Thứ Năm, 25 tháng 6, 2026

KIM CANG TỒI PHÁ ĐÀ LA NI KINH

 The Vajravidāraṇa Dhāraṇī

Tác giả: the Words of the Buddha
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển

 ***

In the language of India: Vajravidāraṇa-nāma-dhāraṇī
In the language of Tibet: dorjé nampar jompa shé chawé zung
In the English language: The Incantation known as Vajra Subduer

 ***

Kính lạy tất cả chư Phật và chư Bồ Tát!
Như tôi đã nghe một thời.
Đức Thế Tôn đang an trụ trong cảnh giới Kim Cang.[1]
Nhờ vào thần lực của Đức Phật, toàn thân của Ngài Kim Cang Thủ (Vajrapāṇi) được gia trì thành kim cang,
Và Ngài Kim Cang Thủ đã nhập vào định Kim Cang (Kim cang tam-muội).

Khi ấy, nhờ vào thần lực của Đức Phật,
Cùng sự gia trì của hết thảy chư Phật,
Và sự gia trì của hết thảy chư Bồ Tát,
Ngài Kim Cang Thủ (Vajrapāṇi) đã tuyên thuyết tinh túy kim cang khởi sinh từ đại phẫn nộ kim cang:

Nó không thể bị phá vỡ, không thể bị hủy hoại; chân thật, kiên cố, vững chắc; không gì có thể ngăn ngại và không gì có thể chiến thắng được.[2]
Nó khiến tất cả chúng sinh kinh hãi,
khiến tất cả chúng sinh phải chạy trốn,
cắt đứt mọi minh chú (vidyā-mantra),[3]
chế phục mọi minh chú."

Nó đánh bại mọi nghiệp hành của luân hồi;
Nó hóa giải tất cả những gì người khác gây hại cho ngươi;
Nó nghiền nát mọi thế lực chướng ngại;
Nó giải thoát khỏi mọi thế lực chướng ngại;
Nó chế ngự tất cả các loài tinh linh và quỷ thần.[4]

Nó thực hiện mọi công năng của tất cả minh chú;
Nó thành tựu những gì chưa được thành tựu;
Nó gìn giữ mọi thành tựu đã đạt được;
Nó ban cho mọi điều mong cầu;
Nó bảo hộ, tức tai và tăng ích cho tất cả chúng sinh;
Và nó làm cho tất cả chúng sinh bị tê liệt và mê muội."
Bấy giờ, nhờ oai lực của Đức Phật, Kim Cang Thủ (Vajrapāṇi) liền tuyên thuyết thần chú bí mật vô cùng uy lực này:

namo ratna trayaya | nama tsenda benza panaye | maha yaksha senapataye | teyata | om truta truta trotaya trotaya | saputa saputa sapotaya sapotaya | ghurna ghurna ghurnapaya ghurnapaya || sarva satvani bhodhaya bhodhaya sambhodhaya sambhodhaya || bhrama bhrama sambhramaya sambhramaya sarva bhutani || kutta kutta samkuttaya samkuttaya | sarva shatrun || ghata ghata samghataya samghataya || sarva vidyam benza benza | sapotaya benza benza | kata benza benza | mata benza benza | matha benza benza | ata hasanila benza su benza ya soha || hepullu | nirupullu | grihana kullu | mili tsullu | kurukullu | benza vijayaya soha || kili kilaya soha | kata kata | mata mata | rata rata | motana pramotanaya soha | tsarani tsara | hara hara | sara sara maraya | benza vidaranaya soha | tsindha tsindha | bhindha bhindha | maha kili kilaya soha | bhendha bhendha | krodha benza kili kilaya soha | tsuru tsuru tsenda kili kilaya soha | trasaya trasaya | benza kili kilaya svaha | hara hara benza dharaya soha | prahara prahara | benza prabhanjanaya soha | matisthira benza | shutisthira benza | pratisthira benza | maha benza aprati hata benza | amogha benza | ehay ehi | shri ghram benza dharaya soha | dhara dhara dhiri dhiri dhuru dhuru sarva benzakula awartaya soha | amuka maraya phé | nama samenta benzanam | sarva benza kulam mawartaya | mahabale | katapale | tatale | atsale | mendala maye | ati benza | maha bale | bega rana rana | ajite | jola jola | titi titi | ting gale | daha daha | tejo wati | tili tili | bhendha bhendha | mahabale | benza angkusha jolaya soha ||

namo ratna-trayāya | namaś-caṇḍa-vajrapāṇaye | mahā-yakṣa-senāpataye | tadyathā | oṃ truṭa truṭa troṭaya troṭaya | sphuṭa sphuṭa sphoṭaya sphoṭaya | ghūrṇa ghūrṇa ghūrṇāpaya ghūrṇāpaya || sarvasattvāni bodhaya bodhaya saṃbodhaya saṃbodhaya || bhrama bhrama saṃbhramaya saṃbhramaya sarvabhūtāni || kuṭṭa kuṭṭa saṃkuṭṭaya saṃkuṭṭaya | sarva-śatrūn || ghaṭa ghaṭa saṃghaṭaya saṃghaṭaya || sarva-vidyā vajra vajra | sphoṭaya vajra vajra | kaṭa vajra vajra | maṭa vajra vajra | matha vajra vajra | aṭṭahāsa-nīla-vajra | suvajrāya svāhā || he phullu | niruphullu | gṛhṇa kullu | mili cullu | kurukullu | vajra-vijayāya svāhā | kīli kīlāya svāhā | kaṭa kaṭa | maṭa maṭa | raṭa raṭa | moṭana pramoṭanāya svāhā | caraṇi cara | hara hara | sara sara māraya | vajra-vidāraṇāya svāhā | chinda chinda | bhinda bhinda | mahā-kīli-kīlāya svāhā | bandha bandha | krodha-kīli-kīlāya svāhā | curu curu caṇḍala-kīli-kīlāya svāhā | trāsaya trāsaya | vajra-kīli-kīlāya svāhā | hara hara vajra-dharāya svāhā | prahara prahara | vajra-prabhañjanāya svāhā | mati-sthira vajra | śruti-sthira vajra | prati-sthira vajra | mahā-vajra | apratihata vajra | amogha vajra | ehy ehi | śīghraṃ vajra-dhārāya svāhā | dhara dhara dhiri dhiri dhuru dhuru sarva-vajra-kulam-āvartāya svāhā | amukaṃ māraya phaṭ | namaḥ samanta-vajrānām | sarva-vajra-kulam āvartāya | mahā-bale | kaṭa-bale | tatale | acale | maṇḍale māye | ati-vajra | mahā-bale | vegaraṇa-raṇa | ajite | jvala jvala | tiṭi tiṭi | tiṅkale | daha daha | tejovati | tili tili | bandha bandha | mahā-bale | vajrāṃkuśa-jvālaya svāhā ||

namo ratna trayaya | nama tsenda benza panaye | maha yaksha senapataye | teyata | om hara hara benza | matha matha benza | dhuna dhuna benza | daha daha benza | patsa patsa benza | dhara dhara benza | dharaya dharaya benza | daruna daruna benza | tsindha tsindha benza | bhindha bhindha benza hung pé ||

namo ratna-trayāya | namaś-caṇḍa-vajrapāṇaye | mahā-yakṣa-senāpataye | tadyathā | oṁ hara hara vajra | matha matha vajra | dhuna dhuna vajra | daha daha vajra | paca paca vajra | dhara dhara vajra | dhāraya dhāraya vajra | dāruṇa dāruṇa vajra | chinda chinda vajra | bhinda bhinda vajra | hūṃ phaṭ ||

namash tsenda benza krodhaya | hulu hulu | tishtha tishtha | bhendha bhendha | hana hana | amrité hung pé ||

namaś-caṇḍa-vajra-krodhāya | hulu hulu | tiṣṭha tiṣṭha | bandha bandha | hana hana | amṛte hūṃ phaṭ ||

Nhờ tịnh hóa mọi ác nghiệp và chướng nhiễm,
chân ngôn này trừ diệt mọi khổ đau.
Nó là cội nguồn của tất cả mật điển,
được trang nghiêm viên mãn bởi mọi công đức và uy đức thù thắng.

Tất cả những ai có các căn suy yếu,
những người sinh lực đã cạn kiệt hoặc suy giảm,
những ai đang ở trong hoàn cảnh bất tường,
bị chư thiên bỏ rơi,
những người bị người thân cận thù ghét hoặc chống đối,
những người bị áp bức, như tôi tớ và kẻ lệ thuộc,
những người sống trong bất hòa và xung đột,

Những người bị tổn hại vì mất mát tài sản,
những người tuyệt vọng hoặc bị thương tổn,
những người kinh sợ hoặc lâm vào cảnh cùng khốn,
những người bị các hành tinh, tinh tú hoặc lời nguyền gây ảnh hưởng tai hại,
những người bị các loài quỷ thần và linh thể quấy nhiễu một cách khôn kham,
những người thấy các điềm dữ trong mộng
do mệt mỏi hoặc sầu khổ mà sinh ra—
tất cả đều được chân ngôn này hoàn toàn tẩy sạch và nhờ đó trở nên thanh tịnh.

Vì thế, hãy lắng nghe kinh điển thiêng liêng này!
Tất cả những ai có tâm thanh tịnh và thiện lành,
được trang nghiêm bằng y phục tốt đẹp,
khi lắng nghe kinh này,
cảnh giới thâm sâu của chư Phật
sẽ nhờ oai quang và công đức của kinh này mà...

Họ sẽ được chữa lành
mọi bệnh tật,
kể cả những chứng bệnh nan y nhất;
thọ mạng và phúc đức của họ sẽ tăng trưởng,
và họ sẽ được giải thoát khỏi mọi nghiệp bất thiện!
Hãy lấy một chiếc bình[5] làm bằng vàng, bạc hoặc các chất liệu tương tự,
rồi đựng đầy trong đó các vật quý báu, châu ngọc, hạt cải trắng và cỏ dūrvā.[6]

Gỗ đàn hương, thủy tinh,
kim cương, hoa,
và nước.
Hãy buộc vào đó một tấm vải sạch.
Tụng mật ngôn Kim Cương Tồi Phá (Vajravidāraṇa)
hai mươi mốt lần, hoặc
một trăm lẻ tám lần,
này Đại vương, và thường xuyên dùng đó để thực hiện việc tắm gội thanh tịnh.[7]

Đây là sự viên mãn của đà-la-ni tên là Kim Cang Tồi Phá (Vajravidāraṇa).

 

Mật ngôn (dhāraṇī) này được trích xuất từ các bản chú giải của đại bậc thầy Padmākara (Liên Hoa Sanh), Vimalamitra (Vô Cấu Hữu), Buddhaguhya (Phật Bí Mật), Jñānavajra (Trí Tuệ Kim Cang), Smṛtijñānakīrti và các bậc thầy khác, và hoàn toàn không có sai sót.

 

| Translated by Samye Translations (trans. Stefan Mang and ed. Peter Woods) 2019, with reference to Mipham Rinpoche’s commentary. Revised with many thanks to Wiesiek Mical, Drupchen Dorje and Ryan Conlon.

 

Version: 1.3-20220116

https://www.lotsawahouse.org/words-of-the-buddha/vajravidarana-dharani-nyingma



[1] Theo chú giải mchan 'grel của Mipham Rinpoche đối với Vajravidāraṇādhāraṇī (rdo rje rnam par 'joms pa'i gzungs kyi mchan ‘grel - Bản chú thích Kinh/Trì chú Kim Cương Tồi Phá), khi Đức Như Lai an trụ ở bề ngoài tại tòa Kim Cương dưới cây Bồ Đề để hàng phục ma quân, thì ở bên trong, Ngài đang an trú trong trí tuệ kim cương (Kim Cương Trí).
[2] Đây được gọi là bảy đặc tính của kim cương (rdo rje’i chos bdun).
[3] Các bản chú giải phân biệt giữa các minh chú thế gian (worldly vidyā-mantras / rig sngags) — tức là các bùa chú — cần phải lánh xa/vô hiệu hóa, và các minh chú xuất thế gian (transcendent) — phương tiện cốt lõi để đạt được 'tri kiến mật truyền' — cần phải thực hành/thực hiện.
[4] Spirits (bhūtas, ‘byung po
[5] Trong hệ thống thực hành Mật tông (Kim Cương thừa), nghi lễ bình (vase ritual / tiếng Tây Tạng: bum pa'i cho ga) là một pháp hành cốt lõi, thường được sử dụng để tích lũy công đức, chữa bệnh, xua đuổi chướng ngại và đặc biệt là thanh tịnh hóa (tẩy tịnh) cấu uế cho hành giả thông qua dòng nước cam lộ được quán tưởng và gia trì từ Bản tôn trong bình.
[6] Dūrvā-grass (tiếng Phạn: dūrvā, chữ Phạn: दूर्वा, tên khoa học: Cynodon dactylon) chính là cỏ mần trầu hoặc cỏ chỉ (cỏ ống) theo cách gọi tại Việt Nam. Trong tiếng Anh, nó còn được biết đến với tên gọi là Bermuda grass.
[7] Mipham Rinpoche xác định người nhận lời hướng dẫn về nghi lễ bình cam lộ là Vua Indrabhūti.

ÁNG MÂY HÒA ĐIỆU CủA PHÚC LẠC TỐI THƯỢNG VÀ VĨNH CỬU

Khúc Nhạc Kim Cang Của Nghi Thức Cúng Dường Tiệc Tạng Lên Đấng TốiThượng Tôn Kính Kim Cang Du Già Nữ (Vajrayoginī)

Harmonious Clouds of Sublime and Lasting Bliss - A Vajra Song for the Tsok Feast Offering to Venerable and Exalted Vajrayoginī

Tác giả: Jamyang Khyentse Wangpo
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển

***

Là vũ điệu của linh quang, tuệ giác nguyên sơ viên mãn mọi phương tiện thiện xảo tối thượng,
Sự hợp nhất ấy hiện khởi trước mắt chúng con trong Sắc thân (rūpakāya) vi diệu,
Bậc
Đạo sư vinh hiển, Đấng mà chỉ cần nghĩ đến thôi đã xua tan mọi nỗi khổ niềm đau —
Xin Ngài ban gia trì để Tuệ giác Lạc –Không (Bản tánh Đại Lạc và Tính Không) được hiển lộ trong tâm con!

 Ê (É) là không gian phổ biến, là trạng thái tự nhiên, hoàn toàn thuần tịnh, vượt ngoài mọi hý luận,
Và chủng tự VĂM (
- Vaṃ) hiển lộ thành các tướng tốt và tùy hình hảo của mười sáu tầng hỷ lạc—
Bậc tự sinh tự tại,[1]
du hành không trung Khecarī, Nữ vương của các Du già nữ (Yoginī),
Xin ban cho con thành tựu (siddhi) để tâm-khí vi tế hòa nhập vào trong kinh mạch trung ương!"

 Tự tánh hiển lộ tại hai mươi bốn thánh địa,[2]
Hóa thân thành các daka và dakini—những ấn tướng của phương tiện và trí tuệ,
Hàng sứ giả sinh từ cõi tịnh độ—qua sự hội tụ của chốn tiệc tsok này,
Nguyện cho con được thọ hưởng niềm hỷ lạc cát tường từ trăm tầng đại lạc.

 Sự biểu hiện định lực (samādhi) của Ngài tô điểm cho bầu trời tánh không,
Kỳ diệu và biến hóa muôn màu như dải cầu vồng—'cung trời của Đế Thích'—
Bậc Nữ hành giả mật chú (yoginī) sinh từ chân ngôn, Kim Cang Vương Hậu, bậc hỷ lạc của thiền định,
Giờ đây, xin hãy hiển hiện như người bạn tri kỷ, như vị phối ngẫu để chuyển hóa muôn pháp thành đại lạc tối thượng!"

 Ngay tại đỉnh cao trên đạo lộ thâm diệu của Kim Cang Thừa hiển hách,
Qua pháp hành thọ nhận tiệc tùng cam lộ mật tối hậu này,
Nguyện cho thảy đều thanh tịnh hóa mọi tướng trạng phàm phu của khí thế gian (môi trường) và hữu tình chúng sinh,
Để tất thảy thăng hoa, viên mãn thành đấng Heruka vinh hiển—con xin dâng lời đại nguyện này!

 ***

Lời nguyện này được thực hiện bởi Mañjughoṣa (Văn Thù Kim Cương) – hành giả du già lang thang của vô tác (vô vi), nhằm đáp lại mật lệnh của Thượng sư Jamgön tôn quý, Đấng Chủ tể của Ngôn từ, Jampa Phuntsok Pal Zangpo. Con xin thành kính đỉnh lễ, đặt lời răn bảo kim cương của Ngài: “Hãy soạn một bài theo những ý tứ này!” lên đỉnh đầu của con như một vật phẩm cúng dường. Nguyện cầu mọi sự thành tựu viên mãn! (Siddhirastu!) 

Rigpa Translations, 2009. Edited and adapted for Lotsawa House, 2021.

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/jamyang-khyentse-wangpo/vajrayogini-feast-song


[1] Ba loại : Không Hành Mẫu
1) Tự sinh Không Hành Mẫu (lhan skyes ma), là vị đã trực chứng bản giác trí;
2) Tịnh độ sinh Không Hành Mẫu (zhing skyes ma), xuất thân từ một trong hai mươi bốn thánh địa của các Không Hành Mẫu;
3) Mật ngôn sinh Không Hành Mẫu (sngags skyes ma), là vị thiện xảo các pháp tu của giai đoạn sinh khởi và giai đoạn viên mãn, nhưng chưa viên chứng bản giác trí.

[2] Trong truyền thống Vajrayoginī và các Mật điển Mẫu, “hai mươi bốn thánh địa” thường chỉ 24 pīṭha (thánh địa dakini) được xem là các địa điểm linh thiêng bên ngoài, đồng thời cũng tương ứng với các kinh mạch, luân xa và các khía cạnh của thân kim cang bên trong hành giả.

Thứ Tư, 24 tháng 6, 2026

THỰC TẬP HÀNG NGÀY VỚI TRÌ THẾ BỒ TÁT VÀ PHỐI NGẪU

Concise Daily Practice of Noble Vasudhārā and Consort

Tác giả:  Jamyang Khyentse Wangpo
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển


***

 Oṃ svasti (Nguyện vạn điều cát tường)! Những ai mong muốn thực hành giáo pháp cốt tủy về Bồ-tát Trì Thế (Vasudhārā) và Hộ pháp phối ngẫu của Ngài một cách độc tôn (không bao gồm quyến thuộc) như được tìm thấy trong nghi quỹ tu trì (sādhana) về bậc Bồ-tát Trì Thế tôn kính từ "Đại Định Như Ý Vân"[1], cần thực hiện như sau[2]:

Trước hết, hành giả phải nhận được quán đảnh phù hợp và giữ gìn các giới nguyện (samaya)[3]. Sau đó, được thúc đẩy bởi lòng vị tha và lòng đại bi mãnh liệt đến mức không thể làm điều gì khác ngoài việc cứu độ chúng sinh, hãy thực hành giáo pháp này với tâm nguyện làm chủ bốn mục tiêu cao cả của đời người,[4] nhằm mang lại lợi ích và hạnh phúc vô song.

Quy Y

Trước sự hiện diện của các cội nguồn quy y đang thật sự ngự trên bầu trời trước mặt con:

Namo (Kính lạy). Cùng với tất cả chúng sinh vô biên,
Và lòng sùng mộ ngập tràn, con xin quy y chư hội chúng
Bổn Tôn của Tam Bảo và Tam Gốc.
Và vì lợi lạc của hữu tình chúng sinh,
Con nguyện sẽ đạt được quả vị Giác ngộ vô thượng.
(Tụng ba lần)

Tu Tập Tâm Tứ Vô Lượng

Nguyện chúng sinh luôn được hạnh phúc.
Nguyện chúng sinh thoát mọi khổ đau.
Nguyện chúng sinh chẳng rời hỷ lạc,
Nguyện
chúng sinh  chứng ngộ tánh bình đẳng của muôn pháp.

ཛཿཧཱུྃ་བཾ་ཧོཿ

dza hung bam ho

jaḥ hūṃ baṃ hoḥ

Năng sở ruộng phước hòa nhập vào con.
(Hoặc: Quy y xứ/Tích lũy ruộng phước tan hòa vào tôi.)

Phần Chính Hạnh: Khởi Hiện Chư Tôn

A. Tự tánh muôn pháp trong luân hồi và niết-bàn là bình đẳng.
Sự hợp nhất của chúng, tánh không vô vi,
Là ánh tạng của tỉnh giác, diệu dụng mạnh mẽ của lòng đại bi
yêu thương.

Từ định lực của tầng mây bảo báu,
Khởi hiện chủng tự nhân \(va\) sắc vàng tươi,
Ánh kim sắc rạng ngời như nhật chiếu.
Phóng quang minh tịnh hóa môi
trường và chúng sinh.

Ở trung tâm của một cõi tịnh độ được tạo thành từ châu báu,
Có một đóa sen nhiều màu và một tòa nguyệt luân (đĩa mặt trăng).
Trên đó hiện hữu chủng tự “vaṃ”, và ngay tức khắc chủng tự ấy hóa hiện
Thành Bồ tát
Trì Thế tôn quý.

Thân Ngài có sắc vàng rực rỡ, một mặt và hai tay.
Tay phải kết ấn Đại Thí Tối Thượng,[5]
Cầm quả như ý mãn nguyện mọi ước cầu.[6]
Tay trái ban sự che chở quy y và cầm một bó lúa vàng,
Từ đó tuôn xuống cơn mưa của mọi điều tốt đẹp và mong cầu.

Ngài được trang nghiêm bằng nhiều loại y phục tơ lụa quý báu
Và các loại châu báu đa diện rực rỡ.
Dung nhan Ngài vô cùng xinh đẹp, luôn nở nụ cười hiền hòa,
Và đôi chân an trụ trong tư thế kiết già của nữ Bồ Tát.

Từ hào quang của chính Ngài hiện khởi thần tài Jambhala, hiện thân của phương tiện thiện xảo tối thượng.
Ngài có thân sắc vàng sáng chói, một mặt và hai tay.
Tay phải ôm vị phối ngẫu nơi cổ
Và cầm một quả bījapūra.[7]

Tay trái Ngài nắm nơi cổ một con chuột mangút phun châu báu,
Nguồn cội của tài sản vô tận.
Ngài có dung mạo anh tuấn, được trang nghiêm bằng hoa sen
utpala, y phục tơ lụa và các loại châu báu,
Và rực cháy trong ngọn lửa khát vọng.

Ba nơi của các Ngài được đánh dấu bằng ba chủng tự kim cang (om,ah, hum),
Là sự hiện diện tự nhiên của thân, khẩu và ý giác ngộ.
Cam lồ bồ-đề tâm ban sự quán đảnh,
Và ấn chứng bằng trí ấn của năm bộ Phật.

ཨོཾ་ཨཱཿཧཱུྃ༔

om ah hung

oṃ āḥ hūṃ

ཏྲཱཾ་ཧཱུྃ་ཨོཾ་ཧྲཱིཿཨཱ༔

tram hung om hrih a

trāṃ hūṃ oṃ hrīḥ āḥ

Oṃ.
Kính thỉnh Bồ tát Trì Thế tôn quý,
Cùng vị phối ngẫu và đoàn quyến thuộc hóa hiện của Ngài,
Xin nhớ lại thệ nguyện đã phát từ thuở trước,
Và mau chóng quang lâm đến nơi này.

ཨོཾ་ཤྲཱི་སརྦ་བཱ་སུ་དྷཱ་རི་ཛམྦྷ་ལ་ས་པ་རི་ཝཱ་ར་ཨེ་ཧྱ་ཧི༔ མ་ཧཱ་ཀ་རུ་ཎི་ཀ་དྲྀ་ཤྱ་ཧོ༔

om shri sarva basudhari dzambhala sapariwara é hya hi | maha karunika drishya ho

oṁ śrī sarva vasudhāri jambhala saparivāra e hya hiḥ | mahā kāruṇika dṛśya hoḥ

ས་མ་ཡ་ཧོ༔ ས་མ་ཡ་སཏྭཾ༔

samaya ho | samaya satom

samaya hoḥ | samaya stvaṃ

ཛཿཧཱུྃ་བཾ་ཧོ༔

dza hung bam ho

jaḥ hūṃ baṃ hoḥ

ཨ་ཏི་པཱུ་ཧོ༔ པྲ་ཏཱིཙྪ་ཧོ༔

ati pu ho | pratitsa ho

atipu hoḥ | pratīccha hoḥ

Oṃ.
Đại cúng dường ấn này,
Là kho tàng trân bảo viên mãn mọi ước nguyện của tâm,
Bao gồm vô lượng lạc thú của các giác quan và các phẩm vật cúng dường truyền thống,[8]
Chúng con xin dâng lên Ngài như những đám mây cúng dường của Phổ Hiền.

ཨོཾ་ཤྲཱི་བཱ་སུ་དྷཱ་རི་ཛམྦྷ་ལ་ས་པ་རི་ཝཱ་ར་ཨརྒྷཾ་ཨ༔

om shri basudhari dzambhala sapariwara argham a

oṁ śrī vasudhāri jambhala saparivāra arghaṃ aḥ

པཱ་དྱཾ་པཾ༔

om shri basudhari dzambhala sapariwara padyam pam

oṁ śrī vasudhāri jambhala saparivāra pādyaṃ paṃ

པུཥྤེ་ཏྲཱཾ༔

om shri basudhari dzambhala sapariwara pupé tram

oṁ śrī vasudhāri jambhala saparivāra puṣpe traṃ

དྷཱུ་པེ་ཧཱུྃ༔

om shri basudhari dzambhala sapariwara dhupé hung

oṁ śrī vasudhāri jambhala saparivāra dhūpe hūṃ

ཨཱ་ལོ་ཀེ་ཧྲཱི༔

om shri basudhari dzambhala sapariwara aloké hri

oṁ śrī vasudhāri jambhala saparivāra āloke hrīḥ

གནྡྷེ་ཨཱ༔

om shri basudhari dzambhala sapariwara gendhé a

oṁ śrī vasudhāri jambhala saparivāra gandhe āḥ

ནཻ་བིདྱཱ་ཨཾ༔

om shri basudhari dzambhala sapariwara naibidya am

oṁ śrī vasudhāri jambhala saparivāra naivedye aṃ

ཤབྡ་ཧོ༔

om shri basudhari dzambhala sapariwara shabda ho

oṁ śrī vasudhāri jambhala saparivāra śabda hoḥ

རཱུ་པ༔ ཤབྡ༔ གནྡྷེ༔ ར་ས༔ སྤརྴེ༔ དྷརྨ་དྷཱ་ཏུ་ཧོ༔

rupa | shabda | gendhé | rasa | parshé | dharmadhatu ho

rūpa | śabda | gandhe | rāsa | sparśa | dharmadhātu hoḥ

སརྦ་པཱུ་ཛ་ག་ག་ན་མེ་གྷ་ས་མ་ཡེ་ཧཱུྃ༔

sarva pudza gagana megha samayé hung

sarva-pūja gagana megha samaye hūṃ

Oṃ.
Thân tướng Ngài khả ái, mang sắc vàng rực rỡ,
Và thấm nhuần trí tuệ như châu báu.
Được trang nghiêm bởi huyễn hóa diệu dụng của các tướng hảo lớn và nhỏ—
Con xin đảnh lễ Ngài, bậc Nữ Chủ của Mạn-đà-la!

Tụng Trì Mật Ngôn

Nơi tim con là nút thắt cát tường,
Một pháp giới ánh sáng ngũ sắc—tinh túy của tất cả hữu tình và vô tình,
Và chủng tự sinh mệnh bất động “vaṃ”.
Chủng tự ấy được bao quanh bởi vòng chân ngôn,
Từ đó ánh sáng tỏa ra, cúng dường chư Phật và các vị Phật tử
kế thừa,
Diệt trừ nghèo khổ và khổ đau của chúng sinh,
Thu nhiếp tất cả điều thiện lành và đáng mong cầu trong luân hồi và niết-bàn,
Như hào quang của mặt trời mới mọc.
Chúng con đạt được thành tựu tối thắng, ban mọi điều như ý,
Và chứng đắc quyền năng đối với kho tàng của hư không.

Tụng trì chân ngôn

Nơi tim con là nút thắt cát tường,
Một pháp giới ánh sáng ngũ sắc—tinh túy của tất cả hữu tình và vô tình,
Và chủng tự sinh mệnh bất động “vaṃ”.
Chủng tự ấy được bao quanh bởi vòng chân ngôn,
Từ đó ánh sáng tỏa ra, cúng dường chư Phật và các vị Phật tử
kế thừa,
Diệt trừ nghèo khổ và khổ đau của chúng sinh,
Thu nhiếp tất cả điều thiện lành và đáng mong cầu trong luân hồi và niết-bàn,
Như hào quang của mặt trời mới mọc.
Chúng con đạt được thành tựu tối thắng, ban mọi điều như ý,
Và chứng đắc quyền năng đối với kho tàng của hư không.

ཨོཾ་བཱ་སུ་དྷཱ་རི་སྭཱ་ཧཱ༔

om basudharini soha

oṁ vasudhāriṇi svāhā[9]

Hãy trì tụng nhiều nhất như có thể

ཨོཾ་ཛམྦྷ་ལ་ཛ་ལེནྡྲ་ཡ་སྭཱ་ཧཱ༔

om dzambhala dzalendraya soha

oṁ jambhala-jalendrāya svāhā[10]

Hãy trì tụng chân ngôn của Đức Vasudhārā nhiều nhất có thể để nhận được sự gia trì.

Các giai đoạn tan rã

Từ chủng tự nơi tim ta, ánh sáng tỏa chiếu,
Làm tan rã luân hồi và niết-bàn thành quang minh rồi quay trở về tự thân.
Chủng tự sinh mệnh tan vào âm thanh vi tế (nāda), rồi tan vào không gian quang minh,
Trạng thái tánh Không vượt ngoài mọi đối tượng khái niệm.

Hãy trì tụng điều này, quán tưởng và an trụ trong định tĩnh quân bình của thiền định.

Khởi hiện thành thân tướng của bổn tôn

Một lần nữa, con khởi hiện trong thân tướng của bổn tôn,
Đại huyễn võng của trạng thái hợp nhất.
Tất cả các pháp của sắc tướng, âm thanh và ý niệm
Đều khởi hiện như sự hiển bày của ba mật của Bồ tát
tôn quý.

Hồi hướng và phát nguyện

Nhờ thiện hạnh và công đức này, nguyện con nhanh chóng
Thành tựu sự chứng ngộ của Bồ tát
Trì Thế, và nhờ đó
Nguyện cho tất cả mọi chúng sinh
Cũng đều đạt đến cảnh giới viên mãn của Ngài.

Lời Nguyện Kiết Tường

Không bị ô nhiễm bởi sự gắng sức và nỗ lực,
Như ngọc như ý, như cây ban điều mong ước,
Nguyện con thành tựu mọi hy vọng của chúng sinh,
Và nguyện tất cả đều kiết
tường, thành tựu mọi điều mong cầu!

 

***

KẾT THÚC NGHI QUỸ:

Hãy trì tụng thêm các lời nguyện cát tường khác nếu thấy phù hợp, và sau đó tiếp tục các hoạt động hằng ngày của bạn.

Văn bản này được soạn thảo bởi Pema Ösal Dongak Lingpa (Đức Jamyang Khyentse Wangpo), kẻ tôi tớ nguyện làm vui lòng Đạo Sư Sinh Trên Hoa Sen (Đức Liên Hoa Sanh). Nguyện cầu giáo pháp này mang lại công đức và sự thù thắng vô thượng! Sarvadā maṅgalam (Nguyện vạn điều cát tường luôn hiện hữu)!

 

| Translated by Han Kop with the kind assistance of Tulku Rigdzin Pema Rinpoche, 2023.

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/jamyang-khyentse-wangpo/daily-vasudhara

 



[1] Điều này đề cập đến bản văn gốc (gốc văn), từ chu kỳ giáo pháp Rtsa gsum sgyu 'phrul drwa ba las: 'Dod rgu'i sprin gyi ting 'dzin (Mạng Lưới Thần Biến của Tam Gốc: Đại Định Như Ý Vân/Mây Như Ý Hiện Thực Mọi Ước Nguyện).
[2] Pháp tu này là một phần thuộc chu kỳ giáo pháp Mạng Lưới Thảo Khấu của Tam Gốc (rtsa gsum sgyu 'phrul drva ba), được khai hiển bởi Đại sư Khyentse Wangpo tại Senggö Yutso (seng rgod g.yu mtsho), tức Hồ Ngọc Bích. Trong kho tàng Kho Tàng Quý Báu của các Giáo Pháp Khai Hiển (⁠Precious Treasury of Revelations / Rinchen Terdzö), hiện chỉ có sẵn văn bản phục tạng (gter ma), nghi quỹ thực hành hằng ngày và phần sắp xếp nghi lễ do Đức Karmapa thứ 15 soạn thảo. Một ghi chú trong cuốn Cuộc đời của Jamyang Khyentse Wangpo (trang 315, chú thích 382) có đoạn viết:

"Nghi quỹ tu trì Bồ-tát Trì Thế (Vasudhārā) chín vị tôn từ chu kỳ giáo pháp đó, đi kèm với sách hướng dẫn thực hành và nghi lễ quán đảnh, đã được ghi chép lại. Bản hướng dẫn về các giai đoạn chín muồi và hoàn thiện mà [Terchen Chokling] gTer chen mChog gling truyền trao cho con gái của ngài là [Konchok Paldron] dKon mchog dpal sgron hiện vẫn đang được lưu truyền. Tuy nhiên, ngoại trừ phần sắp xếp nghi lễ của Đức Karmapa thứ 15 và pháp tu hằng ngày do 'Bậc Thầy Chánh Biến Tri' [Dzongsar Khyentse] (rDzong sar mkhyen brtse) truyền dạy, không còn gì khác được truyền xuống cho các hành giả thông thường."
[3] Sách hướng dẫn quán đảnh có thể được tìm thấy trong Kho Tàng Quý Báu của các Giáo Pháp Khai Hiển (Rinchen Terdzö) và dòng truyền thừa của nó hiện vẫn còn tiếp nối. Tuy nhiên, do tính chất vô cùng hy hữu của truyền thừa này, Tulku Rigdzin Pema Rinpoche nói rằng hành giả hoàn toàn có thể tuân theo các chỉ dẫn do Đức Khyentse Wangpo đưa ra trong tác phẩm Bình Như Ý Cát Tường: Giáo Huấn Cốt Tủy về Trì Tụng Gia Trì Bình Tài Bảo Dựa Trên Mạn-đà-la Dạ-xoa (gnod sbyin 'khor lo'i cho ga la brten nas gter bum sgrub pa'i man ngag 'dod rgu'i bum bzang). Trong đó có dạy rằng một người có thể thực hành pháp tu này nếu đã nhận được một trong các quán đảnh sau: quán đảnh Bồ-tát Trì Thế (Vasudhārā) từ tuyển tập Kim Cương Man (rdo rje phreng ba / Vajramālā), quán đảnh của một trong Tam Tộc Tính Tôn (gồm Văn Thù Sư Lợi, Kim Cương Thủ hoặc Quán Thế Âm), hoặc quán đảnh mạn-đà-la Ngũ Tôn Arapacana (một sắc tướng của Đức Văn Thù).
[4] Bốn mục tiêu cao cả của đời người (tiếng Phạn: puruṣārtha - Tứ chính sự) bao gồm: 1) Pháp / Dharma (chánh hạnh, các giá trị đạo đức), 2) Tài / artha (thịnh vượng, các giá trị kinh tế), 3) Dục / kāma (hỷ lạc, tình yêu) và 4) Giải thoát / mokṣa.
[5] Ấn thí nguyện (tiếng Phạn: varada-mudrā) là một thủ ấn trong đó cánh tay duỗi thẳng xuống phía dưới và lòng bàn tay hướng ra ngoài.
[6] Danh tính chính xác của loại quả này vẫn chưa rõ ràng và các mô tả cũng có sự khác biệt. Tulku Rigdzin Pema Rinpoche nói rằng đó có thể là một quả dứa. Shaw nhận định: “Để biểu thị sự ban ban phát của cải vật chất, một biểu tượng của sự giàu có xuất hiện trên lòng bàn tay Ngài dưới hình thức một viên ngọc nhỏ hoặc một vật thể hình bầu dục lớn hơn — có thể là một viên bảo châu lớn hoặc một loại trái cây, tương tự như quả mộc qua (bilva) và quả chanh yên (citron) được hiển thị bởi các vị thần tài bảo khác.
[7] Điều này có thể đề cập đến quả chanh yên (citrus medica). Tulku Rigdzin Pema Rinpoche nói rằng đó có thể là một quả lựu.
[8] Tib. nyer spyod 
[9] Bản văn Tây Tạng của chúng tôi ghi là vasudhāri và một bản văn khác ghi là vasuṇidhāri. Cách ghi sau rõ ràng là không chính xác. Tuy nhiên, mật điển Siddhaikavīra Tantra lại ghi là vasudhāriṇi, và đây cũng chính là âm phạn mà Tulku Rigdzin Pema Rinpoche đã trì tụng khi thực hành pháp tu này. Sau đó, ngài đã xác nhận rằng vasudhāriṇi có khả năng cao là cách viết chính xác.
[10] Điều này có nghĩa là: Oṁ, svāhā gửi đến Jambhala, vị chủ tể của các nguồn nước! Chân ngôn của Bồ-tát Trì Thế (Vasudhārā) và Thần Tài Bảo (Jambhala) được tìm thấy trong mật điển Siddhaikavīra Tantra. Các chân ngôn này, cùng tất cả chân ngôn thuộc quyến thuộc của các Ngài, cũng được Đức Khyentse Wangpo sử dụng trong tác phẩm Bình Như Ý Cát Tường: Giáo Huấn Cốt Tủy về Trì Tụng Gia Trì Bình Tài Bảo Dựa Trên Mạn-đà-la Dạ-xoa (gnod sbyin 'khor lo'i cho ga la brten nas gter bum sgrub pa'i man ngag 'dod rgu'i bum bzang). Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà Đức Jamyang Khyentse Wangpo đã viết một bản luận giải cho chính mật điển đó, văn bản được tìm thấy trong tuyển tập Đại Tập Nghi Quỹ (sgrub thabs kun btus), mang tên: Sna tshogs pa'i las rab tu 'byung ba 'jam dpal dpa' bo gcig pu grub pa'i rgyud 'grel man ngag dang bcas pa (Luận giải và Giáo huấn Cốt tủy về Mật điển Thành tựu Độc tôn Văn Thù Anh Hùng Khởi sinh các Diệu dụng Nghiệp lực Đa dạng).