Thứ Bảy, 27 tháng 6, 2026

NGUYỆN VĂN MƯỜI MỘT BA-LA-MẬT

Aspiration of the Eleven Perfections

Trích từ : the Compendium of Sādhanas
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập:Tuệ Uyển


***

 Đấng Đại Bi, bậc tối tôn nhân loại,
Đã viên thành Bố thí Ba-la-mật.
Như Thế Tôn chứng đạt hạnh bố
thí,
Nguyện con cùng chúng sinh sớm viên thành.

Đấng Đại Bi, bậc tối tôn nhân loại,
Đã viên thành Trì giới Ba-la-mật.
Như Thế Tôn chứng đạt hạnh tịnh giới,
Nguyện con cùng chúng sinh sớm viên thành.

Đấng Đại Bi, bậc tối tôn nhân loại,
Đã viên thành Nhẫn nhục Ba-la-mật.
Như Thế Tôn chứng đạt hạnh nhẫn chịu,
Nguyện con cùng chúng sinh sớm viên thành.

Đấng Đại Bi, bậc tối tôn nhân loại,
Đã viên thành Tinh tấn Ba-la-mật.
Như Thế Tôn chứng đạt hạnh chuyên cần,
Nguyện con cùng chúng sinh sớm viên thành.

Đấng Đại Bi, bậc tối tôn nhân loại,
Đã viên thành Thiền định Ba-la-mật.
Như Thế Tôn chứng đạt hạnh định tĩnh
,
Nguyện con cùng chúng sinh sớm viên thành.

Đấng Đại Bi, bậc tối tôn nhân loại,
Đã viên thành Quán sát Ba-la-mật.
Như Thế Tôn chứng đạt hạnh tuệ giác,
Nguyện con cùng chúng sinh sớm viên thành.

Đấng Đại Bi, bậc tối tôn nhân loại,
Đã viên thành Phương tiện Ba-la-mật.
Như Thế Tôn chứng đạt diệu phương tiện,
Nguyện con cùng chúng sinh sớm viên thành.

Đấng Đại Bi, bậc tối tôn nhân loại,
Đã viên thành Lực dụng Ba-la-mật.
Như Thế Tôn chứng đạt đại thần lực,
Nguyện con cùng chúng sinh sớm viên thành.

Đấng Đại Bi, bậc tối tôn nhân loại,
Đã viên thành Nguyện tâm Ba-la-mật.
Như Thế Tôn chứng đạt đại nguyện lực,
Nguyện con cùng chúng sinh sớm viên thành.

Đấng Đại Bi, bậc tối tôn nhân loại,
Đã viên thành Trí tuệ Ba-la-mật.
Như Thế Tôn chứng đạt vô thượng trí,
Nguyện con cùng chúng sinh sớm viên thành.

Đấng Đại Bi, bậc tối tôn nhân loại,
Đã viên thành Pháp thân Ba-la-mật.
Như Thế Tôn chứng đạt diệu Pháp thân,
Nguyện con cùng chúng sinh sớm viên thành.

Nhờ lòng từ của bậc Thầy Vô Thượng,
Cùng gia trì, chân lý chư Đấng Chiến Thắng,
Bồ-tát, Độc Giác và A-la-hán,
Nguyện tâm này thảy đều được viên thành.

 

| Translated by Adam Pearcey, 2022.

Phụ thích: 

  • The Eleven Perfections (Mười một Ba-la-mật): Trong khi hệ thống kinh điển Đại thừa thông thường nói về Sáu Ba-la-mật (Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định, Trí tuệ) hoặc Mười Ba-la-mật (thêm Phương tiện, Nguyện, Lực, Trí), thì hệ thống triết học của Uttaratantra (Luận Tối Thượng Tục) hoặc một số dòng truyền thừa đặc thù của Mật tông Tây Tạng đôi khi mở rộng cấu trúc luận giải thành 11 Ba-la-mật nhằm tương ứng viên mãn với các phẩm tính quả đức của Phật tính. [1, 2]

Source

mkhyen brtse'i dbang po & blo gter dbang po, eds. sgrub thabs kun btus. 14 vols. Kangra, H.P.: Indo-Tibetan Buddhist Literature Publisher, Dzongsar Inst. for Advanced Studies, null. Vol. 11: 410–411

 

https://www.lotsawahouse.org/words-of-the-buddha/eleven-perfections-aspiration

MỘT PHẦN CỦA MẬT ĐIỂN GỐC KIM CANG PHỔ BA

  (VAJRAKĪLA)

A Section of the Vajrakīla Root Tantra
Words of the Buddha
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển

***

In the language of India: Vajrakīlaya-mūla-tantra-khaṇḍa

In the language of Tibet: Dorjé phurba tsawé gyükyi dumbu (rdo rje phur pa rtsa ba’i rgyud kyi dum bu)

In the English language: A Section of the Vajrakīla Root Tantra

 ***

Kính lạy Đấng Kim Cang Đồng Tử (Vajrakumāra) Nguyện Cầu Ngài Ban Phúc Lành!

Cơn thịnh nộ Kim Cang đập tan mọi lòng sân hận,
Máu báu đại thanh quang minh rực rỡ chiếu soi.
Tựa giọt sương mai, bừng sáng giữa mạn-đà-la của bầu trời,
Trở thành đóa cửa mở ra nguồn sống tối thượng,
Được quán chiếu ngay giữa trung tâm của trái tim.

Thệ nguyện (samaya) giải thoát bằng lòng từ bi chân thật
Vốn chẳng liên quan đến việc sát hại hay khuất phục tai ương.
Năm uẩn cùng tâm thức thảy đều biến chuyển,
Hòa nhập vào tự tánh Kim Cang, bản chất đích thực của muôn loài.

ཨོཾ་བཛྲ་ཀཱི་ལི་ཀཱི་ལ་ཡ་སརྦ་བིགྷྣཱན་བཾ་ཧཱུྃ་ཕཊ྄། དཱིཔྟ་ཙཀྲ་ཧ་ན་ཧ་ན་ཧཱུྃ་ཕཊ྄།

om benza kili kilaya sarva bighanen bam hung pé | diptatsakra hana hana hung pé[1]

oṃ vajra-kīli kīlaya sarva-vighnān baṃ hūṃ phaṭ | dīpta-cakra hana hana hūṃ phaṭ1

 Hỡi các bậc Trì Minh Vương (Vidyādharas) của Đấng Kim Cang Đồng Tử,
Hãy chứng ngộ luân hồi chính là thực tại Kim Cang!
Nguyện cho luân hồi biến thành các tôn tướng của Phổ Ba Kim Cang (Vajrakīla),
Và hiện thực hóa cơn thịnh nộ của trí tuệ tối cao!

Hóa thân trí tuệ của hết thảy chư Phật,
Trong chính tự tánh chân như Kim Cang bất hoại,
Là bản chất cốt tủy của pháp giới (dharmadhātu),
Là hiện thân của cơn thịnh nộ rực lửa khôn cùng.
Con nguyện được dung hợp vào kho tàng sắc thân của Ngài.

Bằng phương tiện thiện xảo và luôn hướng thiện chí đến lợi lạc chúng sinh,
Xin Ngài viên thành các Phật sự giác ngộ,
Dành cho những ai cần được nhiếp phục bằng lòng từ ái và bi mẫn vô biên.
Cúi xin Ngài ban dòng gia trì và trao truyền quán đảnh.
 

ཨོཾ་བཛྲ་ཀྲོ་དྷ་ཧཱུྃ་ཀ་ར་ཧཱུྃ། གརྫ་གརྫ་ཧཱུྃ་ཕཊ྄། ཨོཾ་བཛྲ་ཀྲོ་དྷཱི་དཱི་པ་ཡ་ཏི་ཧཱུྃ། ཨོཾ་བཛྲ་སུ་ཀ་ར་མུ་ཁ་ཧཱུྃ། ཨོཾ་བཛྲ་ཨི་ཥུ་པ་མུ་ཁི་ཧཱུྃ།

om benza krodha hungkara hung gardza gardza hung pé | om benza krodhidipayati hung | om benza sukaramukha hung | om benza ishupamukhi hung

oṃ vajra-krodha-hūṃkāra hūṃ garja garja hūṃ phaṭ | oṃ vajra-krodhī-dīpayati hūṃ | oṃ vajra-sūkara-mukha hūṃ | oṃ vajreṣupa-mukhi hūṃ |

Đây là các chân ngôn (mantra) của Đại Phẫn Nộ Vương Hūṃkāra, Minh Luân Kim Cang Mẫu (Kim Cang Nữ Vương Dīpayatī), cùng các vị hóa hiện bổn tôn lai mang đầu lợn và đầu thằn lằn.[2] 

ཨོཾ་བཛྲ་ཀྲོ་དྷ་བི་ཛ་ཡ་ཧཱུྃ། ཧ་ན་ཧ་ན་ཧཱུྃ་ཕཊ྄། ཨོཾ་བཛྲ་ཀྲོ་དྷཱི་ལཱ་སྱ་ཀི་ཧཱུྃ། ཨོཾ་བཛྲ་བྱཱ་ཀྲྀ་མུ་ཁ་ཧཱུྃ། ཨོཾ་བཛྲ་གྲྀཌྷ་མུ་ཁི་ཧཱུྃ།

om benza krodha vidzaya hung hana hana hung pé | om benza krodhi lasyaki hung | om benza byakrimukha hung | om benza gridhamukhi hung

oṃ vajra-krodha-vijaya hūṃ hana hana hūṃ phaṭ | oṃ vajrakrodhī-lāsyaki hūṃ | oṃ vajra-vyāghra-mukha hūṃ | oṃ vajra-gṛdhra-mukhi hūṃ |

Đây là các câu thần chú của đại phẫn nộ vương Vijaya (Tối Thắng Minh Vương), kim cương hoàng hậu Lāsyakī, cùng các vị bổn tôn tùy tùng lai biến hiện mang đầu cọp và đầu chim kền kền. 

ཨོཾ་བཛྲ་ཀྲོ་དྷ་ནཱི་ལ་དཎྜ་ཧཱུྃ། ད་ཧ་ད་ཧ་ཧཱུྃ་ཕཊ྄། ཨོཾ་བཛྲ་ཀྲོ་དྷཱི་ཏཱི་ར་ཧཱུྃ། ཨོཾ་བཛྲ་ཙ་མ་ར་མུ་ཁ་ཧཱུྃ། ཨོཾ་བཛྲ་ཏ་ནཱ་མུ་ཁི་ཧཱུྃ།

om benza krodha niladanda hung daha daha hung pé | om benza krodhi tira hung | om benza tsamara mukha hung | om benza tanamukhi hung

oṃ vajra-kroda-nīladaṇḍa hūṃ daha daha hūṃ phaṭ | oṃ vajra-krodhī-tīra hūṃ | oṃ vajra-camara-mukhi hūṃ | oṃ vajra-droṇa-mukhi hūṃ |

Đây là các câu thần chú của phẫn nộ vương Nīladaṇḍa (Lam Sái Minh Vương), kim cương hoàng hậu Tīrā, cùng các vị bổn tôn tùy tùng biến hiện lai mang đầu bò tây tạng và đầu quạ. ↑ 

ཨོཾ་བཛྲ་ཀྲོ་དྷ་ཡ་མཱནྟ་ཀ་ཧཱུྃ། པ་ཙ་པ་ཙ་ཧཱུྃ་ཕཊ྄། ཨོཾ་བཛྲ་ཀྲོ་དྷཱི་ཤྨ་ཤ་ན་པ་ཏི་ཧཱུྃ། ཨོཾ་བཛྲ་ཧ་རི་ཎ་མུ་ཁ་ཧཱུྃ། ཨོཾ་བཛྲ་ཨཱུ་ལུ་ཀ་མུ་ཁི་ཧཱུྃ། 

om benza krodha yamantaka hung patsa patsa hung pé | om benza krodhi shamashanapati hung | om benza harinamukha hung | om benza ulukamukhi hung

oṃ vajra-krodha-yamāntaka hūṃ paca paca hūṃ phaṭ | oṃ vajra-krodhī-śmaśānapati hūṃ | oṃ vajra-hariṇa-mukha hūṃ | oṃ vajrolūka-mukhi hūṃ |

Đây là các câu thần chú của phẫn nộ vương Yamāntaka (Đại Uy Đức Kim Cương / Hàng Tam Thế Minh Vương), kim cương hoàng hậu Śmaśānapatī (Thi Lâm Chủ Mẫu), cùng các vị bổn tôn tùy tùng biến hiện lai mang đầu hươu và đầu cú mèo.

ཨོཾ་བཛྲ་ཀྲོ་དྷ་ཨཱརྻ་ཨ་ཙ་ལ་ཧཱུྃ། བྷནྡྷ་བྷནྡྷ་ཧཱུྃ་ཕཊ྄། ཨོཾ་བཛྲ་ཀྲོ་དྷཱི་མུ་ཧ་ལ་ཧཱུྃ། ཨོཾ་བཛྲ་ཏྱ་ཀི་མུ་ཁ་ཧཱུྃ། ཨོཾ་བཛྲ་པྲེ་ཏ་མུ་ཁི་ཧཱུྃ།

om benza krodha arya atsala hung bhenda bhenda hung pé |om benza krodhi muhala hung | om benza tayaki mukha hung | om benza pretamukhi hung

oṃ vajra-krodhāryācala hūṃ bandha bandha hūṃ phaṭ | oṃ vajrakrodhī-musala hūṃ | oṃ vajra-citraka-mukha hūṃ | oṃ vajra-prītu-mukhi hūṃ |

Đây là các câu thần chú của phẫn nộ vương Āryācala (Bất Động Minh Vương), kim cương hoàng hậu Musalā,[3] cùng các vị bổn tôn tùy tùng lai biến hiện mang đầu báo và đầu quạ.[4]

ཨོཾ་བཛྲ་ཀྲོ་དྷ་ཧ་ཡགྲཱི་བ་ཧཱུྃ། ཧུ་ལུ་ཧུ་ལུ་ཧཱུྃ་ཕཊ྄། ཨོཾ་བཛྲ་ཀྲོ་དྷཱི་ཛ་ཡ་ཏི་ཧཱུྃ། ཨོཾ་བཛྲ་བི་ཊཱ་ལ་མུ་ཁ་ཧཱུྃ། ཨོཾ་བཛྲ་པཀྵི་ཏ་མུ་ཁི་ཧཱུྃ།

om benza krodha hayagriva hung hulu hulu hung pé | om benza krodhi dzayati hung | om benza bitalamukha hung | om benza pakshita mukhi hung

oṃ vajra-krodha-hayagrīva hūṃ hulu hulu hūṃ phaṭ | oṃ vajra-krodhī-jayati hūṃ | oṃ vajra-viḍāla-mukha hūṃ | oṃ vajra-pakṣita-mukhi hūṃ |

Đây là các câu thần chú của phẫn nộ vương Hayagrīva (Mã Đầu Minh Vương), kim cương hoàng hậu Jayatī,[5] cùng các vị thần tùy tùng biến hiện mang đầu mèo và đầu chim đầu rìu (chim rẽ quạt). 

ཨོཾ་བཛྲ་ཀྲོ་དྷ་ཨ་པ་རཱ་ཛི་ཏ་ཧཱུྃ། ཏིཥྛ་ཏིཥྛ་ཧཱུྃ་ཕཊ྄། ཨོཾ་བཛྲ་ཀྲོ་དྷཱི་ས་བྱ་ཏི་ཧཱུྃ། ཨོཾ་བཛྲ་སྲྀ་ག་ལ་མུ་ཁ་ཧཱུྃ། ཨོཾ་བཛྲ་པཉྩ་ར་ཎ་མུ་ཁི་ཧཱུྃ།

om benza krodha aparadzita hung tishta tishta hung pé | om benza krodhi sajati hung | om benza srigala mukha hung | om benza pentsa ranamukhi hung

oṃ vajra-krodhāparājita hūṃ tiṣṭha tiṣṭha hūṃ phaṭ | oṃ vajrakrodhī-savyati hūṃ | oṃ vajra-sṛgāla-muka hūṃ | oṃ vajra-pañcaraṇa-mukhi hūṃ |

Đây là các câu thần chú của phẫn nộ vương Aparājita (Vô Năng Thắng Minh Vương), kim cương hoàng hậu Śaryātī,[6] cùng các vị bổn tôn tùy tùng lai biến hiện mang đầu chó rừng và đầu chim ưng.[7]

ཨོཾ་བཛྲ་ཀྲོ་དྷ་ཨ་མྲྀ་ཏ་ཀུཎྜ་ལི་ཧཱུྃ། ཚིནྡྷ་ཚིནྡྷ་ཧཱུྃ་ཕཊ྄། ཨོཾ་བཛྲ་ཀྲོ་དྷཱི་ས་བྱ་མི་ཏི་ཧཱུྃ། ཨོཾ་བཛྲ་སིཾ་ཧ་མུ་ཁ་ཧཱུྃ། ཨོཾ་བཛྲ་ཏི་ཏི་ལ་མུ་ཁི་ཧཱུྃ།

om benza krodha amritakundali hung tsindha tsindha hung pé | om benza krodhi sajamiti hung | om benza simhamukha hung | om benza titilamukhi hung

oṃ vajrakrodha-amṛtakuṇḍali hūṃ chindha chindha hūṃ phaṭ | oṃ vajrakrodhī-savyamiti hūṃ | oṃ vajra-simha-mukha hūṃ | oṃ vajra-titīla-mukhi hūṃ |

Đây là các câu thần chú của phẫn nộ vương Amṛtakuṇḍali (Cam Lộ Quân Trà Lợi Minh Vương), kim cương hoàng hậu Śabdamayī [8](Thanh Âm Tự Tánh Mẫu), cùng các vị thần tùy tùng biến hiện mang đầu sư tử và đầu dơi.

ཨོཾ་བཛྲ་ཀྲོ་དྷ་ཏྲཻ་ལོ་ཀྱ་བི་ཛ་ཡ་ཧཱུྃ། བིནྡྷ་བིནྡྷ་ཧཱུྃ་ཕཊ྄། ཨོཾ་བཛྲ་ཀྲོ་དྷཱི་མཱ་ར་ཡ་ཧཱུྃ། ཨོཾ་བཛྲ་རཀྵི་ས་མུ་ཁ་ཧཱུྃ། ཨོཾ་བཛྲ་ན་ཀུ་ལ་མུ་ཁི་ཧཱུྃ།

om benza krodha trailokyavidzaya hung bindha bindha hung pé | om benza krodhi maraya hung | om benza rakshisa mukha hung | om benza nakulamukhi hung

oṃ vajra-krodha-trailokyavijaya hūṃ bindha bindha hūṃ phaṭ | oṃ vajrakrodhī-māraya hūṃ | oṃ vajra-tarakṣī-mukha hūṃ | oṃ vajra-nakula-mukhi hūṃ |

Đây là những mật ngôn (thần chú) của phẫn nộ minh vương Hàng Tam Thế (Trailokyavijaya), kim cương tôn hậu Mārayā, cùng các tôn thần hóa thân có hình tướng lai ghép đầu linh cẩu và đầu chuột mangut.

ཨོཾ་བཛྲ་ཀྲོ་དྷ་མ་ཧཱ་བ་ལ་ཧཱུྃ། སྥོ་ཊ་སྥོ་ཊ་ཧཱུྃ་ཕཊ྄། ཨོཾ་བཛྲ་ཀྲོ་དྷཱི་མུཎྜེ་མཾ་ཧཱུྃ། ཨོཾ་བཛྲ་རཀྵ་ས་མུ་ཁ་ཧཱུྃ། ཨོཾ་བཛྲ་ཀ་ཤི་ཀ་མུ་ཁི་ཧཱུྃ།

om benza krodha mahabala hung sapota sapota hung pé | om benza krodhi munde mam hung | om benza rakshasa mukha hung | om benza kashikamukhi hung

oṃ vajra-krodha-mahābala hūṃ sphoṭa sphoṭa hūṃ phaṭ | oṃ vajrakrodhī-cuṇḍama hūṃ | oṃ vajra-ṛkṣa-mukha hūṃ | oṃ vajra-kaṣīkā-mukhi hūṃ |

Đây là những mật ngôn (thần chú) của phẫn nộ minh vương Đại Lực (Mahābala), kim cương tôn hậu Chuẩn Đề (Cundī),[9] cùng các tôn thần hóa thân có hình tướng lai ghép đầu gấu và đầu chuột.[10]

ཨོཾ་བཛྲ་ཡཀྵ་ས་ད་ཧཱུྃ་ཛཿ ཨོཾ་བཛྲ་བཻ་ར་བེ་ཧཱུྃ་ཧཱུྃ། ཨོཾ་བཛྲ་ཨ་མྲྀ་ཏ་ཧཱུྃ་བཾ། ཨོཾ་བཛྲ་མ་ར་ཎི་ཧཱུྃ་ཧོཿ

om benza yakshasada hung dza | om benza bairavé hung hung | om benza amrita hung bam | om benza marani hung ho

oṃ vajra-yakṣasada hūṃ jaḥ | oṃ vajra-bhairave hūṃ hūṃ | oṃ vajrāmṛta hūṃ vaṃ | oṃ vajra-māraṇi hūṃ hoḥ |

Đây là những mật ngôn (thần chú) của nữ thần đầu chim đầu rìu ở phương đông, nữ thần đầu chim bồ các ở phương nam, nữ thần đầu chim cú mèo ở phương tây, và nữ thần đầu chim ưng ở phương bắc.[11]

 Kính lạy chư bổn tôn phẫn nộ trí tuệ, cúi xin các Ngài ngự đến,
Và ban cho chúng con quán đảnh cùng sự gia trì
Để chuyển hóa sinh tử thành Vajrakīla (Kim Cương Phổ
Ba).
Và khi đã ngự đến, hỡi chư bổn
tôn phẫn nộ trí tuệ,
Xin hãy hiển lộ các điềm báo và dấu hiệu của sự thành tựu,
Và ban xuống cho chúng con các siddhi (thành tựu) của Kīla!

Thời khắc của đại thệ nguyện (samaya) đã đến![12]
Thời khắc của các đại hóa thân đã đến![13]
Thời khắc của các đại sứ giả đã đến![14]
Thời khắc của các đại vương giả đã đến![15]
Thời khắc của các đại địa mẫu phương vị đã đến![16]
Thời khắc của các nữ thần mặt chó (śvanmukhā) đã đến![17]
Thời khắc để giải thoát (độ hóa) chính là lúc này!

Sau khi đã phát khởi tâm hướng về giác ngộ,
Chúng con, những trì minh vương (vidyādhara), nguyện bước theo bước chân của những bậc kế thừa
Của chư Phật trong khắp ba đời
Và nhờ vào lực gia trì của chính vị đại phẫn nộ vương,
Lập tức triệu thỉnh về đây ngay trước mặt chúng con
Hết thảy kẻ thù, thế lực thù nghịch, ma quỷ và kẻ chướng ngại,
Những kẻ gây tổn hại và bày tỏ lòng oán hận đối với chúng con,
Để hàng phục và giải thoát (độ hóa) tất cả bọn họ.
Khiến cho thân và khẩu của chúng bị nghiền nát thành tro bụi,
Để chúng phải nếm trải nỗi đại thống khổ.

 

ཨོཾ་ལྃ་ཧཱུྃ་ལྃ་སྟྭཾ་བྷཱ་ཡ་ནཱན། མོ་ཧཾ་གྷཱ་ཏ་ཡ། བྷ་ག་ཝཱན། ཧྲཱིཿཥྚཱྀཿབི་ཀྲྀ་ཏ་བཛྲ་ཧཱུྃ་ཀ་ར་ཧཱུྃ། ཨོཾ་བཛྲ་ཀཱི་ལི་ཀཱི་ལ་ཡ་ཛཿཧཱུྃ་བྃ་ཧོཿ །སརྦ་བིགྷྣཱན་བཛྲ་ཀཱི་ལི་ཀཱི་ལ་ཡ་ཧཱུྃ་ཕཊ྄།

om lam hung lam tom bhayanen | mohang ghataya bhagavan | hrih sri vikrita benza hungkara hung | om benza kili kilaya dza hung bam ho | sarva bighanen benza kili kilaya hung pé

oṃ laṃ hūṃ laṃ stambhanaṃ mohaṃ ghātaya bhagavān hrīḥ śrīḥ vikṛta vajra-hūṃkāra hūṃ | oṃ vajrakīli kīlaya jaḥ hūṃ vaṃ hoḥ | sarva-vighnān vajrakīli kīlaya hūṃ phaṭ |

Những ác quỷ hãm hại chúng ta,
Những ác quỷ giày vò tâm trí chúng ta,
Và những ác quỷ có tên là như
vậy và như vậy
Đều bị tóm gọn, đánh gục và xiềng xích.
Chúng bị nhận diện và cô lập khỏi đồng bọn.
Bị triệu hồi từ nơi xa xôi, chúng phải phục tùng!
Chúng bị hạ bệ và chịu sự trừng phạt nghiêm khắc!
Giờ đây khi đã quy phục dưới quyền năng của chúng ta,
Chúng cúi đầu nghe lệnh và thề sẽ trung thành.

ཧཱུྃ་པ་ར་བིདྱཱ། ཙྪིནྡྷ་ཙྪིནྡྷ་ཧཱུྃ་ཕཊ྄། བིནྡྷ་བིནྡྷ་ཧཱུྃ་ཕཊ྄། གྲྀཧྞ་གྲྀཧྞ་ཧཱུྃ་ཕཊ྄། ཧ་ན་ཧ་ན་ཧཱུྃ་ཕཊ྄། བྷནྡྷ་བྷནྡྷ་ཧཱུྃ་ཕཊ྄། ཏྲཱ་ཤ་ཡ་ཏྲཱ་ཤ་ཡ་ཧཱུྃ་ཕཊ྄། ཧ་ས་ཡ་ར་ཧ་ས་ཡ་ར་ཧྲཱིཿདཎྜ་ཧཱུྃ་ཕཊ྄། ཤཱི་གྷྲཾ་ཨཱ་ན་ཡ་ཧཱུྃ་ཕཊ྄། ཛྭ་ལཱ་པ་ཡ་ཛྭ་ལཱ་པ་ཡ་ཧཱུྃ་ཕཊ྄། ཨཱ་བེ་ཤ་ཡ་ཨཱ་བེ་ཤ་ཡ་ཧཱུྃ་ཕཊ྄། བིནྡྷ་ཡ་བིནྡྷ་ཡ་ཧཱུྃ་ཕཊ྄།

hung paravidya tsindha tsindha hung pé | bindha bindha hung pé | grihana grihana hung pé | bhenda bhenda hung pé | trashaya trashaya hung pé | hasayara hasayara hrih danda hung pé | shighram anaya hung pé | dzalapaya dzalapaya hung pé | abeshaya abeshaya hung pé | bindhaya bindhaya hung pé

hūṃ paravidyā chindha chindha hūṃ phaṭ | bindha bindha hūṃ phaṭ | gṛhna gṛhna hūṃ phaṭ | bandha bandha hūṃ phaṭ | trāśaya trāśaya hūṃ phaṭ | hasayara hasayara hrīḥ danḍa hūṃ phaṭ | śīghram ānaya hūṃ phaṭ | jvalāpaya jvalāpaya hūṃ phaṭ | āveśaya āveśaya hūṃ phaṭ | bindhaya bindhaya hūṃ phaṭ

 Hỡi các sứ giả, thuộc hạ và truyền ngôn,[18]
Thời khắc thực hiện lời thề đã đến!
Hãy thi triển các pháp phẫn nộ phục ma như chúng ta mong muốn,
Và ban gia trì để mọi việc được thành tựu!

ཧ་ན་ཧ་ན་བཛྲ། ད་ཧ་ད་ཧ་བཛྲ། པ་ཙ་པ་ཙ་བཛྲ། མ་ཐཱ་མ་ཐཱ་བཛྲ། ཛྭ་ལ་ཛྭ་ལ་བཛྲ། སུ་རུ་སུ་རུ་བཛྲ། མུ་རུ་མུ་རུ་བཛྲ། ཀ་ཊ་ཀ་ཊ་ཡེ། ཛ་ཡེ་བི་ཛ་ཡེ། ཨ་ཛི་ཏེ་ཨ་པ་རཱ་ཛི་ཏེ། མ་ར་སེ་ནྱ་པྲ་མརྡ་ནི་ཧཱུྃ་ཕཊ྄། 

hana hana benza | daha daha benza | patsa patsa benza | mata mata benza | dzala dzala benza suru suru benza | muru muru benza | katakatayé dzayé vidzayé adzité aparadzité maraséna pramardani hung pé

hana hana vajra | daha daha vajra | paca paca vajra | matha matha vajra | jvala jvala vajra | suru suru vajra | muru muru vajra | kaṭaṅkaṭe jaye vijaye ajite aparājite māra-sena-pramardani hūṃ phaṭ |

 Những đại minh vương mang uy lực phẫn nộ,
Sẽ đập tan thành trăm mảnh vụn
Đầu của bất kỳ kẻ ác ôn nào
Dám vi phạm mật lệnh Kim Cang!
Hãy lắng nghe, hỡi tất cả kẻ cản trở và tà sư dẫn đường sai lạc,
Các ngươi tuyệt đối không được trái lệnh ta!

ཧཱུྃ་མ་མ་པ་ཤཱཾ་ཀུ་རུ། 

hung mama washam kuru

hūṃ mama vaśaṃ kuru

 Hãy rời đi ngay, hỡi tất cả những kẻ độc ác và ngạo mạn,
Bất kể các ngươi là thần thánh hay quỷ dữ!
Bất kỳ con quỷ nào dám tạo ra chướng ngại
Sẽ bị tước đoạt toàn bộ sức mạnh và quyền năng!

སརྦ་ཨཱ་ན་ཡ་ཧཱུྃ་ཕཊ྄། ཏ་ཐཱ་ཡ་ཏ་ཐཱ་ཡ་ཧཱུྃ་ཕཊ྄།

sarva anaya hung pé | tataya tataya hung pé

sarvānaya hūṃ phaṭ | tathāya tathāya hūṃ phaṭ

 Bất kỳ kẻ ác ôn nào dám làm trái lệnh ta
Sẽ bị chày Kim Cang rực lửa đập tan tành.
Trái tim chúng sẽ bị thiêu rụi bởi lửa Kim Cang
Cả thân xác lẫn tâm trí đều biến thành tro bụi.
Khi chúng bị nghiền nát bằng búa Kim Cang
Trong chiếc cối rực lửa của các Phật Mẫu phẫn nộ,
Thì ngay cả những vị thần quyền năng nhất cũng sẽ được giải thoát!

ཁ་ཏཾ་ཁ་ཏཾ་ཁ་ཏཾ། ཧཱུྃ་ཧཱུྃ་ཧཱུྃ། ཕཊ྄་ཕཊ྄་ཕཊ྄། །བཛྲ་ཡཀྵ་ཀྲོ་དྷ་ཁ་ཁ། ཁཱ་ཧི་ཁཱ་ཧི། ཧ་ཧ། ཧཱུྃ་ཧཱུྃ། ཕཊ྄་ཕཊ྄།

khatam khatam khatam | hung hung hung | pé pé pé | benza yakshakrodha kha kha | khahi khahi | ha ha | hung hung | pé pé |

khataṃ khataṃ khataṃ hūṃ hūṃ hūṃ phaṭ phaṭ phaṭ vajra-yakṣa-krodha kha kha khāhi khāhi ha ha hūṃ hūṃ phaṭ phaṭ |

 Đó chính là chân lý của pháp tánh (dharmatā)! Nguyện cho chúng con nhận được sự gia trì của Mật Ngôn! Nguyện cho chúng con tích lũy được uy lực thông qua sự gia trì của chư Phật! Nguyện cho chúng con mãi hướng tâm về tính như thị!

Hãy trì tụng chú kīlaya hai mươi mốt biến![19] Sau lượt tụng thứ mười tám của chú kīlaya, bạn sẽ chạm đến ranh giới của thiện và ác bên trong tâm khảm của chính mình.

ཧཱུྃ་ཧཱུྃ་ཧཱུྃ། ཧོ་ཧོ་ཧོ། ཕཊ྄་ཕཊ྄་ཕཊ྄།

hung hung hung | ho ho ho | pé pé pé |

hūṃ hūṃ hūṃ | ho ho ho | phaṭ phaṭ phaṭ |

Đây là những gì được trì tụng.

 

***

Một Chương trong Mật Tục Gốc Vajrakīla đã được dịch, hiệu đính và hoàn thiện bởi học giả lừng danh Sakya Paṇḍita, dựa trên chính bản chép tay cổ bằng tiếng Ấn Độ thuộc sở hữu cá nhân của đại sư Padmasambhava (Liên Hoa Sinh) tại vùng Shang Sekshing thuộc học khu Yeru.[20]

Mặc dù một vài lotsāwa (dịch giả) như Gö và Chak[21] từng hoài nghi về truyền thống Mật Chú của thời kỳ Hậu dịch (Cựu Dịch / Cổ Mật), nhưng đại sư Drokmi[22] nói rằng câu thần chú 'rulu' tám âm tiết[23] đã được khắc phía trên vòm cửa lối vào của Kim Cương Tòa[24], và rằng ngài đã tận mắt nhìn thấy các mảnh bản văn của Śrī Heruka và Vajrakīla trong bộ sưu tập kinh điển của một vài paṇḍita (học giả), mặc dù các vị này tuyên bố không có giáo hướng thực hành cho các bản văn đó. Từ thực tế này, một số học giả cho rằng các paṇḍita và hành giả thành tựu của thời kỳ sau rõ ràng đã thực hành tinh túy của các mật tục thuộc thời kỳ Cựu dịch dưới hình thức các bổn tôn (yidam) vô cùng bí mật.

Đặc biệt, đại sư Padmasambhava (Liên Hoa Sinh) đã trực tiếp truyền trao các giáo hướng về Nhất Đăng của Śrī Heruka[25] cho đại học giả xứ Kashmir là Śākyaśrī[26], và các giáo huấn này đã được dịch bởi dịch giả Lotsāwa Rabchok Pal.[27] Ngoài ra, khi Jamgön Sakya Paṇḍita đang lưu trú tại tu viện Sekshing ở vùng Shang, một vị yogi đã dâng tặng ngài một bản chép tay bằng tiếng Phạn. Ngay khi nhìn thấy bản chép tay đó, Sakya Paṇḍita liền nhận ra rằng đây chắc chắn là một chương trong mật tục gốc Vajrakīla từng thuộc sở hữu của chính bậc thầy tôn kính Padmasambhava.

Do đó, ngài liền bảo: “Thật là một hồng phúc hy hữu khi tìm thấy được một viên ngọc như ý như thế này. Hãy cầm lấy bản chép tay này và đợi ở sườn đồi phía dưới kia. Chúng ta sẽ chuẩn bị một lễ nghênh đón.” Sau đó, chính Sakya Paṇḍita đã chủ trì một đại pháp hội, và cùng với những áng mây vật phẩm cúng dường, ngài đã nghênh đón bản kinh trong một đại lễ long trọng. Tự tay ngài đã dịch bộ kinh này, và những bản kinh từng gây tranh cãi của thời kỳ Cựu Dịch, gồm Śrī Heruka và Vajrakīla, kể từ đó về sau đã trở nên không thể tranh cãi, tựa như mặt trời và mặt trăng. Qua đó, Sakya Paṇḍita đã tạo ra những thiện duyên cát tường cho sự hoằng truyền rộng khắp các diệu dụng giác ngộ của những bộ kinh này.

Phần lạc khoản (lời kết) này được thêm vào bởi Padma Ösal Dongak Lingpa.[28] Nguyện cầu vạn sự kiết tường! (Sarvadā kalyāṇa bhavatu!)
Oṃ svasti! (Nguyện mọi điều cát tường!) Chương này thuộc về mật tục gốc vương quyền, chứa đựng tinh túy cốt tủy
Từ một trăm ngàn chương của bộ mật tục Diệu Trí tối thượng về Vajrakīla (Kim Cương Phộ
Ba),[29]

Bộ kinh mà bậc Sakya Paṇḍita vĩ đại đã dịch thuật một cách xuất sắc,
Đang tỏa rạng như ánh mặt trời đến khắp chốn học giả và hành giả của Ấn Độ và Tây Tạng.
Nhờ công đức thù thắng từ việc ấn tống bản văn này,
Nguyện cho loài ma quân thù nghịch phá hoại giáo pháp đều bị tiêu trừ!
Nguyện cho các truyền thống giảng kinh và thành tựu chứng ngộ luôn hưng thịnh!
Nguyện cho chúng con đều chứng đạt quả vị Tứ Thân!
Sarvadā maṅgalaṃ! (Nguyện khắp thảy cát tường!)[30]

| Translated by Samye Translations (Stefan Mang and Lowell Cook), 2021.

Source

'Jam dbyangs chos kyi blo gros. "rdo rje phur pa rtsa ba’i rgyud kyi dum bu" in ’Jam dbyangs chos kyi blo gros kyi gsung ’bum. 12 vols. Bir: Khyentse Labrang, 2012. W1KG12986. Vol. 5: 311–320

 

Version: 1.4-20240624

https://www.lotsawahouse.org/words-of-the-buddha/vajrakila-root-tantra-section

 



[1] Đây là các câu thần chú của Bản tôn chính Phổ Ba Kim Cương (Vajrakīla) và phối ngẫu của Ngài, Diệp Đa Tra Cát La (Dīptacakrā - Minh Luân Kim Cương Mẫu). ↑
[2] Mỗi vị phẫn nộ vương và phối ngẫu của họ đều có một cặp nam thần và nữ thần biến hiện (tiếng Tây Tạng: sprul pa’i lha mo) đi kèm. Các nam thần, được gọi là 'kẻ nuốt chửng' (za byed pa), hầu hết mang đầu của các loài thú ăn thịt; trong khi các nữ thần, được gọi là 'kẻ sát hại' (gsod byed ma), hầu hết mang đầu của các loài chim. Các từ tiếng Tây Tạng 'phra men pha' và 'phra men ma' được dịch ở đây là 'thần lai' (hybrid), dường như là những bản dịch cổ của các từ tiếng Phạn ḍāka hoặc ḍākinī (Không Hành Nam hoặc Không Hành Nữ). Vì những vị thần này dường như là một dạng đặc biệt của ḍāka hoặc ḍākinī được đặc trưng bởi chiếc đầu thú của họ, nên chúng tôi đã dịch các thuật ngữ này ở đây là 'thần lai'. ↑
[3] Dòng thần chú ghi là muhala, đây có khả năng là một biến thể sai lệch (khẩu truyền/sao chép lỗi) từ chữ musala (tiếng Tây Tạng: gtun, nghĩa là cái chày giã).
[4] Dòng thần chú ghi là preta, đây có khả năng là một biến thể sai lệch (khẩu truyền/sao chép lỗi) từ chữ prītu (tiếng Tây Tạng: khwa, nghĩa là con quạ). ↑
[5] Văn bản tiếng Tây Tạng ghi là gtum po, từ này thường được dịch sang tiếng Phạn là caṇḍālī (nghĩa là mãnh liệt/phẫn nộ). Trong khi đó, danh xưng Jayatī sẽ được dịch sang tiếng Tây Tạng là rgyal ba (nghĩa là bậc chiến thắng). ↑
[6] The Sanskrit appears to be corrupted. 
[7] The Sanskrit appears to be corrupted but could denote a jackdaw (pañcama-kāka). 
[8] A tentative reconstruction of the Sanskrit. 
[9]   Văn bản tiếng Tây Tạng viết là rig(s) byed ma [Tác Biến Ma / tri thức nữ thần]. Trong khi đó, danh từ Cundī [Chuẩn Đề] đúng ra phải được dịch [sang tiếng Tây Tạng] là skul byed ma [Khuyến Biến Ma / nữ thần thúc giục].
[10] Trong khi tiếng Tây Tạng ám chỉ loài động vật đang được nhắc đến là một con chuột, thì thuật ngữ Phạn ngữ 'kaṣ/śīkā' thay vào đó có thể chỉ loài chim cà kheo ngược (pied avocet) hoặc thậm chí là một con triết bụng trắng (weasel).
[11] bốn vị nữ thần hộ vệ cửa (Tứ môn mẫu).
[12] Vajrakīla and his consort. 
[13] The ten wrathful ones.
[14] Tiếp theo là hai mươi tôn thần lai ghép và bốn vị hộ vệ cửa (Tứ môn mẫu).
[15] Bốn vị đại vương giả (chủ tể) (tiếng Phạn: mahātmā; tiếng Tây Tạng: bdag nyid chen po). ↑
[16]   Bốn vị đại địa mẫu phương vị (tiếng Phạn: mahābhūmipatī; tiếng Tây Tạng: sa bdag chen mo, cũng được gọi là các nữ thần bse mo). ↑
[17] Bốn vị nữ thần "mặt chó" (tiếng Phạn: śvanmukhā;
[18] Theo ngài Jamgön Kongtrul, thông qua "các đại sứ giả, quyến thuộc và người đưa tin", hết thảy chư tôn thần trong壇 thành (maṇḍala) Vajrakīla đều được triệu thỉnh. ↑
[19] That is Vajrakīla’s root mantra “oṃ vajra-kīli kīlaya sarva-vighnān baṃ hūṃ phaṭ”. 
[20] Yeru (g.yas ru) is in eastern Tsang. 
[21] Đó chính là Ngài Gö Lotsāwa Shönu Pal (‘gos lo tsā ba gzhon nu dpal, 1392–1481) và Ngài Chak Lotsāwa Chöjé Pal (chag lo tsā ba chos rje dpal, 1197–1265). ↑
[22] Ngài Drokmi Lotsāwa (’brog mi lo tsā ba, 992–1072/1074) là một bậc đại dịch giả lừng danh của thời kỳ Tân Dịch (Sarma) đầu tiên. ↑
[23] Đó chính là thần chú của Đức Śrī Heruka hay Yangdak Heruka, một trong những bản tôn (yidam) của phái Nyingma (Cựu Dịch). Toàn văn câu thần chú là: “oṃ ru lu ru lu hūṃ bhyoḥ hūṃ”. ↑
[24] That is, Bodh Gayā. 
[25] Xét thấy Thầy Padmasambhava (Liên Hoa Sanh) đã rời khỏi Tây Tạng và Ấn Độ vào thời điểm Ngài Śākyaśrī sinh sống, rất có thể Thầy Padmasambhava đã truyền dạy những giáo lý này cho Śākyaśrī thông qua một linh kiến (thấy trong định). ↑
[26] Śākyaśrī hay Śākyaśrībhadra (~1127–1225) là một nhà chú giải lớn người Kashmir về hệ thống kinh điển (sūtra) và mẫu tục (yoginītantra). Ông đã cùng chín vị paṇḍita (học giả) hành trình đến Tây Tạng vào năm 1204 theo lời mời của Tropu Lotsāwa Rinchen Sengé (khro phu lo tsā ba rin chen seng+ge, sinh năm 1173). Ông đã lưu lại Tây Tạng trong mười năm, và trong khoảng thời gian này, ông đã truyền trao nhiều lễ quán đảnh cùng các giáo pháp. Nhiều khả năng vào khoảng năm 1204, ông đã gặp gỡ Sakya Paṇḍita (1182–1251). Đến năm 1214, Śākyaśrī trở về Kashmir. Bộ Tạng ngoại luận Tengyur đã liệt kê 23 tác phẩm được ghi nhận do ông là tác giả, một vài trong số đó đã được dịch tại đây: https://www.lotsawahouse.org/indian-masters/shakyashribhadra/ ↑
[27] Việc dịch thuật các tác phẩm của ngài Śākyaśrī sang tiếng Tây Tạng chủ yếu được thực hiện bởi các vị lotsāwa (dịch giả) là Rabchok Palzang (rab mchog dpal bzang, ?) và Champa Pal (byams pa dpal, 1173–1225). ↑
[28] That is, Jamyang Khyentsé Wangpo. 
[29] Bộ Mật tục Diệu Trí tối thượng về Vajrakīla, hay còn gọi là Mật tục Vidyottama, là một trong những bộ mật tục cốt lõi của hành giả tu trì Vajrakīla (Kim Cương Phộc).
[30] Lời nguyện ước này cho việc ấn tống Chương Mật Tục Gốc Vajrakīla nhiều khả năng đã được thêm vào bởi đức Jamyang Khyentse Chökyi Lodrö. 

(Ghi chú học thuật: Đoạn văn bản này trong đại tạng thư ⁠Lotsawa House làm rõ rằng lời bạt (colophon) trước đó do đức Padma Ösal Dongak Lingpa (tức tôn hiệu dòng terma của đức Jamyang Khyentse Wangpo) viết, còn phần kệ nguyện cầu phụ thêm ở cuối cùng này là của đức Kyapjé Jamyang Khyentse Chökyi Lodrö – vị hóa thân kế tiếp thuộc dòng Khyentse).