Chủ Nhật, 15 tháng 2, 2026

CHÌA KHÓA NGỌC QUÝ

 Tóm lược về Nguyện Ước của Đại Viên Mãn Văn Thù Sư Lợi 

Nguyên tác: The Precious Jewelled Key
A Synopsis of the Aspiration of the Great Perfection Mañjuśrī
Tác giả: Jamyang Khyentse Chökyi Lodrö
Việt dịch: Quảng Cơ 
Biên tập: Tuệ Uyển 

 


***

 

Nam mô Văn Thù Sư Lợi !

Đấng Văn Thù Diệu Âm, khắp cùng như hư không,
Hiện thân của trí tuệ vượt ngoài mọi khái niệm và tư tưởng,
Bậc Đạo Sư và Phật nguyên sơ, con xin đảnh lễ Ngài,
Khi con trình bày bản tóm lược ngắn gọn này.

Phần trình bày sau đây về tác phẩm “Sự Tự- Phóng Quang của Giác Tánh Bất Hoại và Tánh Không: Nguyện Hướng đến Ý Nghĩa của Nền Tảng, Đạo Lộ và Quả Vị Bất Khả Phân của Đại Viên Mãn Văn Thù Sư Lợi do Jamgön Mipham trước tác, gồm ba phần chính:

I) Nhan đề
II) Phần giải thích nội dung chính của bản văn
III) Kết luận

I. Nhan đề

Sự Tự-Phóng Quang của Giác Tánh Bất Hoại và Tánh Không: Nguyện Hướng đến Ý Nghĩa của Nền Tảng, Đạo Lộ và Quả Vị Bất Khả Phân của Đại Viên Mãn Văn Thù Sư Lợi 

II. Phần Giải Thích Chính

Phần này gồm hai mục: A) Tóm lược ngắn gọn, B) Giải thích chi tiết

A. Tóm Lược Ngắn Gọn

Phần này gồm hai mục:

1) Giải thích liên hệ danh hiệu Văn Thù Sư Lợi với ý nghĩa của nền tảng – Kadak Trekchö - Cắt đứt hoàn toàn mọi vọng tưởng để nhận ra tánh Không nguyên sơ.

Ngài là hiện thân trí tuệ của tất cả chư Phật Thế Tôn và các bậc kế thừa của các Ngài
Khắp mười phương và bốn thời, an trụ trong con đường bất nhị –
Văn Thù Sư Lợi vĩnh viễn thanh xuân, “Diệu Cát Tường Quang Huy,” cảnh giới bình đẳng viên mãn:
Nguyện cho chúng con tự nhiên thành tựu ý nghĩa chân thật của vô tác!

2) Tuyên thuyết ngắn gọn liên hệ đến gia trì của Đạo Sư và ý nghĩa của Lhundrup Tögal quang minh – sự hiển lộ của giác tánh:

Với lòng sùng mộ quán đấng Hộ Chủ nguyên sơ và vị Đạo Sư tôn quý
Là thân giác ngộ của chân lý, pháp thân của bình đẳng viên mãn,
Nguyện cho gia trì của dòng truyền thừa tối hậu được truyền vào tâm chúng con,
Và nguyện chúng con đạt được đại quán đảnh của sự hiển lộ giác tánh!

B. Giải Thích Chi Tiết

Phần này gồm ba mục: 1. Nền tảng (Ground), 2. Đạo lộ (Path), 3. Quả vị (Fruition)

1. Nền tảng (Ground)

Nền tảng – tức sự xác quyết về kiến (view) – bao gồm những điểm sau:

a) Trình bày sự cần thiết phải nương tựa vào giáo huấn của vị Đạo Sư nắm giữ dòng truyền thừa nhận ra trí tuệ an trụ như nền tảng:

Vốn hiện hữu từ nguyên sơ, nên không được tạo tác bởi nỗ lực,
Không tùy thuộc vào căn cơ hay bản tính riêng biệt;
Vì quá đỗi giản đơn, nên ta hoài nghi huyền nhiệm của tâm này:
Nguyện giáo huấn của Đạo Sư ban cho chúng con sức mạnh để thấy!

b) Trình bày rằng điều này không cần tìm cầu ở nơi khác, đồng thời nhấn mạnh sự cần thiết phải cắt đứt mọi phóng dật và cấu trúc của tư tưởng khái niệm:

Mọi phân tích và biện giải chỉ là dư thừa của tư duy,
Tìm kiếm và tu tạo rốt cuộc chỉ dẫn đến mỏi mệt;
Chuyên chú và thiền định nếu chấp thủ cũng thành trói buộc –
Nguyện cho sự phức tạp khổ đau ấy lắng dứt trong tâm!

c) Quyết định rằng đây không gì khác hơn là trạng thái tự nhiên của chính tâm mình như-nó-là:

Vượt ngoài tư tưởng và ngôn thuyết, không có gì để thấy;
Cũng chẳng có điều gì thêm nữa, một cái gì khác bổ sung, không thấy.
Đây là điểm then chốt thâm sâu để tâm tự xác quyết.
Nguyện chúng con chứng ngộ bản tánh này — khó chỉ bày và khó diễn tả rõ ràng!

d) Nguyện hướng đến ý nghĩa của đại bình đẳng bất khả ngôn thuyết, vượt ngoài mọi chấp trước vào hai cực đoan hữu và vô:

Luôn luôn thanh tịnh, không cấu trúc phức tạp, nên tránh xa cực đoan thường kiến;
Quang minh của rigpa (giác tánh) tự nhiên hiện hữu, không phải là hư vô đoạn diệt;
Dẫu được nói thành hai, đó chỉ vì thuận tiện cho sự hiểu biết;
Nguyện chúng con thấy được ý nghĩa bình đẳng, vượt ngoài phân chia và diễn tả!

2.Con Đường

Thực hành qua thiền định trên đạo lộ bao gồm những điểm sau:

a) Cách tu tập Đạo Lộ của Kadak Trekchö  - Cắt đứt hoàn toàn mọi vọng tưởng để nhận ra tánh Không nguyên sơ.

i) Bản chất của pháp tánh (dharmatā) vượt ngoài phân tích trí năng, và nguyện được thấy nó bằng trí tuệ của tự-tri giác:

Như ngón tay chỉ mặt trăng,
Lý luận và ngôn từ ban đầu chỉ bày con đường.
Nhưng trạng thái tự nhiên không phải là đối tượng của tư tưởng,
Vì vậy, hãy quay vào bên trong — và nhờ đó thật sự thấy!

ii) Nguyện hướng đến ý nghĩa của tự-an-trụ lớn, tự nhiên viên mãn, vượt ngoài mọi loại bỏ hay tu tạo, loại trừ hay thêm thắt:

Trong đó, ta không có gì cần phải loại trừ,
Cũng chẳng có gì để thêm vào hay tạo tác.
Pháp tánh (dharmatā) không bị nhiễm ô bởi nỗ lực ngăn chặn hay tu bồi;
Nguyện chúng con đạt đến trạng thái vốn tự nhiên hiện hữu!

iii) Trình bày qua ví dụ về hư không rằng mọi hiện tượng của nền tảng, đạo lộ và quả vị chỉ là những danh xưng trong trạng thái tự nhiên, và nguyện hướng đến sự vô công dụng hạnh:

Dẫu ta có thể đặt tên một “nền tảng” để nhận biết,
Một “đạo lộ” để bước theo, hay một “quả vị” để đạt đến,
Trong trạng thái tự nhiên, tất cả chỉ như những tầng bậc của hư không;
Vì thế, nguyện chúng con an trụ trong chân thật vô tác một cách tự nhiên, không dụng công!

iv) Nguyện được thấy trạng thái tự nhiên của thanh tịnh nguyên sơ, vượt ngoài mọi hình thức nhị nguyên như đối đãi sinh tử–niết bàn:

Những hiện tượng luân hồi ô nhiễm, được hình dung trong mê lầm,
Và cả những đối cực của chúng, được gọi là “hiển hiện thanh tịnh”,
Đều chỉ là những danh xưng tùy thuộc, những phóng chiếu phức tạp;
Nguyện chúng con thấy được sự vắng mặt của chúng trong trạng thái vô tạo tác!

v) Nguyện an trụ một cách tự nhiên trong trạng thái chân thật, vì mọi hiện tượng của tâm thức thông thường đều che lấp pháp tánh (dharmatā):

Bản tánh chân thực như-nó-là, vượt ngoài tâm thức thường tình,
Bị che mờ bởi những quan niệm nhiễm ô về kiến và thiền.
Trong sự bình thường chân thật, không có lý thuyết cũng không có thực hành;
Nguyện chúng con tự nhiên an trụ trong trạng thái chân thật ấy!

vi) Nguyện được thấy pháp tánh (dharmatā) vốn giải thoát khỏi mọi độc tố, lỗi lầm và nẻo nguy hiểm:

Chuyên chú vào bất cứ điều gì chỉ làm nhiễm độc cái thấy,
Sự cố ý chấp định chính là lỗi lầm của thiền định,
Chọn lấy và loại bỏ đều là nẻo nguy hiểm của hành động;
Nguyện chúng con thấy được bản tánh vượt ngoài những nhiễm ô ấy!

b) Nguyện hướng đến Đạo Lộ của Đại Bí Mật Quang Minh – Lhundrup Tögal, sự hiển lộ của giác tánh

i) Nguyện được trực tiếp thấy pháp tánh (dharmatā) là tự-quang của giác tánh:

Trực tiếp thấy điều vượt ngoài tâm thức thường tình —
Quang minh của rigpa (tánh giác), không bị giam hãm trong khái niệm;
Không trói buộc bầu trời bằng sợi dây của suy đoán,
Nguyện chúng con làm chủ trạng thái chân thật của sự an nghỉ tự nhiên!

ii) Nguyện thắp sáng ngọn đèn của tuệ giác tự sinh — phẩm tính tỉnh biết của sự sáng tỏ nội tại:

Đấng Văn Thù Diệu Âm — Mañjughoṣa — của quang minh tự nhiên
Chính là sự tỉnh biết của tự-giác, thân bình trẻ trung;
Nguyện ngọn đèn rực sáng của tuệ giác tự sinh
Xua tan màn đêm dày đặc của những che chướng nơi tâm!

ii) Nguyện thắp sáng ngọn đèn của tuệ giác tự sinh — phẩm tính tỉnh biết của sự sáng tỏ nội tại:

Đấng Diệu Âm — Mañjughoṣa — của quang minh tự nhiên
Chính là sự tỉnh biết của tự-giác, thân lục bình trẻ trung;
Nguyện ngọn đèn rực sáng của tuệ giác tự sinh
Xua tan màn đêm dày đặc của những che chướng nơi tâm!

c) Kết luận về tính thiết yếu không thể thiếu của hai pháp tu này

i) Trình bày rằng trong trí tuệ tự sinh, không có gì có thể đạt được qua những đạo lộ tạo tác:

Trong bản tánh vốn vô vi và không do tạo dựng,
Không điều gì có thể được sản sinh mới qua những đạo lộ tạo tác;
Chính vì thế, quả vị tối hậu không phát sinh từ một nguyên nhân.
Nguyện chúng con nhận ra điều đang là — và luôn đã là — nơi tự tâm!

ii) Nguyện thực hành những chỉ dạy để hiện thực hóa chính giác tánh của mình, vì mọi con đường suy đoán trí năng không thể vượt khỏi lối mòn của mê lầm:

Những lời lẽ rỗng như vỏ trấu của các ý niệm suy đoán chỉ dẫn đến mê lầm;
Dù được diễn đạt thế nào, chúng vẫn trói buộc ta trong tư tưởng.
Thay vào đó, nguyện chúng con thực hành những chỉ dạy thâm sâu của tâm yếu,
Những điều không khởi từ kinh văn, mà được trực nhận một cách tự nhiên!

iv) Nguyện nắm giữ thành trì của pháp thân vô trụ — một cảnh giới duy nhất viên mãn của quang minh, là đại bình đẳng nguyên sơ của mọi hiện tượng luân hồi và niết bàn:

Trong không gian bao trùm khắp của rigpa (tánh giác)— rỗng rang mà tỉnh biết,
Muôn pháp đều bình đẳng trong một thể viên mãn duy nhất ấy;
Không còn khát cầu hay sợ hãi cho luân hồi hay niết bàn,
Nguyện chúng con chiếm lĩnh thành trì của pháp thân vô trụ ấy!

d) Ngoài ra, trình bày cách hoạt dụng của tự-giải thoát mang lại sự tăng trưởng

Điều này có nghĩa là trình bày thêm cách mà không gian và giác tánh được mở rộng, tăng trưởng qua đại hoạt dụng vô tác — tức là sự tinh luyện mọi tri giác về môi trường, các đối tượng giác quan hay thân thể — để tất cả tự-giải thoát trong ngọn lửa của đại trí quang minh; và mọi nhận thức chủ quan đều được đưa đến trạng thái tiêu dung, cạn kiệt trong pháp tánh (dharmatā).

Bất cứ điều gì ta tri giác — như thân thể hay như các đối tượng của giác quan —
Đều như thị giác sai lầm, chỉ hiện khởi do sức mạnh của tư tưởng;
Nhờ tự-phóng quang của đại trí tuệ vô niệm,
Nguyện tất cả được thanh tịnh trong không gian nguyên sơ của sự tiêu dung mọi hiện tượng!

III. Kết luận

A. Lời bạt (Colophon)

Phần kết nêu rõ danh tính của người thỉnh cầu trước tác bản văn này cùng chính tác giả, đồng thời làm sáng tỏ sự cao quý và thù thắng của giáo pháp được trình bày.

Bản văn này được trước tác theo lời thỉnh cầu của bậc nữ tôn kính Dekyong Yeshe Wangmo, vị được khắp nơi tôn xưng là hóa thân của trí tuệ ḍākinī Kim Cang Hợi Mẫu (Vajravārāhī). Vào ngày cát tường mồng bốn tháng ba năm Bính Tuất (1886), bà đã dâng cúng một khăn lụa cát tường cùng một tràng pha lê trang sức quý báu. Lấy đó làm duyên khởi, tôi — người được biết đến với danh hiệu Mipham Jampel Gyepa, hay Ösel Dorje — đã viết nên lời nguyện này và hoàn tất ngay trong chính ngày hôm ấy.

Nguyện nhờ công đức của việc diễn bày những điều tự nhiên khởi lên trong tâm tôi, một cách độc lập và bằng thuật ngữ đặc thù của hệ thống Đại Viên Mãn, mà tất cả chúng sinh đều đạt đến địa vị của đấng Hộ Chủ nguyên sơ, Mañjuśrī vĩnh viễn thanh xuân.

B. Hồi hướng

Hồi hướng công đức của việc trước tác luận văn:

“Chỉ cần nghe qua cũng chắc chắn được giải thoát” —
Đức Kim Cang Trì (Vajradhara) đã tán thán đây là con đường tối thượng.
Huống gì là thọ trì và ghi nhớ trong tâm?
Nguyện chân lý của pháp tánh (dharmatā) mau chóng đem lại giải thoát!

Khi các hành giả khó thể theo được những cỗ xe dựa trên nỗ lực tạo tác,
Giáo pháp của tâm-trí tuệ Phổ Hiền (Samantabhadra) sẽ khởi hiện
Nguyện những giáo huấn tinh yếu được tán thán trong lời ấy
Lan khắp toàn thể vũ trụ, trải rộng muôn phương!

Sarva maṅgalam.( Nguyện tất cả đều cát tường. )

Nhờ công đức tạo tác
Chìa khóa ngọc quý này,
Mở tung ổ khóa kim cang,
Nguyện tất cả chúng sinh chứng ngộ trí tuệ của Văn Thù Sư Lợi 

Vì thế, theo lời thỉnh cầu của Tupten Chöpel — một vị tăng thuộc tu viện Shechen Monastery, gìn giữ kho tàng tam vô lậu học — người đã thỉnh tôi soạn bản tóm lược về Nguyện Ước Đại Viên Mãn Mañjuśrī của bậc Toàn Tri Jamyang Guru, tôi, Jamyang Khyentse Chökyi Lodrö, đã lần lượt nói ra những lời này, và Muksang Choktrul Kunzang Sherab đã trợ giúp bằng cách ghi chép lại.Nguyện công đức và thiện lành tăng trưởng tối thượng!

***

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/jamyang-khyentse-chokyi-lodro/jampal-dzogpachenpo-synopsis

 

Thứ Hai, 9 tháng 2, 2026

PHƯƠNG THỨC PHOWA CHUYỂN DỊCH TÂM THỨC ĐƠN GIẢN

 



 

Nguyên tác: A Simple Transference of Consciousness
Tác giả: Tulku Tsultrim Zangpo
Việt dịch: Quảng Cơ 
Biên tập: Tuệ Uyển 

 ***

 

Lời nguyện

Hrīḥ!
Từ cung điện của pháp giới (dharmadhātu),
sự thanh tịnh tuyệt đối của chính nhận thức nơi con,
Ngài là hiện thân của tất cả chư Phật
trong quá khứ, hiện tại và vị lai,
Là nơi nương tựa tối thượng cho chúng sinh thời mạt pháp này.
Bậc Đạo sư quang vinh, vị Đạo sư tối thượng, vô cùng tôn quý —
con xin chí thành đảnh lễ và cầu nguyện nơi Ngài!

Xin ban gia trì,
để tâm con được chín muồi và giải thoát!
Xin ban gia trì,
để con chứng ngộ con đường thâm sâu!
Xin ban gia trì,
để ngay trong đời này,
con được viên mãn chứng ngộ Đại Viên Mãn (Dzogchen)!

Như vậy, con nên dâng lời cầu nguyện.

Quán tưởng

Con hiện rõ ràng trong hình tướng của Bồ Tát Quán Thế Âm tôn quý,
Từ trung tâm tim con vươn lên một quang mạch ánh sang
chạy thẳng đến đỉnh đầu;
Nơi đầu mạch ấy, trên tòa sen và đĩa mặt trời,
an tọa Đức Đạo Sư cao quý, bậc Đạo sư tôn chủ.

Hiện rõ ràng trong hình tướng của Đức Phật A Di Đà – “Vô Lượng Quang”,
Và nơi trung tâm tim con, trong vòng gió (phong luân),
là chính tâm thức của con,
hiện thành một giọt cầu trắng–đỏ, lớn cỡ hạt đậu,
tròn đầy viên mãn, đang đập nhịp và rung động.

Được dẫn kéo đi lên xuyên qua những tia quang minh rực rỡ
tỏa ra từ trái tim của Đạo Sư nơi đỉnh đầu con,
Nó hòa nhập bất khả phân
với tâm trí tuệ của Đức Phật Toàn Thắng.

Hrīḥ!
Đức Phật A Di Đà – “Vô Lượng Quang”,
Đức Quán Thế Âm – “Đấng Hộ Trì Thế Gian”,
và Kim Cang Thủ – “Chủ Tể Bí Mật” —
cùng tất cả chư Phật và Bồ Tát,
với toàn thể quyến thuộc thánh chúng của các Ngài,

Bằng lòng sùng tín kiên cố, nhất tâm bất loạn,
con chí thành hướng về và dâng lời cầu nguyện đến các Ngài!

Xin ban gia trì,
để con chuyển di tâm thức vào pháp giới (dharmadhātu)!
Xin ban gia trì,
để con trực tiếp thể nhập bản tánh nguyên sơ, tự nhiên!
Xin ban gia trì,
để con thể nhập địa vị bất thoái chuyển tối hậu của giác ngộ!
***

Hãy trì tụng điều này nhiều lần, rồi tiếp theo:

Hãy chuyển di tâm thức lặp đi lặp lại bằng cách xướng âm “Hikka!”, đồng thời thực hành quán tưởng như đã hướng dẫn ở trên. Sau cùng, quán tưởng rằng Đức Phật nơi đỉnh đầu con hóa hiện thành Đức Phật Vô Lượng Thọ (Amitāyus), từ đỉnh đầu giáng xuống an trụ nơi trung tâm tim con, và an trú trong trạng thái vô niệm.

Bản văn này do người được gọi là Tsul viết ra trong thất thiền của mình, chỉ đơn giản là không nỡ từ chối lời thỉnh cầu của vị lão tăng đầy lòng sùng tín Norbu Zangpo

Phụ thích:

Chuyển di tâm thức được thực hành như thế nào?

1. Giữ nguyên quán tưởng đã thiết lập

• Con ở trong hình tướng A Di Đà / Quán Thế Âm (theo đoạn trước).
• Ở trung tâm tim là tâm thức của con, hiện thành giọt cầu trắng–đỏ, rung động.
• Trên đỉnh đầu là Đạo Sư / Đức Phật, nối với tim con bằng quang mạch ánh sáng.

2. Xướng âm “Hikka!”

• Khi xướng “Hikka!”,

quán tưởng tâm thức (giọt cầu trắng–đỏ)

→ được hút mạnh đi lên|
→ theo quang mạch ánh sang
→ từ tim lên đỉnh đầu.

3. Hòa nhập

• Tâm thức ấy thoát ra khỏi đỉnh đầu
• và hòa nhập bất khả phân
• với tâm trí tuệ của Đức Phật / Đạo Sư trên đỉnh.

4. Lặp đi lặp lại

• Làm nhiều lần, mỗi lần:
• xướng “Hikka!”
• tâm thức phóng lên – hòa nhập
• Không cần căng thẳng, chỉ cần rõ ràng và nhất tâm.

5. Kết thúc

• Quán tưởng Đức Phật nơi đỉnh đầu hóa thành Amitāyus
• Ngài giáng xuống an trụ nơi tim
• Con an trú trong trạng thái vô niệm, không tạo tác.

Ý nghĩa cốt lõi

• Đây là sự chuyển di bằng tâm,
• huân tập thói quen buông xả và hợp nhất với trí tuệ giác ngộ,
• chuẩn bị cho thời điểm chuyển tiếp tối hậu,
chứ không phải là hành động vật lý.

 

| Translated by Adam Pearcey, 2015.

 

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/tsultrim-zangpo/phowa