(trích từ Vima Nyingtik)
Trong ngôn ngữ Ấn Độ: buddha-dhekaramadhu-nāma
Trong ngôn ngữ Tây Tạng: sangs rgyas kyi zhal chems gnyis pa zhes bya
ba
Trong ngôn ngữ English: The
Second Testament of the Buddha
Trong ngôn ngữ Việt:
Di huấn thứ hai của Đức Phật
Việt dịch: Quảng
Cơ
Biên tập: Tuệ
Uyển
***
Kính lạy Đức Phật Toàn
Giác, Toàn Thiện, Đấng Chiến Thắng nhờ Sức mạnh Uy lực!
Nếu muốn chắc chắn chứng quả Phật,
Hãy rèn luyện thuần thục các pháp tu tiên quyết (pháp hành sơ
bộ).
Bởi vì hành giả chẳng thể thoát khỏi ba cõi
Nếu không phân định rõ ràng (Rushen)
Giữa Thân, Khẩu và Ý,
Nên hãy rèn luyện các pháp tu sơ bộ.
Nếu thuần thục các điểm cốt tủy của pháp tu sơ
bộ,
Hành giả sẽ thấu đạt chứng ngộ (giác ý), cả thông thường lẫn tối thượng.
Hãy độc cư nơi thanh vắng (vùng hẻo lánh).
Để thực hành pháp tu tiên quyết của thân,
Hãy đóng vai các hành vi khác nhau của sáu cõi chúng sinh.
Và thực hiện các hoạt động hướng về Tam Bảo.
Hãy ngồi thẳng người với hai lòng bàn chân áp vào nhau
Và chắp hai lòng bàn tay lại phía trên đỉnh đầu.
Bất kỳ ai áp dụng pháp thực hành thân như vậy
Sẽ không bị thoái chuyển về thân,[1]chướng ngại được an
dịu,
Vượt qua bám chấp và thanh tịnh các che chướng.
Với thân được giải thoát thành Hóa thân (Nirmāṇakāya),
Thân ấy sẽ bất nhị (không thể tách rời) với sắc thân của Phật
Và không còn lại bất kỳ dư báo nào.
Để thực hành pháp tu
tiên quyết của khẩu,
Hãy mô phỏng các âm thanh khác nhau của sáu cõi chúng sinh.
Rèn luyện toàn bộ các cung bậc âm thanh—
Của các vị Bản tôn an bình, phẫn nộ và của các đại (tự nhiên).
Dành ba ngày cho điểm cốt tủy của pháp ấn chứng (niêm phong).[2]
Rèn luyện sự linh hoạt, phát triển sự dẻo dai và phóng tâm đi.
Bất kỳ ai thực hành theo cách này bằng khẩu
Sẽ vượt qua bám chấp, thanh tịnh các che chướng của khẩu,
Tránh được sự thoái chuyển[3] và đạt giải thoát trong Báo thân
(Sambhogakāya) bất nhị.
Để thực hành pháp tu
tiên quyết của ý,
Hãy quán tưởng đến những nỗi khổ đau của sáu cõi chúng sinh.
Rồi tìm kiếm nơi tâm này khởi sinh.
Không tìm thấy nơi sinh, hành giả sẽ gặp Pháp thân (Dharmakāya).
Rồi tìm kiếm nơi tâm này trú ngụ.
Không tìm thấy nơi trú, hành giả sẽ gặp Báo thân (Sambhogakāya).
Rồi tìm kiếm nơi tâm này đi về.
Không tìm thấy nơi diệt, hành giả sẽ gặp Hóa thân (Nirmāṇakāya).
Bất kỳ ai thực hành theo cách này bằng ý
Sẽ xua tan bám chấp, an dịu các chướng ngại,
Thanh tịnh các che chướng, không bao giờ thoái chuyển về ba cõi,
Và bước vào tánh bất nhị, giải thoát trong Pháp thân.
Sau đó, hãy thuần thục
trong việc để cho Thân, Khẩu
Và Ý được an định trong trạng thái thư thái tự nhiên.
Rồi một khi đã phục hồi năng lượng cho cả ba,
Hãy dấn thân vào chính pháp hành với niềm tinh tấn.
Khi đã hoàn tất các
pháp tu sơ bộ theo cách này,
Hãy để chúng xả bỏ khỏi tâm trí bạn.
Để đạt đến điểm cốt tủy của sự chứng ngộ trực tiếp,
Hãy buông bỏ mọi tạo tác của Thân, Khẩu và Ý.
Khi Đức Phật Toàn Giác
thị hiện nhập Đại Bát Niết Bàn tại nơi hội tụ của các bậc Không Hành Nữ
(Ḍākinī), ở phía đông của đại bãi tha ma Núi Lửa[5] Rực Cháy, ngài Garab Dorje đã ngã xuống đất
và thống khổ kêu lên:
Kye-ma kyi-hü! Than ôi! Ôi chao!
Khi ánh đèn của bậc Thầy đã tắt,
Ai sẽ là người xua tan bóng tối của thế gian?
Khi ngài hồi phục,
ngài thấy cẳng tay phải của Đức Phật xuất hiện trong một khối ánh sáng rực rỡ,
thả xuống một chiếc hộp bằng pha lê quý giá chỉ bằng kích thước của một móng
tay. Bên trong hộp chứa lời giáo huấn này, được viết bằng những ký tự tự sinh
từ năm loại đá quý trên nền đá lạt-ma (lapis lazuli) nóng chảy. Bản văn tối
thượng mang đại gia trì này—tức Hậu Chúc Di Giáo của Đức Phật—xuất hiện là để
hóa thân (nirmāṇakāya) Garab Dorje có thể du trì (bzung ba).[4]
Như một người dẫn đường đưa hết thảy chúng sinh vượt thoát [luân hồi], giáo
pháp này được truyền dạy như đứa con duy nhất chứa đựng và hội tụ mọi điểm yếu
cốt tủy của toàn bộ giáo lý.
| Translated by Adam Pearcey with the generous support of
the Tsadra Foundation, 2024.
Ghi chú
1-
Văn bản ở đây có sự
khác biệt so với Hậu Chúc Di Giáo (Second Testament) được lưu giữ trong tuyển
tập Khandro Nyingtik (Không Hành Tâm Tùy), trong đó thuật ngữ "vọng
tưởng/khái niệm hóa" (rtog - tyog) xuất hiện thay cho từ
"thoái lui" (ldog - dok). ↩
2- Phép ấn niêm (sealing) được chia làm hai loại:
ngoại ấn niêm đối với các hiện tượng hiện hành (appearances) và nội ấn niêm đối
với các uẩn (aggregates). ↩
3- Một lần nữa, có sự khác biệt giữa bản văn này
và phiên bản của cùng một văn bản trong tuyển tập Khandro Nyingtik, bản
của tuyển tập đó sử dụng từ "vọng tưởng/khái niệm hóa" (rtog)
thay cho từ "thoái lui" (ldog). ↩
4- Văn bản ở đây khác với phiên bản trong tuyển
tập Khandro Nyingtik. Phiên bản hiện tại dùng từ bzung ba (du
trì/giữ lại), trong khi bản Khandro Nyingtik lại dùng từ rjes su
bzung ba (được dắt dẫn/được hộ trì). ↩
5- bãi tha ma Núi Lửa Rực Cháy không phải là một
nghĩa địa u ám theo nghĩa thế gian, mà là một "trường huấn luyện tối thượng" – nơi cái chết của ảo tưởng
diễn ra để nhường chỗ cho sự tái sinh của tâm giác ngộ bất sinh bất diệt./Nơi
Garab Dorje đắc đạo và nhập diệt/Nơi hội tụ của các Khảnh
không hành nữ (Ḍākinīs/Biểu tượng cốt tủy trong tu tập Kim Cương Thừa/Ngọn
lửa Trí tuệ (Volcano/Blazing)/
https://www.lotsawahouse.org/words-of-the-buddha/second-testament-vima-nyingtik






