơm,
Chúng phát ra tiếng rì rào và ngân nga dịu ngọt,
Những âm thanh vi diệu mà người nghe chẳng bao giờ biết chán.
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!

 Những đóa hoa tỏa ngát hương thơm dịu ngọt nhất
Rơi xuống thành tấm thảm cúng dường, dày sâu bằng bảy thân người,
Mãi luôn tươi đẹp và trải rộng khắp không gian,
Khi bước chân đạp lên thì lún xuống, rồi lập tức phục hồi như cũ.
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!

 Nơi đây chỉ có cõi người và cõi trời; ngay cả danh xưng
Của các ác đạo hay của a-tu-la cũng hoàn toàn xa lạ.
Với những lạc thú về sự giàu sang và mùa màng tươi tốt như thế,
Cõi nước này được xưng tụng là "Sự Huy Hoàng Chẳng Bao Giờ Nhàm Chán".
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!

 Khi những dòng sông nước thơm dễ dàng lội qua
Bình thản trôi xuôi mà không cuộn sóng dữ dội,
Âm thanh thanh tao của chúng, thứ mà người nghe chẳng bao giờ chán,
Đang diễn thuyết về vô thường, tịch tịnh và vô ngã.
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!

 Trên những bãi cát vàng hoàn toàn sạch bóng bùn lầy, dơ bẩn,
Các loài thiên nga, bạch
hạc, ngỗng trời, vịt nước, chim ca-lan-đà,
Anh
, chim xá-lợi[1], công, chim cu-la-na
Và chim ca-lăng-tần-già[2] huyền thoại cất tiếng hót như tấu khúc đàn sitar.
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!

Những âm thanh này[3] và tất cả các ấn tượng giác quan
Đều truyền tải ý nghĩa của Tam Bảo, Bốn Tâm Vô Lượng,
Các Thập Địa, Ba-la-mật-đa, Mười Lực, Bốn Vô Úy
Và Mười Tám Pháp Bất Cộng.
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!

 Từ những đóa hoa và cây cối nơi các khu rừng đầy mê hoặc,
Hàng loạt hỷ lạc của các giác quan lập tức hiện bày,
Và cung điện bao la vô lượng hiển hiện giữa tầng không—
Những thần biến diệu kỳ vượt trội cả cõi Tha Hóa Tự Tại Thiên.[4]
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!

Chẳng có hành tinh cũng chẳng có tinh tú, không ngày cũng chẳng đêm,
Không có các hộ gia đình và cũng không có sự sở hữu chúng—
Thay vào đó, có các thiên nữ cõi trời, những vị biến hóa ra
Muôn trùng mây cúng dường làm khởi sinh niềm hỷ lạc vô biên.
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!

 Chư Phật nhiều như số cát sông Hằng
Liên tục tán thán các công đức của Đấng Chiến Thắng,
Bậc đang ngự
trị và tôn chủ cõi này, và cũng chính là đấng tôn kính
Đức Quán Thế Âm cùng Đức Đại Thế Chí.
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!

 Những ai sinh về cõi này khi công đức còn bị chướng ngại
Sẽ hiện ra và nằm ẩn bên trong thai sen.
Sau đó, khi đang ngồi kiết già, họ lập tức bước ra
Một lần thứ hai và thành tựu các tướng tốt của bậc đại sĩ.
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!

 Hàng Thanh văn, Duyên giác và Bồ Tát dưới thân tướng người và trời,
Đều có căn tánh nhạy bén và đã chứng đắc Pháp nhẫn.[5]
Họ phi hành tự tại giữa hư không; họ sẽ không bao giờ thối chuyển;
Và họ được lắng nghe Chánh pháp mà không rời mắt khỏi chư Phật.
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!

 Thành thục trong các tầng thiền định và các đại thần thông,
Với tuệ giác thấu suốt và chấp nhận mọi sự phân biệt,
Chẳng phóng dật hoang đàng mà nhiếp phục các căn,
Và thành tựu các phẩm tính vô lượng, vô biên của Nhất thiết trí—
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!

 Bằng con đường chân thật tận diệt nhân và quả của tập khởi,
Hàng A-la-hán cũng chứng đắc tịch diệt Niết-bàn.
Họ tìm thấy sự an nghỉ nơi không gian của ba môn giải thoát
Vài thọ nhận sự quán đỉnh từ những luồng đại quang minh.
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!

 Chánh pháp được tuyên thuyết trong mỗi một sát-na
Nhiều không thể tính đếm, thần thông diệu dụng rộng lớn đến mức
Cho phép du
hành đến các cảnh giới cõi nước khác và,
Nhờ tiếp nhận Giáo pháp, chứng nhập vào hàng tỉ tầng thiền định.
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!

 Nói tóm lại, bất kỳ ai nghe danh hiệu hay giáo ngôn của Ngài,
Bất kỳ ai được chiêm ngưỡng Ngài, hay quán tưởng về Ngài,
Đều sẽ được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui.
Vì lời thệ nguyện Bồ-đề tâm cao thượng này là bất khả hư hoại,
Nên những diệu hạnh vì lợi lạc của tha nhân từ Ngài
Cũng tựa như những đợt thủy triều không bao giờ lỗi hẹn của đại dương bao la.

Như bậc hậu duệ của dòng tộc Thích Ca (Ikshvaku[6]) đã bảo với A-nan:
“Hãy đứng dậy và hướng mặt về phương Tây,
Dâng một đóa hoa và chắp tay cung kính.
Hãy đảnh lễ Đấng Phật Đà toàn giác Vô Lượng Quang,
Bậc vô cấu và thanh tịnh vô biên.
Danh hiệu không tì vết của Ngài
Lừng lẫy khắp cả mười phương trời,
Được tất
cả các Đấng Chiến Thắng đồng thanh tán thán.”

Và vì thế, chúng con xin hiến dâng thân mình cùng tài bảo mà không chút bám chấp giữ lại,
Sám hối những ác hạnh đã gây ra cùng các chướng ngại đã tích lũy,
Và tùy hỷ trước đại dương diệu hạnh giác ngộ đã được tác thành.
Chúng con khẩn cầu Ngài mãi mãi chuyển bánh xe Pháp và trụ thế nơi đây,
Và chúng con xin hồi hướng thảy thảy cội nguồn công đức lành đang có
Để khắp thí chúng sinh đều được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui.
Nguyện mọi điều cát tường để những tâm nguyện của chúng con đều được viên mãn đúng như đã phát nguyện!


"Tôi, Gyalwé Nyugu Khyentsé Lha, đã biên chép lại bài nguyện này dựa theo Kinh A Di Đà[7], sau khi nhận được lời cung thỉnh từ phương xa của Jigme Trinle Özer — người học trò hoàn hảo của tôi từ vùng Dokham, và lời trực tiếp thỉnh cầu một cách nhiệt thành từ hai vị có tên Jigme Losalchen[8]."

 

 

| Translated by Han Kop and edited by Adam Pearcey and Barry Cohen for the Longchen Nyingtik Project, 2021, following the commentary by Rigdzin Gargyi Wangchuk, Gateway to the Realm of Great Bliss. With gratitude to Tulku Dawa for his clarifications.

Source

'Jigs med gling pa. "bde can zhing bkod smon lam", in klong chen snying thig rtsa pod. 5 Vols. Bodhnath, Kathmandu and Bodhgaya, Bihar: Shechen Publications, 1994. BDRC W1KG13585. Vol. 1: 509–513.

 

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/jigme-lingpa/sukhavati-aspiration

 



[1] Có thể là loài Turdus salica, một loài chim Ấn Độ nổi tiếng với những tiếng hót du dương. ↑"

[2] Một loài chim nhỏ giống như chim sẻ nổi tiếng với tiếng hót vô cùng thâm diệu, chim Ca-lăng-tần-già (kalapingka hay kalavingka) được nhắc đến trong nhiều nguồn tài liệu Phật giáo, chẳng hạn như tác phẩm Phật Sở Hành Tán (Buddhacarita) của Mã Minh (Aśvaghoṣa). ↑

[3] Nói cách khác, đó là những âm thanh của cây cối, gió, sông ngòi và chim chóc được đề cập ở trên. ↑

[4] Cõi cao nhất trong sáu tầng trời của cõi Dục (cõi Dục giới). ↑

[5] Chứng đắc Pháp nhẫn (Attained acceptance / Vô sinh pháp nhẫn): Sự thấu suốt và an trụ hoàn toàn vào thực tính vô sinh vô diệt của vạn pháp, không còn bị lay động bởi các tướng trạng thế gian.

[6] Bậc hậu duệ của dòng tộc Ikshvaku (The descendent of Ikṣvāku): Đây là danh xưng tôn kính chỉ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Ikṣvāku (Cam Lộ Vương / Vua Mía) là vị vua huyền thoại, thủy tổ sáng lập ra vương triều Thái Dương (Solar Dynasty), dòng tộc mà từ đó thái tử Tất-đạt-đa (Siddhartha Gautama) được sinh ra.

[7] . Sūtra of Amitābha: Kinh A Di Đà (hoặc Kinh Vô Lượng Thọ).

[8] Jigme Losalchen: Tên của hai vị đệ tử/người thỉnh cầu.

Thứ Năm, 6 tháng 8, 2026

NGUYỆN VỌNG LÚC LÂM CHUNG

Aspiration at the Moment of Death

Tác giả: Dodrupchen Jigme Trinle Özer
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển



***

 Con quy y nơi thân, khẩu, ý, công đức và sự nghiệp của các bậc Đạo sư tôn kính, những vị là hiện thân của Tam Bảo và Tam Gốc.
Con khẩn cầu lên các Ngài: xin gia hộ cho con nhận được lòng từ bi và sự ban phước của các Ngài!
Xin các Ngài hãy làm tròn nguyện ước này của con!

Từ đời sống này trở đi, xuyên suốt tất cả các đời vị lai, nguyện cho con không bao giờ khởi sinh dù chỉ một niệm bất thiện nhỏ nhất đối với chúng sinh, những người từng là cha mẹ của chính con!
Nguyện cho những thiện niệm và thiện hành của con luôn tuôn chảy liên tục không ngừng như một dòng sông!

Ngoại trừ đại tiệc cúng dường Ganachakra[1] thanh tịnh trên con đường Kim Cang thừa vốn không vướng bận chút khởi tâm thèm ăn nào, nguyện cho con không bao giờ tiêu thụ hay liên đới đến việc tiêu thụ dù chỉ một chút máu thịt nhỏ nhất của bất kỳ chúng sinh nào!

Nguyện cho con luôn nhớ rõ những thệ nguyện này một cách sống động như ngay chính lúc này!
Chừng nào con còn chưa thành tựu hai phẩm tính là "nắm giữ" và "tự tại",[2] nguyện cho con không bao giờ phải gánh chịu dù chỉ một món nợ nghiệp nhỏ nhất do việc thọ nhận và sử dụng vật cúng dường sai lạc![3]

Nguyện cho con có thể hi sinh cả thân, khẩu và ý của chính mình mà không có chút chướng ngại nào, ngay cả khi điều đó chỉ là vì lợi lạc của một chúng sinh duy nhất!

Bằng năng lực chân thật của pháp tính bất biến[4] và luật nhân quả không bao giờ sai chạy[5], nguyện cho những tâm nguyện vị tha[6] này đều được viên mãn hoàn toàn!
Nhờ vào chân lý của Tam Bảo, nguyện cho thệ nguyện này được thành tựu!
Nhờ vào chân lý của các bậc Đạo sư tôn kính, nguyện cho thệ nguyện này được thành tựu!

 ***

Khi con, Dola Kunzang Shenpen, đang cận kề cái chết, con đã phát lời thệ nguyện này và Longsal là người ghi chép lại. Nguyện cho bài nguyện này trở thành nhân duyên mang lại lợi lạc cho thảy thảy chúng sinh! Nguyện cho công đức lành được tăng trưởng viên mãn! 

| Translated by Adam Pearcey, 2018.

Source

rdo grub chen 01 ʼjigs med ʼphrin las ʼod zer. "'chi kha'i smon lam" in gsung ʼbum ʼjigs med phrin las ʼod zer. 10 vols. [Khren tuʼu]: [bla ma bsod dar], 2014. Vol. 2: 495–496

 

Version: 1.4-20250304

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/dodrupchen-I/aspiration-at-moment-of-death

 



[1]   Đại tiệc Ganachakra thanh tịnh): Tiệc cúng dường (Tsog) trong mật thừa, nơi thực phẩm và rượu được chuyển hóa thành cam lộ thanh tịnh thông qua quán tưởng, không phải để thỏa mãn sự thèm ăn phàm trần.

[2] (Nắm giữ và Tự tại): Đây là thuật ngữ tantra (thường chỉ khả năng làm chủ/nắm giữ năng lượng/tâm thức và đạt sự tự tại giải thoát), giúp hành giả có đủ năng lực tâm linh để chuyển hóa và thọ nhận vật phẩm cúng dường từ các tín chúng mà không bị tổn phước hay mắc nợ nghiệp.

[3] Sử dụng vật cúng dường sai lạc): Việc người xuất gia hoặc hành giả thọ nhận tịnh tài, tịnh vật của đàn na tín thí nhưng tu hành không tinh tấn hoặc dùng sai mục đích, dẫn đến việc mắc nợ quả báo nặng nề.

[4] (Pháp tính bất biến): Bản tính chân thật, như thị của vạn pháp, không sinh không diệt, luôn thường hằng và không thay đổi.

[5] Infallible law of causality (Luật nhân quả không sai chạy): Định luật nghiệp báo nhân quả tuyệt đối chính xác, gieo nhân nào gặt quả nấy.

 [6] Selfless aspirations (Tâm nguyện vị tha / Vô ngã): Những lời nguyện cầu xuất phát từ tâm bồ đề, hoàn toàn vì lợi ích của tha nhân mà không mưu cầu cho bản thân.

 

NGUYỆN CẦU TÁI SANH

 


1- Sự Thành Tựu Mọi Hy Vọng và Nguyện Ước

2- Nguyện Cầu Phổ Thông Cho Tái Sanh

3- Ánh Trăng Kiết Tường


NGUYỆN CẦU SIÊU ĐỘ

 




1- Con Đường Tuyệt Vời Dẫn Đến Giải Thoát Hoàn Hảo: Nghi Lễ Hướng Dẫn Siêu Độ




Thứ Tư, 5 tháng 8, 2026

ÁNH TRĂNG KIẾT TƯỜNG

Bài Nguyện Lòng Hoài Niệm Bậc Thầy Tôn Kính Và Vinh Hiển Kết Hợp Với Tâm Nguyện Cầu Ngài Sớm Tái Sinh

The Moonlight of Auspiciousness
A Yearning Prayer to the Noble and Glorious Guru Combined with an Aspiration for His Swift Return

Tác giả: Jamyang Khyentse Chökyi Lodrö
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển





Con kính lạy bậc chủ tể của mạn-đà-la, đấng an tọa giữa biển khơi / Của sự viên mãn tuyệt đối, tánh y tha khởi đã thanh tịnh,
Một vị Trì Minh Vương (Vidyādhara) nắm giữ quyền năng đối với thọ mạng bất biến, / Trong đại lạc kim cương vô thủy không hề lay chuyển.[1]


Nhờ sự gia trì của Bậc Đạo Sư Văn Thù Diệu Cát Tường (Mañjughoṣa),[2]
Ngài đã nắm giữ kho báu Chánh pháp bao la và thâm diệu,
Và nhiếp giữ kiên cố các tinh túy bên trong kinh mạch trung ương—
Kính lạy Bậc Thầy của giới luật chân chính, con xin cầu nguyện lên ngài.


Đấng hóa thân như điệu vũ, hiện thân huyễn hóa từ tuệ giác / Về ba bí mật của bậc đại dịch giả Vairotsana,
Hạnh nguyện của ngài để giáo hóa chúng sinh trong thời kỳ mạt pháp này—
Kính lạy ngài Chimé Nangdzé Dorje,[3] con xin cầu nguyện lên ngài.


Kính lạy bậc Kim Cang Trì (Vajradhara) từ bi, ân đức của ngài không gì sánh bằng.
Là đại diện của đấng Chiến Thắng (Chư Phật), ngài vượt ngoài mọi sự so sánh.
Kính lạy ngài Chimé Nangdzé Dorje, con xin thỉnh cầu tâm tuệ giác của ngài:
Xin hãy đoái thương chúng con từ cõi tuyệt đối vô hình.


Khi chúng con cất tiếng khóc than trong nỗi đau buồn và tuyệt vọng,
Xin ban phước lành để mọi tâm nguyện và hành động Phật pháp của chúng con / Đều được thành tựu không chút trở ngại,
Và nguyện cho gia đạo, Chánh pháp, thọ mạng, công đức cùng tài bảo của chúng con được tăng trưởng!


Lạy đấng Hộ chủ, nguyện xin ngài sớm quay trở lại trong một hóa thân từ bi,
Trở thành vị thiện tri thức và chỗ nương tựa cho giáo pháp cùng chúng sinh,
Và giúp đỡ chúng con, những môn đồ cần được giáo hóa, / Được viên mãn hoàn toàn các tâm nguyện của mình.


Nguyện xin ngài luôn dẫn dắt và chở che cho con, lạy đạo / Và đấng hộ chủ vinh hiển, trong tất cả các đời vị lai của con,
Để nhờ vào đức tin, giới nguyện samaya và hai giai đoạn (Sinh khởi & Viên mãn),
Con có thể mau chóng chứng đạt quả vị của một bậc Kim Cang Trì!


Phần lạc khoản (Lời bạt của tác giả)

  • Khi bậc thầy-cha hiền hòa nhập vào khoảng không tuyệt đối, cùng khắp của tịnh quang (ánh sáng thanh tịnh),
    Con, Jamyang Chökyi Lodrö, người được đấng hộ chủ này nuôi dưỡng bằng lòng từ bi vô lượng,
    đã biên soạn bài nguyện này như một lời khẩn cầu ngài sớm tái sinh kết hợp với những lời phát nguyện.
  • Siddhirastu!
    👉 Nguyện mọi sự thành tựu viên mãn!

Phần chú thích (Notes)

👉 1. Các câu trong khổ thơ này lồng ghép các âm tiết trong tên của ngài Gyurme Tsewang Gyatso. Lưu ý rằng ấn bản Bir của tập văn tuyển, tức bản gốc tiếng Tây Tạng, dường như đã đánh dấu sai các âm tiết.
👉 2. Ánh chỉ ngài Jamyang Khyentse Wangpo (1820–1892), vị thầy chính của ngài Gyurme Tsewang Gyatso.
👉 3. Đây là mật danh của ngài Gyurme Tsewang Gyatso, nhận được khi ngài Jamyang Khyentse Wangpo ban lễ quán đỉnh Chimé Pakmé Nyingtik, "Tủy Thơ Nhục Thân Bất Tử Của Thánh Nữ".

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/jamyang-khyentse-chokyi-lodro/gyurme-tsewang-gyatso-swift-rebirth

 

NGUYỆN CẦU PHỔ THÔNG CHO TÁI SANH

General Prayer for Swift Rebirth
Tác giả: Shabkar Tsokdruk Rangdrol
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển



***

 

Bài Nguyện Cầu Nguyện Sớm Tái Sinh

Kính lạy Ba Ngôi Báu bất diệt và các bổn tôn Yidam,
Con xin cầu nguyện với lòng tôn kính chân thành từ thân, khẩu, ý:
Xin ban ban phước lành và các thành tựu, để hy vọng của những môn đồ
Đang thiếu sự dắt dìu và bảo vệ được thành tựu không chút trở ngại.

Kính lạy Bậc Thầy tôn kính, đấng nay đã hòa tan Sắc thân (Rūpakāya)
Vào Pháp giới (Dharmadhātu), xin ngài từ cõi vô hình dủ lòng thương xót,
Và vì lòng bi mẫn đối với những chúng sinh cần được giáo hóa,
Con cầu xin ngài sớm quay trở lại trong thân tướng Hóa thân (Nirmāṇakāya).

Nguyện xin các bậc Hộ pháp và chúng hộ vệ mà chúng con nương tựa và cúng dường,
Hãy thực hiện các hạnh nguyện để đảm bảo rằng nơi nào Hóa thân của Bậc Thầy chân chính này tái sinh,
Mọi chướng ngại và nghịch cảnh đều được tiêu trừ,
Vào mọi thuận duyên đều sẵn có để các tâm nguyện được viên thành.

Nhờ phước lành của chư Phật khắp mười phương và các bậc kế thừa,
Cùng tất cả công đức mà con và chúng sinh tích lũy trong ba đời,
Nguyện xin Hóa thân của Bậc Thầy vinh hiển sớm quay trở lại
Để trở thành cội nguồn lợi lạc cho giáo pháp và toàn thể chúng sinh.

Bài nguyện ngắn cầu mong bậc thầy sớm tái sinh này, có thể áp dụng cho bất kỳ vị thầy nào đã nhập Niết-bàn, được biên soạn bởi hành giả tên là Shabkar vì lợi ích của những môn đồ có lòng thành trong thời đại ngày nay, những người mong muốn trì tụng bài nguyện cầu sớm tái sinh mỗi khi có một vị lama nhỏ viên tịch. Nguyện mọi sự cát tường! Nguyện mọi sự cát tường!


 

| Translated by Adam Pearcey, 2023.

Source

Zhabs dkar ba tshogs drug rang grol. gsung 'bum tshogs drug rang grol. 15 vols. New Delhi: Shechen Publications, 2003. Vol. 14 (pha): 267–268

 

Version: 1.0-20230303

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/shabkar/general-swift-rebirth-prayer