Thứ Hai, 27 tháng 4, 2026

GIỚI THIỆU VỀ KAGYÉ

 Introduction to the Kagyé

Tác giả:  Stefan Mang
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
Kagyé 

***

Kagyé (bka’ brgyad)—còn được biết đến như Tám Giáo pháp Sādhana, Tám Bổn Tôn Mệnh lệnh, hay Tám Heruka—là một trong những chu kỳ tantra nền tảng và giàu tính biểu tượng nhất trong truyền thống Nyingma của Phật giáo Tây Tạng.

Chu kỳ này quy tụ tám vị Heruka phẫn nộ, với các chỉ dẫn thực hành (sādhana) được tổ chức thành một mạn-đà-la nghi lễ và quán tưởng thống nhất. Hệ thống này không chỉ đơn thuần là tập hợp các pháp tu bổn tôn riêng lẻ, mà là một con đường có cấu trúc và tính tích hợp cao, hàm chứa những nguyên lý giáo lý cốt lõi của Vajrayāna trong một tổng thể quán tưởng nhất quán, đồng thời cung cấp một khuôn khổ thực hành cụ thể để đạt đến sự chứng ngộ theo Mật thừa.

Trường phái Nyingma phân chia con đường Phật giáo thành chín thừa (yāna) kế tiếp nhau. Trong khuôn khổ này, thừa thứ bảy là Mahāyoga—chủ yếu tập trung vào giai đoạn phát triển (bskyed rim) của Vajrayāna—được chia thành hai phần: bộ Tantra (rgyud sde) và bộ Sādhana (sgrub sde).

Theo truyền thống, bộ Tantra được cho là đã được truyền dạy bởi Vajrapāṇi cho Năm Bậc Thánh Cao Quý trên núi Malaya; các vị này đã hệ thống hóa và cất giấu giáo pháp. Những bản văn này sau đó được cho là đã từ trên không trung giáng xuống cung điện của vua Ja tại xứ Zahor.

Phần Sādhana, mà Kagyé thuộc về, lại được chia thành hai dòng truyền thừa: truyền thừa trực tiếp (bka’ babs) và truyền thừa kho tàng (gter ma). Xét theo truyền thừa trực tiếp, vị được xem là người biên tập các giáo lý Kagyé là vị thần báo thân (sambhogakāya) Vajradharma. Trong vai trò là chủ nhân của các mật pháp, Ngài đã truyền dạy giáo lý về tám vị bổn tôn cho vị ḍākinī Karmendrāṇī.

Bà đã cất giấu các giáo pháp này trong cảnh giới hóa thân (nirmāṇakāya), bên trong bảo tháp Śaṅkarakūṭa tại nghĩa địa Śītavana, gần Bồ Đề Đạo Tràng ở Ấn Độ. Tại đó, tám vị trì minh (vidyādhara)—dẫn đầu bởi Padmasambhava—đã thọ nhận các giáo pháp thông qua chứng ngộ thiền định, và trở thành những hành giả nhân gian đầu tiên nắm giữ các pháp tu thành tựu của tám vị bổn tôn.

Padmasambhava đã thọ nhận, thực hành và chứng ngộ thông qua từng vị trong tám bổn tôn khi ở tại các bãi tha ma (charnel grounds) của Ấn Độ. Để thiết lập truyền thống Vajrayāna tại Tây Tạng, Ngài đã truyền trao những giáo pháp này cho các đệ tử thân cận nhất của mình.

Ngài cũng xác định những hang động linh thiêng tương ứng với từng bổn tôn—được biết đến chung là Tám Đại Hang Động Thành Tựu—và chỉ dạy chín đệ tử chính nhập thất trong đó tùy theo duyên nghiệp của mỗi người. Thông qua sự tu tập này, các đệ tử nhanh chóng đạt được siddhi (thành tựu) và trở thành tám vị trì minh (vidyādhara) Tây Tạng đầu tiên, ngang bằng về chứng ngộ với các bậc thầy Ấn Độ nguyên thủy.

Cùng với Padmasambhava, họ sau đó đã cất giấu những giáo pháp này như các kho tàng (gter ma) để được khám phá lại trong những thế hệ tương lai.

Vào thế kỷ XII, các giáo lý Kagyé đã được khai mở và hệ thống hóa một cách có phương pháp bởi Nyangral Nyima Özer (1124/1136–1192/1204), một trong những vị khai tàng sư (gter ston) sớm nhất và có ảnh hưởng sâu rộng nhất.

Tuyển tập được khai lộ của ngài, “The Assembly of the Sugatas” (bde gshegs ’dus pa), đã hợp nhất một phạm vi rộng lớn các chỉ dẫn nghi lễ, các bản tantra gốc, và những truyền thừa quán tưởng thành một hệ thống nghi quỹ thống nhất và mạch lạc.

Hệ thống Mật điển hình thành từ đó đã trở thành trung tâm của bản sắc nghi lễ và giáo lý của truyền thống Nyingma. Như vậy, sự khai lộ của Nyangral Nyima Özer đã chuẩn hóa (canonize) những pháp tu bổn tôn được xem là mạnh mẽ bậc nhất vào thời điểm đó, đồng thời đặt chúng vào một khuôn khổ lịch sử rõ ràng về khai lộ, truyền thừa và thực hành nghi lễ.

Các giáo lý và thực hành Kagyé tiếp tục được khai lộ qua nhiều thế kỷ sau đó bởi các vị khai tàng sư (gter ston) như Guru Chöwang (1212–1270), Orgyen Lingpa (sinh năm 1323), Rigdzin Gödem (1337–1408), Jigme Lingpa (1730–1798), Jamyang Khyentse Wangpo (1820–1892), và Chokgyur Dechen Lingpa (1829–1870).

Những khám phá này đã đóng góp và mở rộng kho tàng văn học Kagyé ngày càng phong phú và đa dạng, củng cố vị trí của nó như một trong những hệ thống thực hành Mật thừa quan trọng trong truyền thống Nyingma.

Tám vị Heruka biểu trưng cho sự hợp nhất của các phẩm tính giác ngộ—thân, khẩu, ý, công đức và hoạt động—đồng thời bao hàm các phương pháp Mật thừa nhằm điều phục những chướng ngại bên trong và bên ngoài. Cụ thể gồm:

1-Chemchok Heruka (che mchog he ru ka): công đức giác ngộ (yon tan)
2-
Yangdak Heruka (yang dag he ru ka): ý giác ngộ (thugs)
3-
Yamāntaka (gshin rje gshed): thân giác ngộ (sku)
4-
Hayagrīva (rta mgrin): khẩu giác ngộ (gsung)
5-
Vajrakīlaya (rdo rje phur pa): hoạt động giác ngộ (phrin las)
6-
Mamo Bötong (ma mo rbod gtong): triệu thỉnh và sai phái các “nữ thần hung mãnh”
7-
Jikten Chötö (’jig rten mchod bstod): cúng dường và tán thán mang tính thế tục
8-
Möpa Drak-Ngak (dmod pa drag sngags): thần chú phẫn nộ mang tính hàng phục

Một vị thứ chín được bổ sung là Guru Vidyādhara (bla ma rig ’dzin), do Padmasambhava khai thị như bậc thầy Mật thừa thể hiện sự chứng ngộ của cả tám vị. Tùy theo truyền thừa, Chemchok Heruka hoặc Guru Vidyādhara sẽ xuất hiện ở trung tâm của mạn-đà-la.

Về mặt giáo lý, Kagyé bao hàm một phạm vi rộng lớn các giáo pháp và thực hành của Vajrayāna. Trong tổng thể này, chúng phản ánh khuôn khổ Tam Căn (Three Roots – rtsa gsum) của truyền thống Nyingma:

-Đạo sư (guru – bla ma) được thể hiện qua Guru Vidyādhara
-
Bổn tôn (yidam – yi dam) được biểu trưng bởi năm vị đầu tiên
-
Không hành nữ (ḍākinī – mkha’ ’gro) xuất hiện qua các hình tướng như Siṃhamukhā trong pháp tu Mamo Bötong

Vai trò của hộ pháp (chos skyong) được đảm nhiệm bởi Jikten Chötö, với các thực hành triệu thỉnh những vị hộ thần đã phát thệ nguyện, trong khi Möpa Drak-ngak cung cấp các phương pháp hàng phục những lực cản trở.

Chu kỳ này cũng bao gồm các pháp tu bổ trợ, chẳng hạn như Amitāyus trong chu kỳ Hayagrīva, và các kỹ thuật du-già chuyên biệt như chiết xuất tinh túy (bcud len) trong chu kỳ Chemchok Heruka.

Cùng với những chỉ dẫn chi tiết về cách thành tựu con đường Mật thừa tương ứng với từng bổn tôn, hành giả được dẫn dắt qua toàn bộ lộ trình của phương tiện và chứng ngộ tantra—tiếp cận một hệ thống cứu cánh học (soteriology) toàn diện cho sự chuyển hóa nội tâm, đồng thời là một “công nghệ nghi lễ” nhằm hộ trì và thành tựu các mục đích thế gian.

Kagyé vẫn luôn là một trụ cột trung tâm trong đời sống nghi lễ của truyền thống Nyingma—đặc biệt trong các đại nghi quỹ tu tập tập thể chuyên sâu (sgrub chen).

Cho đến ngày nay, hệ thống này vẫn tiếp tục đóng vai trò như một khuôn khổ sống động cho việc đào luyện Mật thừa, làm chủ nghi lễ, và triển khai các hoạt động giác ngộ trong thực hành.

 

***

Dưới đây là bản dịch tiếng Việt của đoạn chú thích và tư liệu tham khảo:

1-Trautz 2021, tr. 31.

2-Tarthang Tulku Rinpoche (dar thang sprul sku rin po che) giải thích cách ḍākinī Karmendrāṇī đã cất giấu các tantra trong những phần khác nhau của bảo tháp:

“Ở phần nền của bảo tháp, bà cất giấu tất cả các bản văn thuộc chu kỳ sgyu ’phrul. Ở phần giữa, bà giấu Tập Hội Như Lai (Assembly of the Sugatas), trong đó các bổn tôn Kagyé được trình bày trong một mạn-đà-la duy nhất. Các bản văn bye brag sgos rgyud được giấu ở các cổng vào, gsang ba yongs rdzogs ở ống sáo, rang byung rang shar ở vành tháp, và sangs rgyas mnyam sbyor ở phần giữa của chóp tháp. Tất cả các bản văn này đều chứa những giáo pháp liên quan đến thực hành Mahāyoga và Anuyoga. Các giáo lý Atiyoga của yang gsang bla med yang ti nag po được giấu ở đỉnh cao nhất của chóp tháp, và các vị hộ pháp được chỉ định để bảo vệ những bản văn quý báu này cho đến thời điểm thích hợp để được khai lộ.”

Xem: Tarthang Tulku 1991, tr. 265–270; và Boord 1993, tr. 100.

3-Samye Translations 2023, tr. 51–53; Trautz 2021, tr. 36–37.

4-Trong khu vực Hy Mã Lạp Sơn, Tám Đại Hang Động Thành Tựu (sgrub phug brgyad) được xem là những thánh địa linh thiêng bậc nhất của Padmasambhava. Nằm ở Bhutan, Tây Tạng trung tâm và vùng Lhodrak phía nam Lhasa, những hang động này biểu trưng cho trí tuệ siêu việt và lòng từ bi vô lượng của Ngài.

Tương truyền, Padmasambhava đã chọn mỗi hang động cho việc tu tập của một trong tám bổn tôn Kagyé, gia trì từng nơi bằng năng lực liên hệ đến thân, khẩu, ý, công đức và hoạt động của Ngài. Sau đó, Ngài gửi các đệ tử đến tu tập tại đây, nơi họ nhanh chóng đạt thành tựu mà không gặp chướng ngại.

Để nghiên cứu chi tiết về tám hang động này, xem: Samye Translations 2023, tr. 149–235.

5-Tám vị trì minh Tây Tạng (bod kyi rig ’dzin brgyad), hay còn gọi là tám đại thành tựu giả của Tây Tạng, được tôn kính như những hình mẫu tối thượng của sự chứng ngộ. Họ gồm:

1-Trisong Detsen
2-Namkhé Nyingpo
3-
Nupchen Sangyé Yeshé
4-
Gyalwa Chokyang
5-
Yeshe Tsogyal
6-
Palgyi Yeshé
7-
Palgyi Sengé
8-
Vairotsana

Mỗi vị tương ứng với một bổn tôn mà qua đó họ đạt thành tựu:
(1) Chemchok Heruka, (2) Yangdak Heruka, (3) Yamāntaka, (4) Hayagrīva, (5) Vajrakīlaya, (6) Mamo Bötong, (7) Jikten Chötö, (8) Möpa Drak-ngak.

Cả Trisong Detsen và Nyak Jñanakumara đều nhận truyền thừa Chemchok Heruka. Nhà vua đạt chứng ngộ khi nhập thất tại tu viện Samye nên được tính vào tám vị trì minh. Nyak Jñanakumara, dù đạt chứng ngộ tương đương, không được liệt kê chính thức.

6-Trautz 2021, tr. 37–38.

7- “The Assembly of the Sugatas” (bde gshegs ’dus pa), hay Kagyé Deshek Düpa, là một chu kỳ giáo pháp quan trọng tập trung vào các bổn tôn Kagyé, được khai lộ như một kho tàng (terma) bởi Nyangral Nyima Özer.

8-Trautz 2021, tr. 19–20 & 39–44.
9
-Trautz 2021, tr. 18.
10
-Trautz 2021, tr. 19 & 24–25.

11-Dựa theo Trautz, người đã phân tích cấu trúc và nội dung của “The Assembly of the Sugatas” cũng như trình bày tổng quan các quán đỉnh Kagyé trong tuyển tập Rinchen Terdzö (rin chen gter mdzod).

Kagyé
(Ảnh: Himalayan Art Resources)

Thông tin thêm:
BDRC T1193 (bka’ brgyad)

 

 

 

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2026

Nghi Thức Tụng Chú Và Quán Tưởng Được Mở Rộng Nhẹ Cho Vòng Tu Tập Nội Mật Của Đại Bát Mạn-Đà-La

  Expanded Kagyé Recitation and Visualization | Lotsawa House

Slightly Expanded Liturgy of the Mantra Recitation and Visualization for the Innermost Cycle of the Eight Great Maṇḍalas1

Tác giả: Chokgyur Dechen Lingpa
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển



***

Nếu diễn giải thêm, thì việc tụng chú có ba phần.

1.    Giai đoạn tiếp cận các bổn tôn Hòa Bình

Hūṃ. Các vị thần hòa bình an tọa trong hai bàn tay của Mahottara.

Trong trái tim của Mahottara là chủng tự (hạt giống âm tiết) của sinh mệnh các vị ấy, được bao quanh bởi mật ngôn, từ đó tỏa ra những tia sang.
Cúng dường đến vô lượng chư vị chiến thắng của Ba Gốc (Tam Căn)(3)
và mang trở lại các gia trì cùng các thành tựu (siddhi), rồi tất cả tan hòa vào trong con.

ཨཱོྃ་བོ་དྷི་ཙིཏྟ་མ་ཧཱ་སུ་ཁ་ཛྙཱ་ན་དྷཱ་ཏུ་ཨཱ༔

om bodhitsitta mahasukha jnana dhatu a

oṃ bodhicitta-mahāsukha jñāna-dhātu āḥ

Bằng việc trì tụng thần chú tiếp cận ba trăm nghìn lần,
bạn sẽ viên mãn được gia trì, năng lực và sức mạnh của nó.

2. Giai đoạn Thành tựu của các Vị Phẫn Nộ

Hūṃ. Trong trái tim của Mahottara, vị chủ của chín hội chúng,
ở trung tâm của một luân
xa nhật–nguyệt hợp nhất,
là chủng tự sinh mệnh, được bao quanh bởi vòng hoa mật
ngôn.
Việc trì tụng mật ngôn khơi dậy tâm trí tuệ của Mahottara,
và những tia sáng tỏa ra sẽ thanh tịnh hóa mọi chấp thủ đối với thế giới và chúng sinh.

Tướng hiện rỗng không chính là vị bổn tôn, âm thanh rỗng không chính là mật ngôn,
và nhận thức rỗng không chính là quang minh—đó là Đại Thủ
Ấn (Mahāmudrā),
nhờ đó ta
trở nên bất khả phân ly với Heruka.

ཨཱོྃ་བཛྲ་ཙཎྜ་སརྦ་དུཥྚཱན་ཏ་ཀ་ཧ་ན་ད་ཧ་པ་ཙ་ཧཱུྃ་ཕཊ྄༔

om benza tsenda sarva dushten takahana dahapatsa hung pé

oṁ vajra-caṇḍa-sarva-ḍuṣtāntaka hana daha paca hūṁ phaṭ

Nếu bạn trì tụng thần chú thành tựu mật bốn trăm nghìn lần,
năng lực của bạn sẽ trở nên tương đương với chính đấng
Uy Nghiêm.

3. Giai đoạn Phổ thông của Việc Ứng Dụng Hành Động

Hūṃ. Chính ta là các vị bổn tôn của mạn-đà-la.
Từ hình tướng của các ngài và những vòng hoa mật
ngôn tỏa ra ánh sáng, vũ khí,
và những dòng sứ giả kiêu hãnh, tất cả tụ hội như những chùm sao.

Chúng lan tỏa khắp ba thế giới và vận hành qua ba cõi,
viên mãn các hoạt động giác ngộ—tức tai, tăng ích, nhiếp phục và phẫn nộ.

Đặc biệt, tất cả những chúng sinh hung dữ, bất thiện đều được triệu thỉnh, giải thoát, chuyển hóa,
và tan hòa vào pháp giới (dharmadhātu),
nơi ngay cả tên gọi của họ cũng không còn tồn tại.

ཨཱོྃ་བཛྲ་མ་ཧཱ་ཀྲོ་དྷ་པདྨ་ཀྲོ་དྷཱི་ཤྭ་རཱི་བཛྲ་ཀཱི་ལི་ཀཱི་ལ་ཡ་མ་ཧཱ་ཡཀྵ་ཀཱ་ལ་རཱུ་པ་ཀརྨ་རཾ་རཾ་ཛྭ་ལ་རཾ་ཧཱུྃ་ཕཊ྄༔

om benza maha krodha pema krodhi shori benza kili kilaya maha yaksha kala rupa karma ram ram dzala ram hung pé

oṃ vajra-mahā-krodha-padma-krodhīśvari vajra-kīli kīlaya mahā-yakṣa kālarūpa karma raṃ raṃ jvala raṃ hūṃ phaṭ

 

***

Nếu bạn trì tụng thần chú ứng dụng hành động mười nghìn lần,
bất kỳ hoạt động giác ngộ nào bạn khởi xướng đều sẽ được thành tựu.

Samaya.

Ở đây, tôi đã trích nghi quỹ tụng chú và quán tưởng từ Kagyé Drekpa Kundül, như được khai lộ bởi Dechen Lingpa. Các thần chú cho các giai đoạn tiếp cận, thành tựu và hành động tôi lấy trực tiếp từ bản văn kho tàng của chính mình và bổ sung vào đây. Nguyện công đức tăng trưởng!

  

| Translated by Han Kop in 2023 during the Kagye Deshek Düpa Drupchen at Mount Malaya. Reviewed and edited by Samye Translations, 2024 (Stefan Mang and Libby Hogg).

 

Source:

mChog gyur gling pa. "gsang skor bka' brgyad kyi bzlas dmigs cung zad spros pa'i ngag 'don", in rin chen gter mdzod chen mo. New Delhi: Shechen Publications, 2007. Vol. 62: 357–358.

 

Version: 1.0-20240717

1.     Tib. Kagyé (bka’ brgyad).

2.     Bản văn được nhắc tới là Kagyé Drekpa Kundül (bka' brgyad dregs pa kun 'dul), được khai lộ bởi Longpo Samten Dechen Lingpa. Tác phẩm này sau đó được tái khai lộ bởi Jamyang Khyentse Wangpo và hiện được bao gồm trong tuyển tập kho tàng Rinchen Terdzö (Rinchen Terdzö).

3.    Tam căn: 1)Lama ban phúc lành, Yidam ban sự chứng ngộ, Hộ pháp dẹp tan trở ngại.

 

Phụ thích:

Trong Phật giáo Kim Cương thừa, Mahottara (tiếng Tây Tạng: Chemchok) thường được gọi đầy đủ là Mahottara Heruka, là một vị Bản tôn (Yidam) phẫn nộ tối cao và cực kỳ oai lực. 

Dưới đây là những ý nghĩa chính của Mahottara:

  • Hiện thân của Phật Nguyên thủy: Mahottara được xem là hóa thân phẫn nộ của Đức Phật Phổ Hiền (Samantabhadra), đại diện cho năng lượng chuyển hóa những trạng thái nội tâm tiêu cực thành trí tuệ giác ngộ.
  • Vị đứng đầu trong Tám đại Heruka: Trong truyền thống Nyingma, Ngài là vị chủ tể trong Mandala của Tám bộ Heruka (Kagye). Ngài tượng trưng cho các phẩm hạnh giác ngộ tổng hợp của tất cả chư Phật.
  • Hình tướng phẫn nộ: Mahottara thường được mô tả với hình tướng đáng sợ để hàng phục ma vương và các chướng ngại. Ngài thường xuất hiện với thân màu xanh đậm hoặc nâu đỏ, có nhiều đầu (thường là 21), nhiều tay (42) và nhiều chân, đứng trong tư thế hợp nhất với phối ngẫu (Yab-Yum).
  • Vai trò trong Bardo: Ngài là một trong những vị thần xuất hiện trong trạng thái trung gian (Bardo) sau khi chết để hướng dẫn thần thức vượt qua nỗi sợ hãi và đạt đến giải thoát.
  • Ý nghĩa biểu tượng: Theo một số hệ phái như True Buddha School, Mahottara là hóa thân từ ánh sáng của Phật A Đề Phật Đà (Adharma Buddha), phát ra 100 đạo hào quang để cứu độ chúng sinh. 

Vì vậy, danh hiệu Mahottara Heruka thường được dịch sang âm Hán-Việt là:

1.    Đại Thắng Hắc Như Lai (大勝黑如來): Đây là tên gọi phổ biến nhất trong các kinh văn chữ Hán. "Hắc Như Lai" là cách gọi khác của Heruka (vị Phật phẫn nộ thường có thân màu tối).

2.    Đại Siêu Việt hoặc Tối Thắng: Nhấn mạnh vào vị thế là bậc cao nhất trong các tập hội chư Thần phẫn nộ.

Trong các bản kinh phái Cổ Mật (Nyingma), Ngài còn được gọi là Đại Vinh Quang Heruka (Srivajra Mahottara Heruka).

 

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/chokgyur-dechen-lingpa/chokling-kagye-expanded-visualization-recitation

 

Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2026

CÁNH CỬA ĐẾN ĐẠI DƯƠNG CỦA NHỮNG THÀNH TỰU

Nghi quỹ Quán đảnh thuộc Hệ thống Mật tông về Thế Tôn Kim Cương Quyết (Vajrakīlaya) – Phần trích yếu dành cho học trò."

Gateway to an Ocean of Siddhis - An Empowerment Ritual for the Tantric System of the Bhagavān Vajrakīlaya (student extracts)1

Tác giả: Jigme Lingpa
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển

***

Quy y 

Ôi Đạo Sư Kim Cang Trì, 

Hội chúng các ḍākinī, và những vị khác, xin hãy hướng sự chú ý của quý ngài về phía chúng con!
Oṃ āḥ hūṃ. Pháp thân như không gian của ngài hiển hiện thành sắc thân (rūpakāya), như một cầu vồng; 
Các mật ngôn của ngài vang vọng như âm nhạc;
Trong hình tướng phẫn nộ, nam và nữ, ngài hiển lộ để hàng phục những kẻ tà ác—
Con quy y Tam Bảo vô thượng.

Phát Tâm Bồ Đề

Con xin phát tâm bồ đề vô thượng
Trong mọi phương diện của nó.
Những ai chưa được giải thoát khỏi ba cõi thấp, 
Con sẽ đưa họ lên cảnh giới của chư thiên và loài người.
Những vị trời và con người chưa được giải thoát,
Con sẽ đưa họ đến trạng thái giác ngộ.
Những ai có bồ-đề tâm đã trở nên thoái chí,
Con sẽ khuyến khích cho đến khi họ đạt đến địa thứ tám.
Và ta sẽ an lập tất cả chúng sinh trên ngưỡng cửa của Niết-bàn
Trong trạng thái của Kim Cang Trì.

ཨོཾ་ཨཱཿབཛྲ་སཏྭ་ཧཱུྃ།

om ah benza sato hung

oṃ āḥ vajrasattva hūṃ

Giữ gìn các Samaya

ཨོཾ་ཨཱཿབཛྲ་སཏྭ་ཧཱུྃ།

om ah benza sato hung

oṃ āḥ vajrasattva hūṃ

Trong vũ trụ hàng tỷ lần này,
Chúng sinh thuộc sáu cõi
Được tuyên xưng là những vị bổn tôn phẫn nộ-heruka của năm gia tộc 
Vì mục đích cắt đứt năm độc phiền não.
Āḥ. Sự quán tưởng chúng sinh như năm gia đình Phật 
Mang bản chất của năm trí tuệ phá tan các khái niệm.
Thật đáng thương biết bao những kẻ còn hoang mang về các hiện tướng 
Của pháp thân vốn nguyên sơ không sinh!
Kim cang. Mọi thứ đều có bản chất của kim cang—
Bất hoại, không thể bị cắt đứt.
Trong trạng thái kim cang—bất sinh, bất diệt—
Chân như hoàn toàn thanh tịnh.

Sa. Bản chất của không gian (Pháp giới) vốn không thật hữu,
Nhưng lại hiển hiện dưới hình tướng của các Heruka.
Để tận diệt hoàn toàn ngũ độc,
Chúng được tịnh hóa thành các vị bổn
tôn phẫn nộ của ngũ bộ."

Tva. Để thành tựu các vị bổn tôn phẫn nộ của ngũ bộ,
Con xin khởi tâm từ bi đối với chúng sinh,
Và với ý nguyện đạt đến sự giải thoát,
Con nguyện giữ gìn năm giới nguyện Samaya.

Hūṃ. Nguyện cho những bậc hữu duyên (người may mắn) đạt được:
Cảnh giới của bậc Thế Tôn (Bhagavān) toàn tri —
Vị vua phẫn nộ tối cao, hiện thân của ngũ bộ Phật,
Chính là đức Kim Cang Đồng Tử
(Vajrakumāra) phẫn nộ uy hiển.

Phát Tâm Bồ Để

ཨཱོཾ་སརྦ་ཡོ་ག་ཙིཏྟ་ཨུཏྤ་ཏ་ཡ་མཱི།

om sarva yoga tsitta utpatayami

oṃ sarva-yoga-cittam-upādāyāmi

Lời Nguyện Cầu

"Trong mạn-đà-la của Bậc Hủy Diệt Vĩ Đại,
Nguyện cho con, một vị Phật (tương lai), được phú thác năng lực từ những khối kim cương vĩ đại
Của Thân, Khẩu, và Ý giác ngộ,
Cùng với Trí tuệ quang minh quét sạch mọi tư duy phân biệt (vọng tưởng)."

Thọ nhận Giới nguyện (Samaya)

"Hūṃ. Nền tảng để thành tựu quả vị của tất cả chư Phật
Chính là giới nguyện Kim Cang (Samaya) tối thượng —
Con nguyện sẽ gìn giữ và bảo vệ giới nguyện này."

Con nguyện kính  phụng trì Đạo sư — vị bậc thầy Kim Cang;
Cùng Tam Bảo và các vị Không Hành Nữ (Ḍākinīs);
Con nguyện không làm gián đoạn dòng chảy của các Thủ ấn và Mật
ngôn;
Con nguyện khởi lòng từ ái với những bậc hữu duyên trên con đường chân chính;

Và con nguyện sẽ không tiết lộ về bí mật vĩ đại này —
Năm giới nguyện gốc này, con nguyện sẽ kính giữ.
Những giới nguyện Samaya tối thượng cần phụng trì và bảo vệ.

Sân hận, vô minh, tham ái và kiêu mạn;
Cùng với các sắc màu trắng, đỏ, xanh lá, vàng và xanh dương —
Con nguyện không chối bỏ thế giới và chúng sinh thanh tịnh này.
Đây chính là hình thức cô đọng của mười giới nguyện nhánh (chi phần samaya).

Con nguyện sẽ giữ vững (những giới nguyện này) —
Quyết không bao giờ từ bỏ chúng.

Lời hứa Phụng trì Giới nguyện (Samaya)

"Bất cứ điều gì bậc Đạo sư — chủ tể của Mạn-đà-la — truyền dạy,
Con nguyện sẽ thực thi — từng lời chỉ dẫn một.
Con xin cúng dường toàn thân tâm này lên Ngài.
Xin hãy nhận con làm đệ tử và dẫn dắt (sử dụng) con."

 

*** 

| Translated by Han Kop for the Longchen Nyingtik Project, 2025. With gratitude to Khenpo Sonam Tsewang for his clarifications.

 

Source:

Kun mkhyen ʼjigs med gling pa. “dbang chog dngos grub rgya mtshoʼi ʼjug ngogs.” In gsung ʼbum ʼjigs med gling pa (sde dge par ma), 6:27–138. Gangtok, Sikkim: Pema Thinley for Dodrupchen Rinpoche, 1985.

 

Version: 1.0-20250902

1.     These sections have been extracted for the benefit of students, primarily for those occasions where the empowerment is given in Tibetan.

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/jigme-lingpa/gyuluk-phurba-empowerment-extracts

 

NĂM BÁT NHÃ PHỐI NGẪU: TRÍ TUỆ CỦA NĂM VỊ THIỀN PHẬT

Nguyên tác: Five Prajnas: Wisdom Consorts Of Five Dhyani Buddhas
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển

***

Cái Nhìn Cận Cảnh Hơn Về Biểu Tượng Học Của Ngũ Trí Phật Mẫu 

Ngũ Trí Phật Mẫu là những vị phối ngẫu giác ngộ của Ngũ Phật Thiền Định, mỗi vị hiện thân cho một dạng trí tuệ siêu việt độc đáo. Những nữ thần đặc biệt này đại diện cho khía cạnh năng động của sự giác ngộ và trí tuệ trong bản chất thuần khiết và mang tính chuyển hóa cao nhất. Thông qua sự hiện diện của các Ngũ Phật nữ, họ thể hiện nguồn năng lượng chuyển hóa năm độc tố: vô minh, tham dục, sân hận, kiêu mạn và ganh tị thành năm loại trí tuệ.

Trong nghệ thuật và các nghi lễ Phật giáo, hình ảnh của họ chứa đựng đầy ý nghĩa, thể hiện không chỉ những đặc điểm và vai trò riêng của từng vị mà còn cả sự hợp nhất sâu sắc giữa lòng từ bi và trí tuệ. Bài viết này đi sâu vào thế giới của những Mẫu Nữ đầy quyền năng này, mang đến cái nhìn cận cảnh hơn về biểu tượng hình ảnh và ý nghĩa tâm linh của họ trong truyền thống Mật tông.


Năm
Bát Nhã Và Phối Ngẫu Của Họ


Ngũ Trí Bát Nhã (Five Prajñās), được xem là những phối ngẫu giác ngộ của Ngũ Phật Thiền Định, đại diện cho trí tuệ sống động đi cùng với sự giác ngộ. Mối liên hệ của họ với chư Phật minh họa mối gắn kết sâu sắc giữa trí tuệ (prajñā) và phương tiện (upāya), tạo nên một hành trình trọn vẹn hướng tới sự chứng ngộ, nơi hình tướng và tính không hòa quyện một cách tuyệt đẹp mà không còn bất kỳ cảm giác nhị nguyên nào.

Bát Nhã (Prajñā-Phật nữ) phối ngẫu (Phật nam) Khía cạnh trí tuệ Màu sắc Nguyên tố Đặc điểm biểu tượng 

1-Locanā Vairocana - Lộ Xá Na (hoặc Phật Nhãn Phật Mẫu), Trí tuệ Pháp giới Trắng Không gian, Ngồi trong tư thế thiền định; tay phải ấn Varada (ban cho); đội mũ năm vị Phật; thường được miêu tả với hoa sen mọc từ lòng bàn tay. 

2-Māmakī Akṣobhya - Thủy Tạng Phật - Ma Ma Cơ  - Trí tuệ như gương Xanh dương Nước, Thể hiện nét mặt thanh thản; cầm chày kim cang (vajra); đôi khi được miêu tả với biểu tượng chiếc gương tượng trưng cho sự trong sáng và phản chiếu. 

3-Pāṇḍaravāsinī Amitābha - Phan Trà La Hoa Tất Ni (Bạch Y Phật Mẫu)  -Trí tuệ phân biệt Đỏ Lửa, Ngồi trên hoa sen; cầm hoa sen; biểu trưng cho sự thuần khiết và khả năng phân biệt; đôi khi được miêu tả với nụ cười nhẹ nhàng. 

4-Samayatārā Amoghasiddhi - Tam Muội Da Độ Mẫu (Thệ Nguyện Độ Mẫu) - Trí tuệ thành tựu tất cả Xanh lá Không khí Được thể hiện trong tư thế năng động; cầm chày kim cang đôi; biểu trưng cho hành động và sự thành tựu; thường gắn với sự bảo hộ. 

5-Vajradhātvīśvarī Ratnasambhava - Kim Cang Giới Tự Tại Mẫu  -Trí tuệ bình đẳng Vàng Đất, Cầm một viên ngọc hoặc bình báu; thể hiện lòng bố thí; thường được miêu tả với hai tay trong ấn ban cho.

Những sự liên kết này phản ánh sự hợp nhất sâu sắc giữa trí tuệ và lòng từ bi, vốn là trung tâm của Phật giáo Kim Cang thừa, nhấn mạnh sức mạnh chuyển hóa của các phẩm chất giác ngộ.


Biểu tượng học của Năm Trí Tuệ Bát Nhã 

Biểu tượng học của Năm Trí Tuệ Bát Nhã thể hiện một cách tuyệt đẹp trí tuệ sâu sắc và bản chất chuyển hóa của chúng. Mỗi hình ảnh đại diện cho một Bát Nhã làm nổi bật bản chất tâm linh riêng biệt mà nó mang trong mình, dẫn dắt người tu hành trên hành trình hướng đến sự thấu hiểu sâu sắc hơn và giác ngộ.



1
- Lộ Xá Na  - Phật Nhãn Phật Mẫu Phối Ngẫu của Tỳ Lô Giá Na Phật
"Theo tác phẩm Advayavajra Samgraha (Bất Nhị Kim Cương Tập), Locanā (Lộ Xá Na Phật Mẫu) được cho là xuất thân từ Tathāgata-kula (Như Lai Bộ/Tộc Như Lai). Ngài được mô tả dưới cả hai hình tướng an bình (peaceful) và phẫn nộ (wrathful), với số lượng cánh tay biến hóa đa dạng bao gồm các dạng hai, sáu và tám tay."

*Khía cạnh Trí tuệ: Pháp giới Thể Tánh Trí
*Màu sắc: Trắng (Tượng trưng cho sự thuần khiết và cởi mở) 
*Nguyên tố: Không gian 
*Âm chủng tử: Lom 
*Đặc điểm biểu tượng:

• Được mô tả ngồi trong tư thế thiền định với tay phải trong Dữ Nguyện Ấn hoặc Thí Nguyện Ấn (Varada Mudra). Tay trái đặt trên ngực.  

• Đội vương miện năm vị Phật, biểu trưng cho sự hợp nhất của mọi khía cạnh trí tuệ.

• Cầm một bánh xe trong hoa sen của mình khi ngồi trong tư thế  Lạc Lợi Đa Tọa  hay Du Hý Tọa (Lalita asana). 

Hình ảnh của Locana rất hiếm, mặc dù một trong những mô tả đáng chú ý của bà được tìm thấy tại Bảo tháp Swoyambhu, Kathmandu, Nepal. Người ta tin rằng những tín đồ thực hành theo Đức Phật Vairocana và Locana sẽ đạt được trí tuệ để cắt xuyên qua ảo tưởng.



2- Thủy Tạng Phật - Ma Ma Cơ – Phối Ngẫu của A Súc Bệ Phật

"Phật Mẫu Mamaki thuộc về Kim Cương bộ (Vajra family), do đó, kim cương chùy (vajra) là pháp khí biểu trưng của Ngài. Với tư cách là vị trì giữ kim cang chùy, Ngài là một biểu tượng đầy uy lực và bản tính của Ngài được xem là sự chuyển hóa của sân hận (hatred). Ngài còn được biết đến với một tên gọi khác là Dvesarati."


  • Khía cạnh Trí tuệ: Đại viên cảnh trí (Trí tuệ sáng suốt như gương).
  • Màu sắc: Xanh dương (Tượng trưng cho sự thuần khiết và bản tính phản chiếu).
  • Chủng tử tự: Mãm (Mam).
  • Đặc điểm hình tượng:
    • Tay phải cầm Kim cang chùy (Vajra), biểu thị cho tính bất hoại và sự sắc bén của tuệ giác.
    • Đôi khi được mô tả cầm một chiếc gương, nhấn mạnh sự phản chiếu thực tại đúng như nó vốn là, không bị bóp méo.
    • Diện mạo của Ngài luôn tĩnh lặng và an nhiên, phản ánh bản chất bất biến, không bị xao động của chân lý.
    • Thường xuất hiện với dạng 2 tay, nhưng cũng được mô tả trong các hình tướng 6 tay, 8 tay và 12 tay.

Trong truyền thống Phật giáo Newar (Nepal), Māmakī được thờ cúng đặc biệt thông qua một bộ ba vật phẩm nghi lễ (triad ritual objects). Trong tiếng Newari, chúng được gọi là:

1.    Anti: Một chiếc bình đặc biệt dùng để đựng rượu lên men.

2.    Khayakori: Chén đựng sữa chua (yoghurt).

3.    Thapin: Bình đựng bia lên men.



3- - Phan Trà La Hoa Tất Ni - Bạch Y Phật Mẫu – Phối Ngẫu của A Di Đà Phật
Phật Mẫu Pandara là hiện thân của ham muốn hoặc ái dục (passion/lust), thứ mà sau đó được chuyển hóa thành Diệu quan sát trí (Wisdom of discriminating awareness). Điều này là do trong Phật giáo Kim Cang thừa, ái dục (kāma hoặc rāga) cũng được xem là một con đường dẫn đến giác ngộ khi được nhiếp phục thông qua thực hành nghi quỹ (sadhana). Tên gọi khác của Pandara là Rāgarati.

  • Khía cạnh Trí tuệ: Diệu quan sát trí.
  • Màu sắc: Đỏ (Tượng trưng cho sự chuyển hóa của ái dục).
  • Đại (Yếu tố): Hỏa (Lửa).
  • Chủng tử tự: Păm (Pam).
  • Đặc điểm hình tượng:
    • Thường được mô tả cầm một đóa hoa sen, đại diện cho sự thanh khiết nảy sinh từ bùn lầy của vô minh.
    • An tọa trong tư thế an bình, thiền định, thường tỏa ra hơi ấm và lòng từ bi.
    • Nụ cười dịu dàng của Ngài biểu thị sự phân định rõ ràng giữa nhận thức thanh tịnh và bất tịnh.



4
- Samayatārā - Thệ Nguyện Độ Mẫu) là phối ngẫu của Đức Phật Amoghasiddhi (Bất Không Thành Tựu).

Ngài còn được gọi là Irsyarati, dịch nghĩa là bản tính của đố kỵ. Ngài chuyển hóa lòng đố kỵ thành Thành sở tác trí (Trí tuệ hoàn thành mọi sở nguyện). Tướng mẫu Tara xuất thân từ Nghiệp bộ (Karma family) và là hiện thân cho các hoạt động giác ngộ của tất cả chư Phật trong ba đời (quá khứ, hiện tại, vị lai).

  • Khía cạnh Trí tuệ: Thành sở tác trí (All-accomplishing Wisdom).
  • Màu sắc: Xanh lá cây (Tượng trưng cho sức sống và hành động).
  • Đại (Yếu tố): Phong (Gió/Không khí).
  • Chủng tử tự: Tam (Tam).
  • Đặc điểm hình tượng:
    • Tay phải cầm Kim cương chùy kép (Double vajra/Vi sai kim cương), nhấn mạnh vào các phương tiện thiện xảo và năng lực bảo hộ.
    • Thường xuất hiện trong tư thế năng động, biểu thị vai trò chủ động của Ngài trong việc vượt qua các chướng ngại.
    • Biểu tượng của Ngài là đóa hoa sen xanh đêm (Utpala).
    • Thường được mô tả với 2 tay, 6 tay hoặc 8 tay.

 


5- Vajradhātvīśvarī (Kim Cang Giới Tự Tại Mẫu) là phối ngẫu của Đức Phật Ratnasambhava (Bảo Sinh Như Lai).

Khi cùng an tọa, Phật Mẫu Vajradhātvīśvarī được vây quanh bởi bốn vị nữ Trí Tuệ (Prajnas) khác là: Locana, Mamaki, Pandara và Tara. Theo mô tả trong chương Pancakara của tác phẩm Advayavajra Samgraha, Ngài có hình tướng tương tự như Đức Vajrasattva (Kim Cương Tát Đỏa). Ngài còn được biết đến với các tên gọi khác là: Nairatma (Vô Ngã Mẫu), Vajravarahi (Kim Cương Hợi Mẫu) và Jnanadakini (Trí Tuệ Không Hành Mẫu).

  • Khía cạnh Trí tuệ: Bình đẳng tính trí (Equality Wisdom).
  • Màu sắc: Vàng (Tượng trưng cho sự giàu có, sung túc và không thiên vị).
  • Đại (Yếu tố): Không đại (Space) hoặc Tánh Không (Emptiness).
  • Đặc điểm hình tượng:
    • An tọa trong tư thế Lalita asana (Du hý tọa) đầy năng động.
    • Thường được mô tả với 2 tay, nhưng cũng có các hình tướng 6 tay và 8 tay.
    • Tay phải kết ấn Varada (Dữ nguyện ấn), từ đó mọc lên một cành hoa sen. Trên hoa sen nâng đỡ một viên ngọc (Jewel/Ratna).
    • Tay trái kết ấn Vitarka (Biện luận ấn/Thuyết pháp ấn), cũng nâng đỡ một cành hoa sen.

SỰ HỢP NHẤT CỦA TRÍ TUỆ VÀ TỪ BI (Yab-Yum )


Năm gia đình Phật

"Trong Phật giáo Mật tông, khái niệm Yab-Yum (nghĩa là Cha-Mẹ) minh họa một cách tuyệt đẹp sự hợp nhất giữa phương tiện (nguyên lý nam) và trí tuệ (nguyên lý nữ). Sự hợp nhất này là chìa khóa để thấu hiểu tính bất nhị (không hai) – điều cốt yếu để đạt được giác ngộ. Trong biểu tượng thiêng liêng này, hình tượng nam (thường là một trong Ngũ Trí Như Lai) đại diện cho phương tiện, lòng từ bi và các phương tiện thiện xảo. Trong khi đó, hình tượng nữ (hiện thân của một trong Ngũ Trí Phật Mẫu - Prajnas) đại diện cho trí tuệ và thực tại tối hậu. Cái ôm chặt của họ tượng trưng cho sự hòa quyện nhịp nhàng của các nguyên lý này, cho thấy trí tuệ và lòng từ bi luôn gắn kết chặt chẽ với nhau trên hành trình giác ngộ."

"Sự hợp nhất mang tính biểu tượng này hoàn toàn không phải về ham muốn xác thịt; thay vào đó, nó biểu thị sự hợp nhất sâu sắc của các phẩm tính giác ngộ. Hình tượng Yab-Yum thường mô tả vị Phật Mẫu ngồi trong lòng vị Phật Nam, trái tim của họ đồng điệu (thẳng hàng), nhắc nhở chúng ta rằng phương tiện và trí tuệ không phải là hai thực thể riêng biệt mà là hai mặt của cùng một trạng thái giác ngộ. Thông qua các pháp thực hành thiền định, hành giả quán tưởng sự hợp nhất này để nuôi dưỡng sự cân bằng giữa lòng từ bi năng động và tuệ giác sâu sắc, cuối cùng dẫn đến trải nghiệm trực tiếp về bản chất thực của thực tại."

Trí Tuệ Chuyển Hóa Của Năm Bát Nhã (Ngũ Trí Phật Mẫu)

"Ngũ Trí Phật Mẫu, được tôn vinh là phối thân của Ngũ Trí Như Lai, là hiện thân cho bản chất sống động và đầy tính chuyển hóa của trí tuệ trong Phật giáo Kim Cang thừa. Các Ngài không chỉ đơn thuần là những người đồng hành; mà là những biểu hiện độc nhất của năng lượng giác ngộ, mỗi vị chuyển hóa một 'phiền não độc' cụ thể (mental poison) thành một phương diện của trí tuệ siêu việt. Sự hiện diện của các Ngài soi sáng con đường từ si mê đến tỉnh giác, từ khổ đau đến tự tại."

"Trong những hình tướng biểu tượng của mình, Ngũ Trí Phật Mẫu hé lộ tiềm năng sâu thẳm tồn tại trong mọi trải nghiệm của con người – đó là quá trình mầu nhiệm chuyển hóa vô minh, tham ái, sân hận, kiêu mạn và đố kỵ thành trí tuệ, lòng từ bi và sự an lạc nội tại. Bằng cách quán tưởng những phẩm hạnh và hóa thân vào các đặc điểm của các Ngài, hành giả không chỉ đạt được tuệ giác mà còn đón nhận sự kết nối sống động giữa lòng từ và trí tuệ. Hành trình chuyển hóa nội tâm này cuối cùng dẫn dắt hành giả đến sự chứng ngộ về tỉnh giác bất nhị (non-dual awareness), nơi trí tuệ và phương tiện hòa quyện làm một, vượt lên trên tư duy tầm thường và hiển lộ bản chất rạng ngời của tâm thức giác ngộ."


https://enlightenmentthangka.com/blogs/thangka/the-five-prajnas-wisdom-consorts-of-the-dhyani-buddhas?srsltid=AfmBOorv31tt_1Cqqsi-EXTn0ShVMGs8OaJM43OgGPzI8de62qkextqu