Thứ Ba, 23 tháng 6, 2026

Phương pháp Trì tụng Đà-la-ni của Đức Bất Không Quyên Sách

A Method for Reciting the Dhāraṇī of Amoghapāśa

Tác giả: Jamyang Khyentse Chökyi Lodrö
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển


***

 Quy y và phát tâm Bồ-đề với bài kệ:

Con xin quy y Phật, Pháp và Tăng bảo tôn kính,
Cho đến khi đạt được giác ngộ hoàn toàn.
Nguyện nhờ công đức thực hành bố thí và các ba-la-mật,
Con sẽ thành tựu Phật quả vì lợi lạc của thảy chúng sinh.

Phát Triển Tứ Vô Lượng Tâm:

Nguyện cho tất cả chúng sinh luôn hỷ lạc và có được nhân của hỷ lạc!
Nguyện cho tất cả chúng sinh thoát khỏi khổ đau và nhân của khổ đau!
Nguyện cho tất cả chúng sinh không bao giờ rời xa niềm hỷ lạc thiêng liêng không còn khổ đau!
Nguyện cho tất cả chúng sinh được an trụ trong tánh bình đẳng bao la, thoát khỏi mọi bám chấp và ghét bỏ!

Trên đỉnh đầu con và chúng sinh, trên tòa sen đỏ, là Đạo sư Tôn quý  Quán Thế Âm Bất Không Quyên Sách Bồ Tát thân màu đỏ, một mặt, bốn tay,
Hai tay phải của Đức Ông cầm dây thừng, chày kim cương,
hai tay trái cầm móc câu và tràng hạt,
Ngài trang nghiêm bằng các chuỗi ngọc cùng thiên y trên vai màu đỏ.

Ngài đứng với hai bàn chân đặt vững vàng, cân bằng. Tại trái tim Ngài, trên một đĩa mặt trăng, hiện hữu chủng tự hrīḥ (ཧྲཱིཿ)( ह्रीः) . Chung quanh chủng tự ấy, chuỗi mật ngôn (mantra) xoay chuyển không ngừng, tạo thành một dòng cam lồ. Dòng cam lồ ấy tuôn vào đỉnh đầu của tôi và tất cả chúng sinh khác, tẩy sạch và tịnh hóa mọi nghiệp lực, phiền não, hành vi bất thiện và các che chướng; đồng thời thanh trừ bệnh tật, những ảnh hưởng tai hại và mọi chướng ngại. Nó cũng ban trao tất cả sự gia trì và các thành tựu của tất cả chư Phật.

Mật ngôn dài:

Namo ratnatrayāya. Namo āryāvalokiteśvarāya bodhisattvāya mahāsattvāya mahākāruṇikāya.
Tadyathā: Oṃ carati carati, ciri ciri, curu curu, mahā-kāruṇika.
Chanda chanda, cala cala, cili cili, culu culu, mahā-padmahasta.
Kara kara, kiri kiri, kuru kuru, mahā-śuddhasattva.
Buddhyā buddhyā, dhāva dhāva, mahā-kāruṇika.
Amoghapāśa, apratihata, jaya jaya, huru huru, mar mar, hā hā, hi hi, hu hu, mahā-māyā-dhara.
Cala cala, saṃsa saṃsa, hiri hiri, bhiri bhiri, mahā-pratibhāna-prāpta.
Dhara dhara, dhiri dhiri, dhuru dhuru, tara tara, tiri tiri, turu turu, mahā-bala-parākrama.
Śama śama, saṃ śam, dama dama, daṃ dam, śamaya śamaya, bhagavan mahā-kāruṇika, amoghapāśa, svāhā.

Bài này dài nên bạn có thể ngắt theo từng dòng dưới đây để giữ hơi và đúng nhịp khóa tụng:

Na-mô rát-na-tra-ya-ya.
Na-mô a-rya-va-lô-ki-tê-su-va-ra-ya bồ-đi-sát-tva-ya ma-ha-sát-tva-ya ma-ha-ca-ru-ni-ca-ya.

Ta-đya-tha: Ôm ca-ra-ti ca-ra-ti, ci-ri ci-ri, cu-ru cu-ru, ma-ha ca-ru-ni-ca.

Can-đa can-đa, ca-la ca-la, ci-li ci-li, cu-lu cu-lu, ma-ha pát-ma-hát-sta.

Ca-ra ca-ra, ki-ri ki-ri, cu-ru cu-ru, ma-ha sút-đa-sát-tva.

Bút-đya bút-đya, đa-va đa-va, ma-ha ca-ru-ni-ca.

A-mô-ga-pa-sa, a-pra-ti-ha-ta, ja-ya ja-ya, hu-ru hu-ru, mác mác, ha ha, hi hi, hu hu, ma-ha ma-ya đa-ra.

Ca-la ca-la, sam-sa sam-sa, hi-ri hi-ri, bhi-ri bhi-ri, ma-ha pra-ti-bha-na prap-ta.

Đa-ra đa-ra, đi-ri đi-ri, đu-ru đu-ru, ta-ra ta-ra, ti-ri ti-ri, tu-ru tu-ru, ma-ha ba-la pa-rac-ra-ma.

Sa-ma sa-ma, sam sam, đa-ma đa-ma, đam đam, sa-ma-ya sa-ma-ya, bha-ga-van ma-ha ca-ru-ni-ca, a-mô-ga-pa-sa, sô-ha.

Mật ngôn ngắn:

Oṃ Amogha Padmapāśa Krodhākarṣaya Praveśaya Mahāpaśupati Ruru Kuru Svāhā.

Om – A-mô-ga – Pát-ma-pa-sa – Crô-đa-gác-sa-ya – Pra-vê-sa-ya – Ma-ha-pa-su-pa-ti – Ru-ru – Cu-ru – Sô-ha.

Hãy trì tụng đà-la-ni dàiđà-la-ni ngắn nhiều lần nhất có thể. Sau đó, khi kết thúc, tiếp tục với:

Kính lạy Đạo Sư Đại Bi Bất Không Quyến Sách, xin ban gia trì cho con cùng hết thảy chúng sinh, nguyện cho mọi ác nghiệp, lỗi lầm và các chướng ngại che lấp đều được tịnh hóa hoàn toàn.

Do năng lực của lời nguyện cầu này, Đạo Sư Bất Không Quyến Sách hóa thành ánh sáng và hòa nhập vào thân tâm con.

***

Quán chiếu điều này và an trú bình đẳng trong kinh nghiệm của bản nhiên trạng thái tự nhiên.

Sau cùng, hãy hồi hướng công đức và thực hiện các phần còn lại theo nghi thức thông thường.

Bản văn này được Chökyi Lodrö biên soạn theo thỉnh cầu của Getak Choktrul.

 

| Translated by Adam Pearcey with the generous support of the Khyentse Foundation and Tertön Sogyal Trust, 2023.

Source

'Jam dbyangs chos kyi blo gros. "spyan ras gzigs don yod zhags pa’i gzungs bklag thabs" In 'Jam dbyangs chos kyi blo gros kyi gsung 'bum. 12 vols. Bir, H.P.: Khyentse Labrang, 2012. (BDRC W1KG12986). Vol. 7: 597–598.

 

Version: 1.0-20230613

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/jamyang-khyentse-chokyi-lodro/amoghapasha-dharani-recitation-method


Thứ Hai, 22 tháng 6, 2026

NHƯ GIỮA KHÔNG GIAN KIM CANG - CA NGỢI VĂN THÙ DIỆU ÂM

Like the Middle of Vajra Space - In Praise of Mañjuvajra

Tác giả: Mipham Rinpoche
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển


***

Oṃ. Kính Lễ Đức Văn Thù Diệu Âm!

1- Ngài là cha của tất cả những đấng Chiến Thắng (Chư Phật),
Nhưng lại hóa hiện trong thân tướng một vị hoàng tử trẻ trung—
Trường tồn, kiên định, vượt ngoài già nua và suy vi,
Hiện diện khắp nơi trong vô số cõi giới khôn lường.

2- Ôi Đức Văn Thù Diệu Âm (Mañjuśrī), dù chư Phật và các bậc kế thừa
Khắp không gian và thời gian đã từng tán thán Ngài,
Thì vẫn là điều không thể nào truyền tải hết được
Toàn bộ chiều sâu các phẩm tính giác ngộ của Ngài.

3- Ê-ma! (Kỳ diệu thay!) Chỉ thông qua con đường Trung đạo,
Tánh khởi duyên sinh của vạn vật pháp giới,
Vượt lên trên hai cực đoan thường kiến và đoạn kiến,
Thì sắc tướng chân thật của Ngài mới có thể được tri nhận.

4- Bằng không, những ai mang tri kiến phàm tình
Sẽ chẳng bao giờ chiêm bái được sắc thân vi diệu của Ngài.
Những ai nhìn nhận Ngài như một thực thể vật chất
Thì không thể thấy được Chân thân (Kāya) đích thực nơi Ngài.

5- Ngài không phải sắc trắng, cũng chẳng phải sắc xanh,
Không phải màu cam, màu lục, hay màu đen.
Chẳng một sắc màu nào của thế gian phàm tục này
Có thể đại diện được cho Ngài một cách trọn vẹn.

6- Ấy vậy mà Ngài vẫn hiển hiện trong các sắc tướng
Với vô số dải màu sắc biến hóa khôn lường:
Trắng, đen, lục, xanh, cam,
Và những sắc màu tương tự, thật kỳ diệu xiết bao!

7- Dẫu cho Ngài thật sự chẳng có mặt, chẳng có diện mục,
Không tay, không chân, không thân mình hay tứ chi,
Ngài vẫn xuất hiện khắp mọi cõi giới
Trong nhiều hiện thân khác nhau, khi tịch tĩnh, lúc uy mãnh

8- Dẫu Ngài là hiện thân của tánh bình đẳng tuyệt đối
Của tất cả các pháp trong sinh tử lẫn niết bàn,
Ngài vẫn thiện xảo hiển lộ ngay trong cõi thế gian này
Con đường thù thắng dẫn đến sự tịch tĩnh—thật kỳ diệu thay!

9- Chẳng thể nào tìm ra điểm khởi đầu hay kết thúc
Của các cõi giới hữu vi sai biệt,
Thế mà Ngài vẫn luôn hiện diện khắp thảy mọi nơi,
Và vì vậy, Ngài chân thật bao la quảng đại.[1]

10- Dù có thần thông và năng lực chuyển dịch không ngừng,
Cũng chẳng ai có thể đi xuyên qua hết thảy hư không.
Ấy vậy mà nơi nào có không gian thì nơi đó có Ngài,
Và vì vậy, Ngài chân thật rộng lớn khôn cùng.

11- Chỉ với một cái liếc nhìn từ đôi mắt Ngài,
Ngài thấu suốt tánh bình đẳng của muôn pháp sở tri
Khắp mười phương và trong cả ba đời,
Và vì vậy, Ngài là bậc vô song, không ai sánh kịp.

12- Cõi giới của chúng sinh là bất khả tư nghì
Và chư Như Lai cũng nhiều đông vô số.
Vì Ngài biến mãn khắp tất cả những pháp sở tri
Vô tận này, nên Ngài cũng hiện thân trùng trùng điệp điệp.

13- Khi mỗi vị đạo sư dẫn dắt vô số chúng sinh
Và thiết lập họ trong trạng thái tịch tĩnh an bình,
Thì ngay trong mạn-đà-la bất tăng bất giảm ấy,
Ngài tự tại an vui trong hỷ lạc thuần khiết.

14- Vì không hiểu rõ vạn vật vốn là Không,
Nên chúng ta mới lưu lạc trong cõi sinh tử tầm thường.
Nhưng ngay cả khi ta chứng ngộ được chân lý Tính Không,
Thì vạn vật cũng chẳng khác gì so với trước kia.

15- Do đó, khi Ngài quán chiếu tất cả những điều này,
Thì có ai thật sự bị trói buộc vào cõi hữu vi?
Trong tự tánh vượt ngoài sự trói buộc và giải thoát,
Làm sao sự giam cầm và tự do lại hiển hiện như vậy được?

16- Nếu một pháp thật sự có thể sinh khởi,
Thì chánh pháp đó sau này mới có thể hoại diệt.
Và từ đó, người ta mới có khả năng
Nghĩ tưởng về sự trói buộc và giải thoát.

17- Thế nhưng, vì những gì chưa từng sinh khởi
Vốn dĩ không
thật, chỉ hiển hiện như thể được sinh ra,
Lại thiếu vắng cả phần trung
đạo lẫn các cực đoan,
Thì làm sao nó có thể hao mòn hay tăng trưởng?

18- Những ý niệm về không gian và thời gian,
Dù có rộng lớn đến dường nào đi nữa,
Cũng đều là không
thật—vậy thì, tại sao

19- Cứ như thế, trong trạng thái bình đẳng tuyệt đối này,
Chẳng có sự phân biệt kỳ thị giữa
Tự thân và tha nhân, giữa sinh tử và tịch tĩnh,
Và đó chính là Chân thân tối hậu của Ngài.

20- Nếu không thấu hiểu được tánh bình đẳng này,
Người ta sẽ bị mê lầm bởi trăm điều sai quấy,
Liên quan đến cội nguồn và tận cùng của các cõi giới,
Về sự sinh thành, tầm vóc, tính không, tính chẳng phải không, và nhiều hơn thế.

21- Trong trạng thái này, cũng như đối với khởi đầu và kết thúc,
Tận cùng hư không cũng chỉ như lòng bàn tay;
Vàng ròng và đất cát tầm thường chân thật bình đẳng;
Chư Phật và chúng sinh vốn dĩ là một.

22- Cứ như thế, vì muôn pháp vốn dĩ bình đẳng,
Nên chúng mới có thể hiển hiện như đang là.
Sự chứng ngộ Pháp giới (Basic space) vượt ngoài tư nghì này
Sẽ đập tan ảo tưởng về cả sinh tử lẫn tịch tĩnh.[2]

23- Pháp giới tối hậu, nơi không còn sự thối chuyển
Và vượt ngoài mọi ngôn từ diễn đạt—chính nhờ điều này
Mà tất cả chúng sinh đều có thể đạt được niềm tin sâu sắc nhất
Nơi các phẩm tính giác ngộ vượt ngoài tư nghì của Ngài.

24- Dù là thực thể có thật hay không có thật
Cũng đều chẳng thể tìm thấy được khi ta quán chiếu sâu xa.
Chính những pháp đang sinh khởi kia bản tính vốn là Không;
Chẳng có tánh
Không nào khác tồn tại ngoài các pháp ấy.

25- Vì "Không" nghĩa là chính pháp này trống rỗng,
Và chính bản thân pháp này lại là tự tánh Không kia,
Nên sẽ chẳng bao giờ có bất kỳ sự biệt lập nào
Giữa hiện tượng (Sắc) và Tánh Không.

26- Do đó, tất cả những pháp sở tri
Đều bình đẳng tuyệt đối về phương diện này:
Ngay trong giọt tinh túy (Tila) duy nhất của hiện tượng tánh không,
Chúng hiển hiện thành những diệu pháp bất khả tư nghì.

27- Xuyên suốt toàn bộ không gian và thời gian,
Không một pháp nào đi chệch khỏi thực tại duy nhất này:
Đó chính là Pháp giới của tự tâm giác ngộ tự sinh,
Chính là Đức Văn Thù, vị Trí
Tánh Hữu Tình (Jñānasattva / Bậc mang thân trí tuệ).

28- Bằng niềm tin kiên định không bao giờ phai nhạt,
Nhờ đó con có thể thọ nhận dự phần
Dù chỉ một phần nhỏ nhoi của không gian vô tận,
Chính là giọt tinh túy (Bindu) bất biến trong tim,

29- Nơi có chủng tự A () tan chảy,
Nguồn cội của mọi sự diễn đạt vô tận,
Dựa trên chủng tự KA và tất cả những phần còn lại,[3]
Con xin dâng lời tán thán tối thượng lên Đức Kim Cang Văn
Thù Diệu Âm (Mañjuvajra).

(Chú giải: Nghĩa là, tất cả những ngôn từ biểu đạt liên quan đến muôn pháp vô hạn cần biểu đạt đều có thể được thâu nhiếp vào trong một chủng tự A () duy nhất. Ngoài ra, niềm tin ở đây tương hợp với sự chấp nhận giáo lý thâm sâu và tiếp nhận nhãn quan của một trí tuệ siêu việt; đó là niềm tin kiên cố vào ý nghĩa của tánh bình đẳng tối thắng, bất biến, nơi mà mọi thứ đều "tan chảy" vào trong một trạng thái duy nhất không thể diễn tả bằng lời—tương tự như việc cô đọng cả không gian bao la thành một phần nhỏ nhoi).

30- Nguyện cho những ai nghe thấy hoặc tuyên đọc bài kệ này
Sẽ khiến Đức Văn Thù tự tại hoan hỷ ngay trong tâm khảm,
Mang lại năng lực tổng trì (Đà-la-ni) vô tận,
Biện tài vô úy và trí tuệ kiên định bất thối chuyển.

31- Nhờ vào công đức từ những lời tán thán của con
Và chân lý bất nhị bất biến này,
Vốn là tinh túy của các giáo pháp Đại thừa,
Nguyện cho con nhanh chóng chứng đắc Trí Tuệ Thân (Wisdom-kāya).

32- Vô cùng thâm sâu, là cánh cửa dẫn vào các đà-la-ni,
Và mang theo sự xác tín chắc chắn về tánh bình đẳng,
Đây chính là lời tán thán tối hậu trong tất cả các lời tán thán
Dâng lên Đức Văn Thù — hiện thân của Trí Tuệ Thân tối thắng.

Mipham, người lấy tâm nguyện hướng về giáo pháp yoga của Đức Kim Cang Văn Thù Diệu Âm tối thượng làm đạo lộ, đã sáng tác bài tán thán này vào khoảng năm hai mươi tuổi. Tính cả những câu kệ kết bài được thêm vào lúc sao chép, số lượng đoản ca (śloka) của tác phẩm này nhiều bằng số lượng các tướng hảo tuyệt vời của một vị Phật.[4] Nguyện cầu vạn điều cát tường, thiện lành! Maṅgalam.

 

| Translated by Adam Pearcey, 2022.

 

Bibliography

Tibetan Edition

mi pham. "'jam pa’i rdo rje la bstod pa rdo rje nam mkha’i dkyil lta bu" In bka' ma shin tu rgyas pa. 120 vols. Chengdu: KaH thog mkhan po 'jam dbyangs, 1999. Vol. 1: 53–60

 

Version: 1.1–20220816

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/mipham/like-middle-space-manjushri-praise


[1] Thuật ngữ Tây Tạng shin tu ring po, được dịch ở đây là ‘chân thật bao la quảng đại’, mang một lớp nghĩa đôi: xét theo ngữ cảnh thì cụm từ này dường như ám chỉ đến phạm vi thời gian và biểu thị cho sự trường thọ, nhưng nó cũng có thể dùng để chỉ vóc dáng, mà trong trường hợp này Ngài Mipham đang nói đùa một cách hóm hỉnh rằng Đức Văn Thù hẳn phải rất cao lớn. ↩
[2] Nghĩa đen là ‘làm sụp đổ hang động giả tạo của sinh tử và tịch tĩnh’.
[3] ka () là phụ âm đầu tiên trong bảng chữ cái tiếng Tây Tạng.
[4] Đức Phật sở hữu ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp tùy hình (ba mươi hai tướng hảo và tám mươi vẻ đẹp tùy hình).

Chủ Nhật, 21 tháng 6, 2026

SƯ TỬ DIỆN KHÔNG HÀNH MẪU

 Siṃhamukhā, Lion-Faced Ḍākinī

The Secret Female Practice from the Heart-Essence of the Vast Expanse
Tác giả:  Jigme Lingpa
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển



***
Tại nghĩa địa
của sự giải thoát tám thức,
Bậc Đại sĩ Padma đã được phó thác
Giáo pháp này bởi không hành nữ của không gian bản nhiên,
Thông qua âm thanh của pháp tánh, các tia sáng của pháp tánh
Vào mạn-đà-la của bầu không gian quang minh thuộc pháp tánh.

Đối với mạn-đà-la bột đỏ (sindūra):
Hãy thiết lập một hình Pháp Nguyên liên hoa bất nhị (ngôi sao sáu cánh bao quanh bởi các cánh hoa sen),
Được vây quanh bởi các bãi tha ma, vòng rào kim cương và núi lửa.
Thạch anh đặt ở tâm điểm và gương soi ở vùng biên quy.[1]
Bày biện các vật phẩm cúng dường bên trong và các thệ nguyện vật xuất sắc.

1. Quy Y và Phát Bồ Đề Tâm

Hoḥ. Con xin quy y nơi Đức Phổ Hiền Như Lai và Phật Mẫu — tánh thanh tịnh của tâm và vạn pháp —
Với sự liễu tri rằng hiện tướng và tánh không là bất khả phân.
Con xin phát Bồ đề tâm, với lòng bi mẫn quảng đại hướng về chúng sinh
Và từ nội tại của tánh như chân thật thuộc về pháp tánh.

2. Bánh Torma Sơ Khởi (Preliminary Torma)

Hūṃ.
Trong bản tánh giác ngộ (Phật tánh), vốn không có cái gọi là chướng ngại
Hay chân lý về khổ đau.
Thế nhưng, từ những vọng niệm ngẫu sinh
Mà nguồn gốc của khổ đau xuất hiện dưới dạng mê lầm và ma chướng.
Hỡi tất cả các ngươi, hãy nhận lấy bánh torma này
Và rời đi — sang bờ bên kia của đại dương!

Trì tụng mantra với bốn tự mẫu hūṃs:

om sumbhani sumbhani hung | grihana grihana hung | grihanapaya grihanapaya hung | anaya ho bhagawan bidyaraza hung pé

oṃ sumbhani sumbhani hūṃ | gṛhṇa gṛhṇa hūṃ | gṛhṇāpaya gṛhṇapāya hūṃ | ānaya ho bhagavān vidyārāja krodha hūṃ phaṭ

3. Vòng Rào Bảo Hộ

Hūṃ. Vọng tưởng khởi từ tâm, nhưng tự tánh của chúng là vô sinh.
Từ năng lượng quang minh bất đoạn của tâm khởi hiện vòng rào bảo hộ mang bảy công đức kim cang —
Chính là đại tự tánh viên thành thật
Nơi chẳng thể bị tổn hại bởi các loài ma chướng thuộc về tự tánh y tha khởi và biến kế sở chấp.

དྷརྨ་དྷཱརྟུ་བཛྲ་རཀྵ༔

dharmadhatu benza raksha

dharmadhātu vajra rakṣa

4. Gia Trì Vật Phẩm Cúng Dường

Hoḥ. Bản chất của mọi hiện tượng thuộc thế giới tục đế,
Các vật phẩm cúng dường năm giác quan — sự hợp nhất giữa phương tiện và trí tuệ,
Đều được gia trì để trở thành cam lộ dược, torma và rakta (huyết cúng dường)
Và biến thành những phẩm vật cúng dường truyền thống, tựa như những tầng mây cúng dường của Đức Phổ Hiền.

ཨོཾ་རཱུཔ་ ཤབྟ་ གནྡྷེ་ རཱ་ས་ པཪྴེ་

om rupa shabta gendhé rasa parshé

oṃ rūpa śabda gandhe rāsa sparśa

ཨརྒྷཾ་ནས་ཤབྟ་དྷརྨ་དྷཱརྟུ་ཨཱ༔ཧཱུྃ༔

argham padam pupé dhupé aloké gendhé nevidé shabta dharmadhatu a hung

arghaṃ pādyaṃ puṣpe dhūpe āloke gandhe naivedye śabda

ཨོཾ་མ་ཧཱ་པཉྩ་ཨ་མྲྀ་ཏ་ཨཱ༔ཧཱུྃ༔

om maha pentsa amrita a hung

oṃ mahā pañcāmṛta āḥ hūṃ

ཨོཾ་མ་ཧཱ་རཀྟ་ཨཱ༔ཧཱུྃ༔

om maha rakta a hung

oṃ mahā-rakta āḥ hūṃ

ཨོཾ་མ་ཧཱ་བྷ་ལིཾ་ཏ་ཨཱ༔ཧཱུྃ༔

om maha bhalimta a hung

oṃ mahā balimta āḥ hūṃ

Thus bless the offerings with the mantras of the medicine, rakta and torma.

5. Thiền Quán Bổn Tôn Yoga Khế Hợp Với Sự Thanh Tịnh Toàn Vẹn

Āḥ. Từ ba tam-ma-địa (tam muội) là tánh không,
Vô tướng và vô nguyện,
Trong bầu không gian của kim cang vương mẫu thuộc sự giải thoát hoàn toàn,
Khởi hiện một hình tướng quang minh tánh không của một Pháp Nguyên liên hoa bất nhị (ngôi sao sáu cánh).

Tại tâm điểm, trong tim sen trên tòa nhật nguyệt — đại diện cho phương tiện và trí tuệ,
Là một chủng tử tự A vô sinh, bất hoại,
Chủng tử này tự chuyển hóa thành "thể bình trẻ trung" tự tánh tự khởi
Của Đức Vô Ngã Phật Mẫu (Nairātmya), hiện tướng nhưng tánh không, với tất cả các giác quan vẹn toàn viên mãn.

Thân tướng của Ngài màu xanh dương, sắc màu của pháp tánh bất động.
Ngài mang đầu sư tử, nuốt chửng ba cõi (tam giới).
Tay phải Ngài cầm dao cong, chặt đứt tánh nhị nguyên.
Tay trái Ngài nâng bát sọ người chứa đầy máu, tận diệt sinh tử từ tận gốc rễ.

Tựa trên khuỷu tay Ngài là cây trượng khát-vạn-ga (khaṭvāṅga) với chùy kim cương ba chấu.
Trượng được trang hoàng bằng trống nhỏ (damaru) và chuông linh, hoàn hảo trong cấu trúc,
Và là bất khả phân với nam phối ngẫu — phương tiện thiện xảo tối cao của đại lạc.
Ngài có hai chân, chân phải co lại, phong tỏa các cửa ngõ tái sinh trong luân hồi (saṃsāra),
Và chân trái duỗi ra, oai nghiêm và nhiếp phục bốn loài ma (tứ ma).

Ngài khoác trên mình các trang sức bằng xương, biểu thị cho sự viên mãn của sáu ba-la-mật-đa (lục độ),
Và đội vương miện sọ khô được trang hoàng bằng năm khế ấn.
Ngài đeo một tràng chuỗi sọ người, biểu trưng cho sự thanh tịnh của năm mươi tâm sở,
Và đắp một tấm da sư tử, chặt đứt tận gốc rễ của lòng kiêu mạn.

 Trên sáu nan hoa là sáu vị bổn tôn lai, biểu trưng cho sự thanh tịnh của lục căn và lục trần,
Theo chiều kim đồng hồ và bắt đầu từ phía trước, các Ngài là:
Nữ Thần Đầu Chim Mù, sắc đen và không bám chấp vào sắc tướng;
Nữ Thần Đầu Chim Khách, sắc xanh dương đậm và không bám chấp vào âm thanh;
Nữ Thần Đầu Ngỗng, sắc cam và không bám chấp vào mùi hương;
Nữ Thần Đầu Chim Mu, sắc xanh lá đậm và không bám chấp vào mùi vị;
Nữ Thần Đầu Chim Cốc, sắc đen và không bám chấp vào xúc chạm;
Và Nữ Thần Đầu Kền Kền, sắc trắng và tự tại du hý trong không gian bản nhiên của vạn pháp.
Tất cả các Ngài đều cầm một con dao cong chặt đứt tánh nhị nguyên
Và một bát sọ người chứa đầy máu để hòa nhập tham lam và sân hận vào không gian bản nhiên.
Oai nghiêm đứng trong tư thế chiến sĩ trên tử thi của tánh vô phân biệt (vô tưởng),
Các Ngài ở trong thân tướng khỏa thân, được trang hoàng bằng các thứ trân bảo và năm khế ấn.

 Trên các cánh hoa sen là ba mươi hai không hành nữ (ḍākinīs),
Được vây quanh bởi các loài linh thần kiṃkara, laṅkā, các nữ thần īśvarī và các địa mẫu Tenma.
Với bốn khế ấn (mudrās) và ở trong trạng thái của ba kim cang (Thân - Khẩu - Ý),
Các Ngài đầy oai lực, thần thông và được ấn chứng bằng một nửa chùy kim cang (bán kim cang).
Vô sinh và tự tánh tự khởi, tất cả đều được quán tưởng như là đại tự tánh viên thành thật.

6. Thỉnh Mời

Hūṃ. Mặc dù trong tánh như của không gian bản nhiên, bậc đại giản đơn,
Chẳng có khái niệm về sự đến hay lời thỉnh mời đến,
Nhưng từ sự hiển hiện của Sắc thân (Rūpakāya) — hiện tướng của lòng bi mẫn,
Xin Ngài hãy giáng lâm nơi đây, trong sự hợp nhất bất khả phân vĩ đại giữa Thệ nguyện tôn (Samaya-being) và Trí tuệ tôn (Wisdom-being).

ཨོཾ་སེང་ཧ་མུ་ཁ་ཧཱུྃ་ཧ་ཧེ་ཕཊ་ཛ༔

om senghamukha hung ha hé pé dza

oṃ siṃhamukhā hūṃ ha he phaṭ jaḥ

7. Thỉnh Các Vị Bổn Tôn An Tọa

Hūṃ. Mặc dù từ bản sơ, Thệ nguyện tôn và Trí tuệ tôn vốn không hề nhị nguyên,
Nhưng để tịnh hóa và gột sạch các khách trần vọng tưởng
Thông qua sự định tâm vào việc viên mãn hiện tướng rõ ràng như những Phật thân của các Bổn tôn,
Nguyện xin trí tuệ quang minh của tuệ giác thấu suốt vững bền an trú.

བཛྲ་ས་མ་ཡ་ཏིཥྛ་སྭཱཧཱ༔

benza samaya tishta soha

vajra-samaya tiṣṭha svāhā

8. Đảnh Lễ

Hūṃ. Từ Pháp thân (Dharmakāya) vô sinh, một nguồn năng lượng quang minh bất đoạn bùng tỏa,
Khởi hiện thành vị Báo thân (Saṃbhogakāya) Sư
Diện Không Hành Nữ (Siṃhamukhā).
Trong uy vũ phẫn nộ (kiêu hãnh) của Ngài, Ngài chính là đấng tận diệt tâm ngã chấp:
Với sự đảnh lễ bằng việc trực nhận thực tướng (kiến tính), con xin dập đầu đỉnh lễ Ngài!

ཨ་ཏི་པུ་ཧོ༔ པྲ་ཏཱི་ཙྪ་ཧོ༔

ati pu ho | pratitsa ho

atipu hoḥ | pratīccha hoḥ

9. Cúng Dường

Hoḥ. Hiện tướng viên mãn như chư Phật là Đại thủ ấn (mudrā) cúng dường;
Âm thanh viên mãn như trì tụng mật chú là bản kim cương liên khúc;
Hương thơm tối thượng của giới luật là mùi hương của hươu xạ;[2]
Sáu vị ngon là các diệu dục giác quan của hội đàn gaṇacakra;
Và xúc chạm được thọ nhận như đại lạc kim cang trong không gian bản nhiên
Vốn là cội nguồn của vạn pháp, bầu không gian của kim cang vương mẫu;
Sự hợp nhất của E và Vam, cam lộ dược, torma và rakta (huyết cúng dường),
Cùng các tia sáng của Bồ đề tâm, tất cả đều bùng tỏa tựa như những tầng mây cúng dường của Đức Phổ Hiền:
Xin hãy nạp thọ lễ cúng dường vĩ đại, hoan hỷ này, vượt thoát mọi bám chấp dự phần hay khước từ!

ཤྲཱི་བཛྲ་སེང་ཧ་མུ་ཁ་རཱུ་པ༔ ཤབྟ་གྷནྡྷེ་རཱ་ས་པཪྴེ་ཨརྒྷཾ་པཱ་དྱཾ་པུཥྤེ་དྷཱུ་པེ་ཨཱ་ལོ་ཀེ་གནྡྷེ་ནེ་ཝི་ཏྱ་ཤབྟ་སརྦ་པཉྩ་རཀྟ་བྷ་ལིཾ་ཏ་དྷརྨ་དྷཱརྟུ་ཧོ༔

shri benza sengha mukha rupa shapta ghendhé rasa parshé | argham padam pupé dhupé aloké gendhé nevidé shabta | sarva pentsa rakta bhalingta dharmadhatu ho

śrī-vajra siṃhamukhā rūpa śabda gandhe rāsa sparśa | arghaṃ pādyaṃ puṣpe dhūpe āloke gandhe naivedye śabda | sarva pañca rakta baliṅta dharmadhātu hoḥ

10. Tán Thán

Hūṃ. Tự tánh của Ngài là đại lạc, vậy mà Ngài lại thị hiện dưới nhiều hình tướng khác nhau.
Với tiếng gầm sư tử của tánh vô ngã, Ngài nhiếp phục tâm bám chấp vào cái tôi.
Ngài hòa nhập mọi khái niệm về chủ thể và hành động vốn trói buộc vào tâm và vạn pháp
Vào trong không gian bản nhiên được trang nghiêm bằng vô thượng công đức — con xin kính cẩn đảnh lễ Ngài!

Hiện tướng và tánh không bất khả phân, hỡi Kim Cang Vương Mẫu của Không Gian Bản Nhiên:
Ngài nâng tay cầm dao cong và bát sọ người để hòa nhập tham lam và sân hận vào không gian bản nhiên
Cùng cây trượng khát-vạn-ga (khaṭvāṅga) chặt đứt tận gốc rễ của các căn trần,
Và vị nam phối ngẫu của phương tiện thiện xảo tối cao mà Ngài vốn là bất phân — con xin dâng lời tán thán Ngài!

Mọi nhóm tâm thức, cùng nhân và quả của sự sinh khởi luân hồi (saṃsāra),
Đều hòa nhập vào bầu không gian đại lạc vượt thoát năng sở (chủ thể và đối tượng) —
Đến các Ngài, sáu vị nữ thần lai của không gian bản nhiên thuộc về trí tuệ,
Những bậc chủ tể của hai mươi tư thánh địa, con xin dâng lời tán thán!

11. Trì Chú

Định tâm quán tưởng vào vị Bổn tôn chính là giai đoạn Năng cận (Năng tu);
Định tâm quán tưởng vào vị Bổn tôn chính cùng quyến thuộc của Ngài là giai đoạn Cận cận (Thân cận).
Tinh tấn trì tụng mật chú là giai đoạn Thành tựu,
Và sự bùng tỏa cùng thâu nhiếp các tia sáng chính là giai đoạn Đại thành tựu.
Tại tâm luân của con, trên tòa đĩa mặt trời là chủng tử tự Hūṃ,
Được bao quanh bởi chuỗi mật ngôn
Năng cận, vi tế tựa như một sợi tóc.

ཨོཾ་བཛྲ་སིངྷ་མུ་ཁ་ཧཱུྃ་ཧ་ཧེ་ཕཊ༔

om benza singhamukha hung ha hé pé

oṃ vajra siṃhamukhā hūṃ ha he phaṭ

Để đủ điều kiện thực hành các hoạt động (nghi quỹ/pháp tu), hãy trì tụng thần chú một trăm nghìn lần cho mỗi âm tiết của thần chú.[3]
Nếu giai đoạn tiếp cận (approach phase) được tính theo thời gian, thì thời lượng thực hành sẽ bằng khoảng thời gian đó nhân lên bốn lần.[4]

Hãy quán tưởng thần chú thành tựu xoay ngược chiều kim đồng hồ như một thanh củi đang cháy đỏ được quay tròn, phát ra những tia lửa lửa tung tóe.

 

ཨ༔ཀ༔ས༔མ༔ར༔ཙ༔ཤ༔ད༔ར༔ས༔མ༔ར༔ཡ༔ཕཊ྄༔

a ka sa ma ra tsa sha da ra sa maraya pé

a ka sa ma ra ca śa da ra sa māraya phaṭ

Các tia sáng bùng tỏa ra ngoài, dâng vật phẩm cúng dường lên các bậc Chiến Thắng (chư Phật),
Rồi thâu nhiếp ngược trở lại lực gia trì và các thành tựu của các Ngài.
Một lần nữa các tia sáng lại tỏa ra, tịnh hóa nghiệp lực và các phiền não tàn phá của chúng sinh.
Những kẻ thù của sự bám chấp vào sáu trần như là các hiện tượng phàm tình
Cùng các thế lực chướng ngại của chủ thể năng sở và các tư duy vọng tưởng
Đều được gột sạch vào trong môi trường và chúng sinh của sự thanh tịnh toàn vẹn.


Tổng số biến trì tụng, dựa trên số lượng hoặc thời gian, đều tuân theo như trước.
Một dấu hiệu cho thấy bạn đã viên mạn giai đoạn Năng cận
Là bạn sẽ thuần thục (chứng ngộ) để trở thành một trong bốn bực Trì Minh Vương (Vidyādharas).
Pháp hành trì (Nghi thức kết nguyện được thực hiện theo bản văn chính của Phật Mẫu Yumka).

Các Giai Đoạn Kết Nguyện: Tiệc Cúng Dường và Sự Viên Mãn

Trong tất cả các phương pháp để tích lũy công đức, hội đàn gaṇacakra (tiệc cúng dường) là tối thắng. Các thệ nguyện vật (samaya substances) có năng lực thu hút các không hành nữ (ḍākinīs), và đặc biệt là các vật phẩm cúng dường bên trong, cần phải được sắp đặt một cách hoàn hảo.

Gia Trì Vật Phẩm Tiệc Cúng

Hoḥ! Trong chiếc đồ hình diệu kỳ của đại lạc,
Những phẩm vật tuyệt hảo của tiệc cúng dường (gaṇacakra) đã được bày biện,
Đều là những thệ nguyện vật (samaya substances) vượt thoát mọi bám chấp dự phần hay khước từ.
Bằng việc trì tụng Oṃ Āḥ Hūṃ, tất cả được chuyển hóa thành cam lộ dược (amṛta).

Dâng Phẩm Vật Tiệc Cúng (Gaṇacakra)
Chia phần đầu tiên của phẩm vật tiệc cúng thành ba phần.
Hūṃ! Cõi Vô Thượng (Akanishta) cùng các cõi thiên giới khác,
Những thánh địa nơi các bậc dũng sĩ[5] (dakas) và không hành nữ (ḍākinīs) hội tụ,
Cùng hai mươi tư trú xứ biến hiện[6],
Về mặt nội tại, tất cả chính là những thành trì trong thân kim cang (vajra body) của chúng ta.

Tâm Luân[7] (Mạch Luân Của Tâm)

Đỉnh đầu là thánh địa Jālandhara[8],
Điểm giữa hai chân mày là thánh địa Pullīramalaya[9],
Các kinh mạch và đại chủng ở sau gáy là thánh địa Arbuda,
Bạch hào[10] (lông trắng giữa hai chân mày) là thánh địa Rāmeśvara,
Tai phải là vùng đất Uḍḍiyāna (Ô-trượng-na),
Tai trái là cõi giới Godāvarī,
Hai mắt là thánh địa Devīkoṭa,
Và hai vai là thánh địa Mālava. Hỡi các Ngài, những bậc đang cư ngụ tại tám trú xứ này —

Hỡi các bậc Dũng sĩ và các bậc Nữ hành giả (Yoginīs),
Các Không hành nam
(Ḍākas) và các Không hành nữ (Ḍākinīs) —
Xin hãy giáng lâm và thọ nhận tiệc cúng dường này!
Những búi tóc trên đỉnh đầu các Ngài khẽ lay động,
Những lọn tóc dài đong đưa qua lại,
Những chiếc khuyên tai, vòng chân và vòng tay ngân vang lách cách,
Những trang sức bằng xương kêu lách cách, những chiếc chuông nhỏ reng vang,
Hòa cùng tiếng vang vọng của trống sọ nhỏ (Damaru) và chuông linh,
Xin hãy hoan hỷ thọ nhận những khúc kim cang ca và những điệu vũ của chúng con!

Chúng con xin dâng lên các Ngài sự thọ nhận các diệu dục giác quan này như một tiệc cúng!
Chúng con xin sám hối về những khiếm khuyết đối với các thệ nguyện samaya!
Xin hãy giải thoát các chướng ngại bên ngoài và bên trong vào bầu không gian bao hàm tất cả!
Xin hãy ban cho chúng con các thành tựu tối thắng và thông thường!

Khẩu Luân[11] (Mạch Luân Của Lời Nói)
Báo luân[12] (Mạch luân thọ hưởng ở cổ họng) là thánh địa Lampāka,
Hai nách và hai cật (thận) là thánh địa Kāmarūpa,
Hai bầu ngực là thánh địa Oḍra,
Luân xa rốn là thánh địa Triśakuni,
Đầu mũi là thánh địa Kośala,
Vòm họng là vùng đất Kaliṅga[13],
Và tâm luân (trái tim) là thánh địa Kāñcī,
Cùng dãy núi Himālaya[14]. Hỡi các Ngài, những bậc đang cư ngụ tại tám trú xứ này —
Các bậc Dũng sĩ và các bậc Nữ hành giả (Yoginīs),
Các Không hành nam
(Ḍākas) và các Không hành nữ (Ḍākinīs) —
Xin hãy giáng lâm và thọ nhận tiệc cúng dường này!

Tóc búi trên đỉnh đầu của Ngài đung đưa,
Mái tóc dài tung bay qua lại,
Khuyên tai, vòng chân và vòng tay ngân vang,
Những trang sức bằng xương va chạm lách cách, những chiếc chuông nhỏ reo ngân,
Trống sọ nhỏ và chuông cùng hòa tiếng vọng,
Xin hoan hỷ với những khúc ca kim cương và điệu vũ của chúng con!

Chúng con dâng lên Ngài sự thọ hưởng những lạc thú của các giác quan này như một cúng phẩm tiệc hội (gaṇacakra/feast)!
Chúng con sám hối những khiếm khuyết và vi phạm đối với samaya (tam-muội-da, giới nguyện mật thừa)!Xin giải thoát mọi chướng ngại bên ngoài và bên trong vào trong không gian bao la vô ngại!
Xin ban cho chúng con các thành tựu tối thượng và các thành tựu thông thường!

Thân Luân [15](Mạch Luân Của Thân)

Cơ quan sinh dục là vùng đất Pretapurī,
Hậu môn là vùng đất Gṛhadevatā,[16]
Các ngón chân cái là thánh địa Maru và hai đùi là thánh địa Saurāṣṭra,
Hai bắp chân là vùng đất Suvarṇadvīpa (Kim Châu),
Mười sáu ngón tay và ngón chân là thánh địa Nagara,[17]
Hai đầu gối là thánh địa Kulatā,
Và hai cổ chân là vùng đất Sindhu. Hỡi các Ngài, những bậc đang cư ngụ tại tám trú xứ này —
Các bậc Dũng sĩ và các bậc Nữ hành giả (Yoginīs),
Các Không hành nam
(Ḍākas) và các Không hành nữ (Ḍākinīs) —
Xin hãy giáng lâm và thọ nhận tiệc cúng dường này!

Tóc búi trên đỉnh đầu của Ngài lay động,
Mái tóc dài đung đưa qua lại,
Khuyên tai, vòng chân và vòng tay ngân vang,
Những trang sức bằng xương va chạm lách cách, những chiếc chuông nhỏ reo ngân,
Tiếng trống sọ nhỏ và tiếng chuông cùng vang vọng,
Xin hoan hỷ với những khúc ca và điệu vũ Kim Cương của chúng con!

Chúng con dâng lên Ngài sự thọ hưởng những lạc thú của các giác quan này như một tiệc hội cúng dường (gaṇacakra).

Chúng con sám hối những tổn khuyết và vi phạm đối với samaya (giới nguyện Mật thừa).

Xin giải thoát mọi chướng ngại bên ngoài và bên trong vào trong không gian bao trùm tất cả.

Xin ban cho chúng con các thành tựu tối thượng và các thành tựu thông thường.

Sám Hối
Để bổ sung một pháp hành trì viên mãn vào tiệc cúng dường, hãy trì tụng đoạn sau:
Hoḥ! Hỡi hội chúng trí tuệ không hành nữ (ḍākinīs), xin hãy đoái hoài đến con!
Dưới sự chi phối của tham lam, sân hận và si mê (tam độc),
Con đã phạm phải những lỗi lầm về thân, khẩu và ý, những điều mà con xin công khai phát lộ và sám hối.
Do chịu sự ảnh hưởng của Hạ thừa (giáo lý thấp hơn),
Con đã không thể thực chứng được chân lý đích thực, điều mà con xin công khai thừa nhận và sám hối.

Bởi con kém thiếu lòng bi mẫn và bị sân hận chi phối,
Con đã không thể hành động vì lợi lạc của chúng sinh, điều mà con xin công khai thừa nhận và sám hối.
Do chịu sự ảnh hưởng của lười biếng và dã dại (ngủ gà),
Con đã rời xa thiền định và pháp hành trì, điều mà con xin công khai thừa nhận và sám hối.
Do chịu sự ảnh hưởng của bỏn xẻn và ích kỷ,
Con đã không thể thực hiện các lễ cúng dường hàng tháng hay hàng năm, điều mà con xin công khai thừa nhận và sám hối.
Do chịu sự ảnh hưởng của kiêu mạn và ngạo nghễ,
Con đã làm tổn hại đến Thân, Khẩu, Ý của vị Thầy (Guru), điều mà con xin công khai thừa nhận và sám hối.
Do kém thiếu tình thương và lòng từ
bi,
Con đã làm phiền lòng bạn bè cùng những người huynh đệ tỷ muội đồng tu, điều mà con xin công khai thừa nhận và sám hối.
Do chịu ảnh hưởng từ những người bạn xấu ác,
Con đã làm ô nhiễm phần phẩm vật đầu tiên và biến nó thành đồ dư thừa, điều mà con xin công khai thừa nhận và sám hối.
Qua lỗi lầm làm hạ thấp phẩm vật đầu tiên và biến nó thành đồ dư thừa,
Con đã làm phiền lòng những bậc thọ nhận phần phẩm vật đầu tiên, điều mà con xin công khai thừa nhận và sám hối.
Do đã làm phiền lòng những bậc thọ nhận phần phẩm vật đầu tiên,
Con đã phải gánh chịu quả báo khắc nghiệt theo mật lệnh của các không hành nữ (ḍākinīs), điều mà con xin công khai thừa nhận và sám hối.
Khi thực hiện pháp giải thoát, do lòng bi mẫn của con quá ít ỏi,
Con đã thiếu năng lực để đưa chúng sinh đến một cõi giới tốt đẹp hơn, điều mà con xin công khai thừa nhận và săn hối.
Do không thể giải thoát các phiền não,
Con đã biến chúng thành những chướng ngại kiên cố lâu dài, điều mà con xin công khai thừa nhận và sám hối.
Trong quá trình thực hành pháp song vận, do sự định tâm thiền định của con thiếu năng lực,
Con đã làm phiền lòng vị phối ngẫu của mình, điều mà con xin công khai thừa nhận và sám hối.
Do đã làm phiền lòng vị phối ngẫu,
Con đã khởi tâm bám chấp và tạo ra nhân tái sinh trong luân hồi (saṃsāra), điều mà con xin công khai thừa nhận và sám hối.
Giờ đây khi con đã thành tâm sám hối, nguyện xin các Ngài ban cho con các thành tựu về Thân, Khẩu, Ý giác ngộ!

Bằng cách sám hối từ tận đáy lòng, những lỗi lầm và sự đứt gãy đối với thệ nguyện samaya sẽ đều được hoàn phục (phục hồi hoàn toàn).

Hồi Hướng Phẩm Vật Dư Thừa
Phun nước bọt lên phần phẩm vật dư thừa.[18]

ཨོཾ་ཨཱ་ཀཱ་རོ་མུ་ཁཾ་སརྦ་དྷརྨ་ནཱཾ་ཨཱ་དྱ་ནུ་ཏྤནྣ་ཏྭ་ཏ་ཨོཾ་ཨཱཿཧཱུྃ་ཕཊ་སྭཱ་ཧཱ༔

om akaro mukham sarva dharmanam adyanutpannatota om ah hung pé soha

oṃ ākāro mukhaṃ sarvadharmānām ādyanutpannatvāt oṃ āḥ hūṃ phaṭ svāhā

Peṃ! Hỡi tất cả các vị thị giả thọ nhận phần đồ dư và thực thi mật lệnh:
Ba mươi hai vị không hành nữ (ḍākinīs),
Bậc đại Kim Cang Nhi
(kiṃkara) cùng phối ngẫu và hàng trăm nghìn Lăng-già Quỷ Thần (laṅkā spirits),
Ba trăm sáu mươi bộ tộc quỷ thần truyền lệnh,
Tứ Đại Tốc Thần và Bát Đại Sí Thần,
Thất Đại Mẫu Thần và Tứ Tỷ Muội Hộ Pháp,
Cùng các loài linh thần phẫn nộ, du hành và các vị thần lai [19]
Các Ngài là những bậc thọ nhận vật phẩm dư thừa và tuần du khắp các hội đàn,
Xin hãy nạp thọ phần phẩm vật dư thừa tuyệt hảo này!
Xin hãy xua tan mọi nghịch duyên, hoàn cảnh tiêu cực và ma chướng!
Nhiếp phục và thành tựu các mật hạnh đã được giao phó, đây là lời cung thỉnh của chúng con!

Mang phẩm vật dư thừa ra bên ngoài.
Hūṃ! Xin hãy trỗi dậy, hỡi tất cả các vị Bản tôn trong chúng hội không hành nữ!
Từ không gian bản nhiên bao hàm vạn pháp (Pháp giới), xin hãy hiển hiện trong các sắc thân!
Hãy đập tan mọi chướng ngại trên con đường thành tựu giác ngộ của chúng con!
Hãy ngăn chặn sự suy thoái của các đại chủng nơi môi trường và trong tâm thức chúng sinh!
Hãy chữa lành mọi sự suy yếu trong hệ thống kinh mạch, phong khí (năng lượng gió) và sự tỉnh giác bản nhiên của chúng con![20]
Nguyện xin cho pháp hành trì của chúng con sớm đơm hoa kết trái!

Khởi phát thệ nguyện

Hūṃ! Trong trạng thái hằng hữu siêu việt ba thời,
tại thanh tịnh tự hiển hiện của cõi Vô Thượng,
Ngài – bậc Thầy cùng quyến thuộc của ba tòa viên mãn,
đã chuyển bánh xe Pháp bất hoại cực kỳ mật nhiệm.
Ba cõi của chư thiên vốn tự do khỏi sự bám chấp vào các hiện tượng là chân thật,[21]
được tuyên thuyết là nơi khởi nguồn của các bộ tantra.
Trong tri kiến của những hóa thân đệ tử có phúc duyên,
các giáo pháp mật tông xuất hiện một cách tự nhiên.
Vào một dịp như thế, tại hồ Tsogyal Latso gần Dragda,[22]
tâm thức của Đấng Rangjung Dorje[23] vinh hiển
đã được các ḍākinī của ba nơi (thân, khẩu, ý) ban phước.
Không chút dính mắc hay bám chấp, Ngài đã giải mã các ký tự biểu tượng
 và khai lộ kho tàng dung chứa vô tận này. Ngay lập tức,
 mọi ảo tưởng đều được tịnh hóa vào trong nền tảng (thanh tịnh nguyên sơ).
Duy trì Mối hệ thuộc với Mười hai Nữ thần Tenma[24]

Hūṃ! Các vị quyến thuộc vâng lệnh Đấng Vinh Hiển, hộ trì cõi đất Tây Tạng,
Hàng Mẫu Thần (Mātṛkā) và các chị em — Mười hai Nữ thần Tenma,
Xin hãy vân tập và nạp thọ nước sái tịnh torma này,
Và viên thành các hoạt động (Phật sự) mà chúng con thỉnh cầu!

མ་མ་ཧྲིཾ་ཧྲིཾ་བྷ་ལིངྟ་ཁཱ་ཧི༔

ma ma hring hring balingta khahi

ma ma hriṃ hriṃ baliṅ te khāhi

Vũ điệu Kim Cang Mã bộ (Mã Vũ)

Hūṃ! Trong đàn tràng maṇḍala của trí tuệ ḍākinī này,
Tất cả những loài linh thức
khiến chúng con phá vỡ thệ nguyện samaya và dẫn dắt chúng con vào đường lầm lạc,[25]
Đều bị trấn áp, chôn vùi bên dưới dấu
ấn của chín cỗ xe giáo pháp (Cửu thừa).
Nguyện cho chúng không bao giờ có thể trỗi dậy được nữa!

སྟྭཾ་བྷ་ཡ་ནན༔

tom bhayanen

sthaṃ bha ya nen

Trì tụng những việc cúng dường và cầu nguyện ở đây.

Nạp thọ các Thành tựu (Siddhi)

Hoḥ! Ngay lúc này, chính trong buổi sáng hôm nay,
các thệ nguyện samaya của pháp tu hành trì ḍākinī đã viên mãn!
Giờ đây, thời khắc ban truyền các thành tựu cho chúng con đã đến!
Từ đàn tràng maṇḍala của trí tuệ nguyên sơ vô trụ,
Xin hãy ban cho chúng con sự hợp nhất với thân, khẩu, ý giác ngộ của Ngài, cùng mười lực và các năng lực mạnh mẽ —
Ngay bây giờ, chính trong quốc độ khoảnh khắc này!

ཨོཾ་བཛྲ་སེང་ཧ་མུ་ཁ་ཧཱུྃ་ཧ་ཧེ་ཕཊ྄་བཛྲ་ཀཱ་ཡ་ཝཱཀྐཱ་ཙིཏྟ་སརྦ་སིདྡྷི་ཕ་ལ་ཧོ༔

om benza senghamukha hung ha hé peé benza kaya waka tsita sarva siddhi pala ho

oṃ vajra-siṃhamukhā hūṃ ha he phaṭ vajra-kāya-vāk-citta-sarva-siddhi-phala hoḥ

Các vật phẩm thành tựu (siddhi) được nếm thử, sau đó chạm vào ba nơi (trên thân).

Sám hối Lỗi lầm trong Hành trì
Hūṃ!
Trong đàn tràng maṇḍala của trí tuệ ḍākinī này,
Nếu phẩm vật cúng dường của chúng con chưa vẹn toàn, sự hành trì còn lơ là xao nhãng,
Hay việc thiền định bị dã dượi, hôn trầm hoặc thiếu đi sinh khí,
Cúi xin Ngài từ bi bao dung và tha thứ cho mọi lỗi lầm, vọng tưởng ấy.

(Tụng trì Chú Trăm Chữ / Thần chú Bách Tự Minh)

ཨོཾ་བཛྲ་སཏྭ་ས་མ་ཡ༔ སོགས་བརྗོད༔

om benza sato samaya…

oṃ vajrasattva samayam…

Giai đoạn Viên mãn
Hoḥ
. Như bọt nước hiện rồi tan trên dòng suối,
Các bổn tôn của mạn-đà-la tự hiển hiện
Tan hòa trở lại vào không gian của trí tuệ nguyên sơ — vajra muḥ!
Trong trạng thái sau thiền định (hậu đắc trí), mọi hiện tượng đều khởi lên như sắc tướng huyễn hóa của bổn tôn.

Hồi hướng Công đức

Hoḥ! Trong mạn-đà-la của tuệ trí không hành nữ (ḍākinī),
Bằng việc thực hành các giai đoạn sinh khởi, viên mãn và trì tụng,
Bất kỳ cội nguồn công đức nào con có được
Con xin hồi hướng cho sự giác ngộ của tất cả chúng sinh!

Nguyện ước (Phát nguyện)

Hoḥ! Tất cả những gì hiển hiện và tồn tại đều là cõi tịnh độ và
Vajrayoginī (Kim Cang Du Già Nữ), đại lạc bất biến.
Vajravārāhī (Kim Cang Hợi Mẫu), đấng thực sự được ban phước với những phẩm tính tối thượng nhất,
Nguyện cho chúng con được diện kiến chân diện mục của Ngài và chứng đắc giác ngộ!

Cầu nguyện Cát tường
Hoḥ!
Nhờ sự gia trì của dòng truyền thừa các bậc trì minh vương (vidyādharas),
Và nhờ chân lý của Phật, Pháp và Tăng,
Cùng sự tương tùy cát tường của Mật ngôn
thừa thâm diệu:

Nguyện cầu mọi điều kiết tường, để tức tai tám nỗi sợ hãi!
Nguyện cầu mọi điều kiết tường, để tăng trưởng thọ mạng và công đức!
Nguyện cầu mọi điều kiết tường, để hoài phục mọi tri giác!
Nguyện cầu mọi điều kiết tường, để tịnh trừ các thế lực tiêu cực, mê lầm!
Với mọi bám chấp vào tri giác đều được chuyển hóa và viên mãn thành sắc tướng của bổn tôn,
Mọi âm thanh đều được thanh tịnh hóa thành đại lạc của chân ngôn,
Mọi tư tưởng đều được chín muồi thành quang minh của pháp thân —
Nguyện cầu mọi điều kiết tường, để chúng con chứng đắc thân cầu vồng trong suốt!

Hãy trì tụng thêm các bài nguyện cát tường, dài hay ngắn tùy ý.

Pháp tu mật truyền của Siṃhamukhā này. Vô cùng thâm sâu, vì thế cần phải được giữ kín. Trong những văn tự biểu tượng của các ḍākinī, Các dòng truyền thừa của chư Chiến Thắng (Phật), các thủ trì tỉnh giác (vidyādhara) và các hành giả đều được viên mãn đầy đủ.

Samaya.

Ấn. Ấn. Ấn.

Được niêm phong bằng ấn thâm mật và ấn bí mật.

Bản văn này được giải mã từ những ký tự biểu tượng được viết trên một lá thư vàng mang hình dạng chim ưng.

 

 

| Translated by Han Kop, reviewed by Matthias Staber and edited by Catherine Paul, for the Longchen Nyingtik Project, 2023. With many thanks to Khenpo Sonam Tsewang for his kind assistance.

Source

'Jigs med gling pa. "gsang sgrub - klong chen snying gi thig le las/ yum ka'i gsang sgrub seng ge'i dong can", in klong chen snying thig rtsa pod. New Delhi: Shechen Publications, 1994. Vol. 1: 557–572.

 

Version: 1.2-20250219



[1] Ở đây có một phép chơi chữ đối với từ mạn-đà-la trong tiếng Tây Tạng là ‘kyilkhor’, trong đó kyil (dkyil) có nghĩa là tâm điểm và khor (‘khor) có nghĩa là vùng biên quy (ngoại vi). ↑
[2] Mùi hương của hươu xạ được coi là tuyệt hảo. Khenpo Sonam Tsewang giải thích rằng ở đây người ta tin rằng khi một người giữ gìn giới luật thanh tịnh, nghĩa là người đó hoặc sống độc thân hoặc đã thành thạo kỹ thuật yoga giữ tinh dịch, thì hương thơm của người đó sẽ vô cùng đặc biệt. ↑
[3] Câu thần chú có mười một âm tiết, vậy có nghĩa là được niệm 1,1 triệu lần. ↑
[4] I.e., the time taken for reciting the required number of mantras. 
[5] Skt vīra; Tib. pawo (dpa’ bo
[6] Có những cách liệt kê hai mươi bốn địa điểm linh thiêng hơi khác nhau tùy theo các trường phái Mật tông khác nhau, chẳng hạn như Mật tông Hevajra và Mật tông Cakrasaṃvara. Ở đây, truyền thống nổi tiếng nhất của Mật tông Cakrasaṃvara được tuân theo.
[7] Skt. cittacakra 
[8] Để biết thêm thông tin về hai mươi bốn địa điểm linh thiêng, xem David B. Gray, The Cakrasamvara Tantra: A Study and Annotated Translation (American Institute of Buddhist Studies, 2007), trang 54-62.
[9] Theo truyền thống Cakrasaṃvara Tantra, Pullīramalaya tương ứng với vùng đầu. Dường như đây là điểm khác biệt nhỏ duy nhất giữa sự liệt kê trong văn bản này và sự liệt kê được thấy trong truyền thống Cakrasaṃvara Tantra.”
[10] Skt. ūrṇākośa; vòng lông xoắn giữa hai lông mày, một trong ba mươi hai tướng tốt lớn của một vị Phật.
[11] Skt. vākcakra 
[12] I.e., cổ họng / the throat 
[13] Theo truyền thống của Mật tông Cakrasaṃvara, miệng được nhắc đến ở điểm này. ↑
[14] Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà bộ phận cơ thể tương ứng với Himālaya lại bị bỏ sót, vì dường như trong truyền thống của Cakrasaṃvara Tantra đã tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về sự tương ứng này. Có thể đó là vùng đáy chậu (perineum).
[15] Skt. kāyacakra 
[16] Tên địa danh thực sự có thể là Pañcāla  
[17] Mặc dù có vẻ kỳ lạ khi giải thích câu này theo cách khác ngoài việc xem đó là sự ám chỉ đến mười sáu ngón tay và ngón chân, Ratön Ngawang Tendzin Dorje cho rằng nó chỉ đề cập đến tám ngón chân (“một nửa của mười sáu”). Quan điểm này có lý, bởi vì các địa điểm được nhắc đến trong luân xa thân (body wheel) tương ứng với phần thân dưới, chân và bàn chân. Có lẽ Ratön Ngawang Tendzin Dorje nhận thức được rằng cách giải thích của mình sẽ gây tranh luận, nên ông đã đưa ra thêm các trích dẫn từ Cakrasaṃvara Tantra và từ tác phẩm Commentary on the Vajraḍākinī (Chú giải về Kim Cương Không Hành Nữ) để hỗ trợ cho lập luận của mình.
[18] Cần lưu ý rằng việc này chỉ nên được thực hiện bởi một vị Kim Cương Thượng sư (vajra master) đã chứng ngộ ở mức độ rất cao; trên thực tế, ngay cả một bậc thành tựu giả như vậy cũng rất có thể sẽ không thực hiện nghi thức này. Trong trường hợp đó — cũng như khi không có mặt một vị Kim Cương Thượng sư đã chứng ngộ như thế — người ta sẽ dùng amṛta thay cho nước bọt.
[19] Những linh thể có thân người nhưng đầu thú, thường là đầu chim. Trong tiếng Tây Tạng gọi là Tramen (phra men).
[20] Tib. Wangtang (dbang thang). 
[21] Trong phần chú giải từng từ của mình, Gönpo Tseten Rinpoche cho biết rằng đây là Năm Tịnh Thiên, cõi Hoan Hỷ (Skt. Tuṣita) và cõi Trời Ba Mươi Ba.
[22] Thung lũng Drak, hay Dragda (Tib. sgrags mda’), nơi sinh của Yeshe Tsogyal, nằm cách Lhasa khoảng ba mươi kilômét về phía đông nam.
[23] I.e., Jigme Lingpa 
[24] Skt. Sthāvarā, Tib. Tenma (brtan/bstan ma). 
[25] Các tinh linh damsi (dam sri) được đề cập trong dòng này là một loại tinh linh si (ma trùng) có nguồn gốc từ những hành giả phá vỡ thệ nguyện samaya của họ. ↑