Trích từ
The Tantra of the Great Perfection That
Reveals the All-Penetrating Wisdom Mind of Samantabhadra
Tác giả: Rigdzin Gödem
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***
“Hô! Tất cả những gì
hiển hiện và tồn tại, luân hồi và niết-bàn,
Có một nền tảng, hai con đường và hai loại quả,
Là những huyễn hiện của minh và vô minh.
Thông qua đây, lời nguyện khát vọng của Phổ Hiền,
Nguyện cho tất cả đạt được giác ngộ hoàn toàn và viên mãn
Trong cung điện của pháp giới — cảnh giới tuyệt đối.
“Nền tảng của tất cả
là vô vi,
một không gian tự sinh khởi, bao la và không thể diễn tả,
vượt ngoài các danh xưng ‘luân hồi’ và ‘niết-bàn’.
Chính điều này, khi được thấy rõ, chính là giác ngộ.
Nhưng trong vô minh, chúng sinh lang thang trong luân hồi.
Nguyện cho tất cả chúng sinh trong ba cõi
chứng ngộ được ý nghĩa của nền tảng bất khả thuyết!”
“Ta, Phổ Hiền, biết
thực tại của nền tảng,
vốn không có nhân hay duyên;
nó tự khởi ngay trong chính nền tảng này,
không bị làm méo bởi quan điểm,1 giả định hay phủ định,
và không bị vấy bẩn bởi bóng tối của vô minh không tỉnh giác.
Điều tự hiển lộ
vốn dĩ không có lỗi lầm.
Khi an trụ trong tỉnh giác biết bản tánh chân thật,
không còn sợ hãi, ngay cả khi ba cõi diệt vong.2
Cũng không còn chấp trước vào năm dục lạc giác quan.
“Trong tỉnh giác biết tự khởi mà không vướng chấp niệm,
không tồn tại hình tướng cố định cũng không có năm độc.3
Sự minh bạch không trở ngại của tỉnh giác
vừa là một về bản chất, vừa là năm về trí tuệ.
“Nhờ sự trưởng thành
của năm trí tuệ,
năm gia tộc Phật nguyên sơ xuất hiện.
Và qua sự mở rộng thêm của trí tuệ,
bốn mươi hai vị Phật hiền hòa hiện ra.4
Với sự trỗi dậy của sức mạnh năm trí tuệ,
sáu mươi vị Heruka uống máu xuất hiện.
“Vì vậy, tỉnh
giác biết nền tảng chưa bao giờ biết đến vô minh.
Ta là Phật nguyên sơ và vì thế
thông qua lời nguyện vọng này,
nguyện cho chúng sinh trong ba cõi luân hồi
nhận ra sự tỉnh giác tự khởi,
để trí huệ rộng lớn được viên mãn.
“Liên tục, các hiển
hóa của ta sẽ xuất hiện
Với hàng tỉ, vượt ngoài tưởng tượng,
Hiện ra muôn hình vạn trạng tùy theo nhu cầu.
Thông qua điều này, với khát vọng từ bi của ta,
Nguyện cho tất cả chúng sinh trong ba cõi luân hồi
Thoát khỏi cảnh khổ trong sáu nẻo.
“Ngay từ đầu, vì
tỉnh giác biết không khởi sinh
Trong những chúng sinh mê lầm trên nền tảng,
Họ hoàn toàn không tỉnh giác và lạc lối.
Chính điều này là vô minh, nguyên nhân của mê lầm.”
“Rồi, như thể từ
một cơn mê bất chợt,
nảy sinh lo âu và phiền não trong tâm,
từ đó xuất hiện khái niệm về tự ngã, tha nhân và oán thù.
Khi khuynh hướng quen thuộc này được củng cố,
luân hồi hiện ra theo tiến trình thường lệ của nó.
“Vì vậy, những phiền
não của tâm, năm độc, phát triển,
và các hành động sinh ra từ năm độc này không bao giờ dứt.
Do đó, vì nền tảng của mê lầm nơi chúng sinh
là thiếu chánh niệm, là vắng mặt tỉnh giác,
thông qua điều này, với nguyện vọng của một vị Phật,
nguyện cho tất cả chúng sinh nhận ra tỉnh giác nơi chính mình.
“Vô minh cùng khởi
là trạng thái không tỉnh giác, phân tâm.
Vô minh chỉ định
là chấp thủ nhị nguyên vào tự ngã và tha nhân.
Hai loại vô minh này, cùng khởi và chỉ định,
là nền tảng cho mê lầm của tất cả chúng sinh.
Giờ đây, thông qua điều này, với nguyện vọng của một vị Phật,
“Nguyện bóng tối u ám
của vô minh
trong tất cả chúng sinh luân hồi được xua tan;
Nguyện nhận thức nhị nguyên của họ được thanh tịnh;
Và nguyện họ nhận ra sự tỉnh giác
nơi chính mình.
Tâm chấp thủ nhị nguyên là một dạng nghi ngờ.
Từ chấp thủ vi tế, một khi đã sinh khởi,
khuynh hướng quen thuộc dần dần trở nên mạnh mẽ.
Thức ăn, của cải, y phục, nhà cửa và bạn đồng hành,
những lạc thú của năm giác quan, hay những người thân yêu—
Bất cứ điều gì hấp dẫn
đều mang đến nỗi khổ của tham ái.
Đây là những mê lầm của thế gian.
Các hành động dựa trên chấp thủ nhị nguyên thì vô tận.
Khi quả của chấp thủ chín muồi,
chúng dẫn đến tái sinh làm ngạ quỷ, chịu khổ vì tham ái.
Đau khổ vì đói và khát thật cùng cực biết bao!
Giờ đây, thông qua nguyện vọng của một vị Phật,
nguyện cho những chúng sinh bị tham ái và chấp thủ
không còn bị dày vò bởi cơn khổ của tham ái,
và cũng không truy cầu chấp thủ đó.
Nhưng bằng cách để tâm
thảnh thơi đúng như nó vốn có,
nguyện cho họ nắm bắt được trạng thái tự nhiên của tỉnh giác
và đạt được trí huệ của sự phân biệt viên mãn.
“Thông qua những dao
động vi tế của lo âu và sợ hãi
trước sự xuất hiện của các đối tượng bên ngoài,
các khuynh hướng quen thuộc về ác cảm được củng cố,
mở đường cho thù hận, tổn hại và giết chóc.
Khi quả của sự hung
hăng chín muồi,
thì những đớn đau sôi sục và thiêu đốt trong địa ngục sẽ kinh khủng biết bao!
Giờ đây, thông qua nguyện vọng của một vị Phật,
nguyện cho tất cả chúng sinh trong sáu cõi
Bất cứ khi nào họ bị
dày vò bởi sự hung hăng dữ dội,
nguyện họ không từ chối cũng không nuông chiều nó, mà để tâm thảnh thơi trong
đó,
nắm bắt trạng thái tự nhiên của tỉnh giác nơi chính mình,
và đạt được trí huệ sáng suốt minh mẫn.
Khi tâm trở nên kiêu
ngạo,
nó sinh ra những ý nghĩ ganh đua và khinh miệt,
và sự khởi sinh của niềm kiêu hãnh dữ dội
dẫn đến nỗi khổ của cãi cọ và tranh chấp.”
Khi quả của nghiệp như
vậy chín muồi,
chúng dẫn đến tái sinh làm một vị chư thiên, chịu sự sinh diệt thăng trầm.
Giờ đây, thông qua nguyện vọng của một vị Phật,
nguyện cho tất cả chúng sinh nơi tâm sinh khởi kiêu ngạo
An trụ tâm ngay trong
đó,
nắm bắt trạng thái tự nhiên của tỉnh giác nơi chính mình,
và nhận ra ý nghĩa thật sự của sự bình đẳng.5
Những khuynh
hướng quen thuộc của chấp thủ nhị nguyên dữ dội
mang đến nỗi khổ của tự mãn và khinh miệt,
và bằng cách kích động xung đột, tranh chấp và cạnh tranh,
dẫn đến tái sinh trong cõi A-tu-la với chiến tranh và tàn sát,
rồi tiếp đó dẫn đến sa xuống các cõi địa ngục.
Giờ đây, thông qua
nguyện vọng của một vị Phật,
nguyện cho những chúng sinh nơi tâm sinh khởi ganh đua và thù địch
không xem chúng là kẻ thù, mà an trụ ngay trong đó,
nắm bắt trạng thái tự nhiên của tỉnh giác nơi chính mình
và đạt được trí huệ của hoạt động không trở ngại.
Vô minh, thờ ơ, phân
tâm,
Lờ đờ, buồn ngủ, quên lãng,
Không cảm nhận, lười biếng và ngu dốt
dẫn đến cảnh lang thang bất lực như loài súc sinh.
Giờ đây, thông qua
nguyện vọng của một vị Phật,
nguyện ánh sáng của nhận thức sáng suốt bừng lên
trong những kẻ chìm trong bóng tối của sự ngu dốt,
và nguyện họ đạt được trí huệ không vướng bận tư tưởng.
Tất cả chúng sinh
trong ba cõi
đều bình đẳng với Ta, vị Phật, trong cội nguồn vạn pháp,
nhưng đối với họ, đó chỉ là nền tảng của mê lầm vô minh.
Và giờ đây họ tham gia vào những hành vi vô nghĩa,
với sáu loại nghiệp như thể bị lừa dối trong một giấc mơ.
Nhưng Ta là Đức Phật nguyên sơ,
dẫn dắt sáu loài chúng sinh qua các hiển lộ của Ta.
Thông qua điều này, nguyện cầu nguyện vọng của Phổ Hiền,
nguyện tất cả chúng sinh, không loại trừ ai,
thức tỉnh trong pháp giới, cõi tuyệt đối.
ཨ་ཧོ༔
a ho
Aho!
Kể từ nay, bất cứ khi nào một vị yogi quyền
năng,
với sự
tỉnh giác tự nhiên sáng suốt,
không bị mê lầm,
tụng đọc nguyện vọng quyền năng này,
tất cả chúng sinh nghe được
sẽ thức tỉnh trong vòng ba kiếp sống.
Khi Rāhu8
chiếm mặt trời hoặc mặt trăng,
bất cứ khi nào đất rung chuyển hay động đất xảy ra,
vào các ngày chí hay cuối năm,
hãy hình dung mình là Phổ Hiền,
và tụng nguyện này thật to để mọi người đều nghe được.
Khi đó, tất cả chúng
sinh trong ba cõi
sẽ, thông qua nguyện cầu của vị yogi,
dần dần được giải thoát khỏi khổ đau
và cuối cùng sẽ thức tỉnh thành Phật.7
Đoạn này được
trích từ chương mười chín của Đại Mãn-đặc Luận (Tantra of the Great
Perfection that Reveals the All-Penetrating Wisdom Mind of Samantabhadra),
trong đó dạy rằng thông qua việc tụng đọc một nguyện cầu quyền năng, tất cả
chúng sinh không thể không thức tỉnh.
| Translated by Adam Pearcey, 2019.
Version: 1.5-20231016
Notes
1.
Literally ‘by outer
and inner’. ↑
2.
An alternative version
of this line reads: There is no fear, even at the triple world’s alarm
(’jigs). ↑
3.
Some versions of this
line have colour (kha dog) in place of the five poisons (dug
lnga). ↑
4.
Note that the word
‘peaceful’ here is only implied in the original Tibetan. ↑
5.
An alternative version
of this line reads: And realise the wisdom of equality. ↑
6.
In other words, during
a solar or lunar eclipse. ↑
7.
An alternative version
of this line reads: And swiftly awaken as a buddha. ↑
8.
Rāhu tượng trưng cho những
trở lực trong tâm thức – như phiền não, chướng ngại hay mê lầm – mà hành
giả cần nhận diện và vượt qua.
https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/rigdzin-godem/prayer-of-kuntuzangpo