Thứ Hai, 24 tháng 8, 2026

SỰ BAN PHƯỚC LÀNH CỦA TÁM BẬC TRÌ MINH

Descent of Blessings of the Eight Vidyādharas[1]

Tác giả: Jigme Lingpa
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển



***

Trong mạn-đà-la của pháp tu đạo sư Rigdzin Düpa, tám vị Trì Minh Vương vây quanh vị tôn chủ Guru Padmasambhava (Liên Hoa Sanh) theo các hướng như sau

Vị Trì Minh Vương (Vidyādhara)

Thần thể liên kết (Kagyé Deity)

Trực giác / Năng lực

Đông

Hūṃkāra
(Hùng Ca Ra)

Yangdak Heruka

Tinh túy của Tâm

Nam

Mañjuśrīmitra
(Văn Thù Hữu)

Yamāntaka

Tinh túy của Thân

Tây

Nāgārjuna
(Long Thọ)

Hayagrīva (Mã Đầu Minh Vương)

Tinh túy của Khẩu

Bắc

Prabhahasti
(Quang Minh Tượng)

Vajrakīlaya

Tinh túy của Hoạt động

Đông Nam

Dhanasaṃskṛta
(Đại Thành Thục)

Mamo Bötong

Giải thoát nghiệp lực

Tây Nam

Vimalamitra
(Vô Cấu Hữu)

Düdtsi Yönten

Tinh túy của Công đức

Tây Bắc

Rombhuguhya
(Thiên Nguyệt)

Jikten Chötö

Nghi quỹ thế gian

Đông Bắc

Śāntigarbha
(Tịch Tạng)

Möpa Drakngak

Chú thuật uy lực


Tất cả các Mandala Bản trí nguyên sơ đều hiển lộ trên không trung, biến mãn khắp bầu trời.

ཨཱོྃ་ཧཱུྃ་ཨ་ལ་ལ་ཧོཿ བྷ་ག་ཝཱན་ས་མ་ཡ་ཧོཿ ས་མ་ཡ་སྟྭཾ།

om hung a la la ho | bhagavan samaya ho | samaya tom

oṃ hūṃ a la la hoḥ | bhagavān samaya hoḥ | samaya sthaṃ

Hãy cùng ngân nga những lời sau đây theo nhịp điệu của nhạc:

Hūṃ! Thuở sơ khai của kiếp này — thuở bình minh của hiện hữu —
Khi đấng Heruka[2] của kiến tánh Vô ngã
Giải thoát quỷ vương Rudra[3] của nhị nguyên,
Tám thức thanh tịnh liền hiển lộ thành những Thi Lâm linh thiêng[4].

Bốn phần thân xác quỷ vương Rudra hóa thành bốn cửa Mandala,
Nơi chư Như Lai oai đức an trụ.
Nguyện xin gia trì cho năm uẩn, mười hai xứ và mười tám giới đều trở thành tinh túy của Ba tòa vẹn toàn![5]
Địa danh nơi này chính là Nam Thiêm Bộ Châu.

 Ở phương Đông[6] là Thi Hàn Lâm[7] (Cool Grove),
 nơi trái tim của quỷ vương Rudra rơi xuống.
Vị thần bảo hộ nơi này mang tôn nhan mặt voi, thân sắc màu trắng, tay cầm đao hộ pháp và chén sọ người.

Thần định hướng là Đế Thích Thiên (Indra), tay cầm chày kim cang.
Long vương là Ananta, mang các thủ đầu rắn.
Dòng sông và mây ngàn sắc trắng, cây linh thiêng bãi tha ma sắc vàng.
Vị Đại Hộ Mẫu là Gaurī.
Từ bảo tháp Cát Tường Đống[8]
Cúi xin Ngài Hūṃkāra
(Hùng Ca Ra), vị Trì Minh Vương đã thành tựu pháp môn Yangdak Heruka, Tinh túy của Tâm,
Ban rải dòng gia trì cam lộ xuống nơi này!

 Hūṃ! Phương nam là thi lâm Rừng Chim Cúc Cu (Cuckoo Grove),
Nơi tìm thấy cánh tay phải của thần Rudra.
Thần hộ pháp nơi này có mặt trâu và tay cầm thòng lọng rắn.
Vị bách thần hộ phương là Yama (Dạ Ma Ma Vương), tay cầm bảo chuỳ.
Long vương cai quản là Takṣaka (Thất-sát-ca).
Mây trời một màu xám xịt.
Dòng sông cuộn sóng dữ dội.
Cây thi lâm mang sắc xanh thẫm.
Bậc đại hộ nữ là Caurī (Nữ Thần Kiêu Man).
Từ bảo tháp Viên Ngọc Rực Cháy (Blazing Jewel)—
Mañjuśrīmitra (Văn Thù Hữu), bậc Trì Minh Vương đã thành tựu pháp Văn Thù Đại Oai Đức Kim Cang (Yamāntaka), Tinh túy của Thân.
Xin hãy ban rải dòng gia trì của Ngài xuống nơi đây!

Hūṃ! Ở phương tây là thi lâm Gò Sen (Lotus Mound)
Nơi linga (dương vật) của thần Rudra ngự trị.
Thần bảo hộ địa phương Laliha mang gương mặt của quái thú biển (makara).
Vị thần trấn giữ phương hướng là thủy thần Varuṇa, và vua loài rồng (nāga) là Saṅkhapāla.
Những đám mây cuồn cuộn ầm vang tiếng sấm, sông và cây nơi bãi tha ma nhuộm sắc đỏ.

Nữ thần hộ pháp vĩ đại là Pramohā.
Từ bảo tháp Ánh Sáng Rực Rỡ Uy Nghi—
Nāgārjuna-garbha
(Long Thọ Tạng), bậc trì minh vương đã thành tựu pháp tu Hayagrīva (Mã Đầu Minh Vương), Tinh túy của Khẩu
Xin hãy ban rải dòng lực gia trì xuống chúng con!

Hūṃ! Ở phương bắc là thi lâm Gò Laṅka (Laṅka Mound)
Nơi cẳng chân trái của thần Rudra ngự trị.
Thần bảo hộ địa phương mang gương mặt ngựa, có thân màu xám và đi cùng với phối ngẫu của mình.
Vị thần trấn giữ phương hướng là một dạ-xoa (yakṣa), và vua loài rồng (nāga) là Karkoṭaka.
Dòng sông cuộn trào hung dữ; những đám mây xanh thẳm ầm vang tiếng sấm.
Cây cổ thụ tại thi lâm tuyệt đẹp được gọi là Asutana.
Nữ thần hộ pháp vĩ đại là Vetālī.
Từ bảo tháp Đại Lạc Tự Sanh (Naturally Arisen Great Bliss)—
Prabhāhasti
(Quang Minh Tượng), bậc trì minh vương đã thành tựu pháp tu Vajrakīlaya (Phổ Ba Kim Cang), Tinh túy của Hoạt động,
Xin hãy ban rải dòng lực gia trì xuống chúng con!

 Hūṃ! Ở phương Đông Nam là thi lâm Gò Tự Khởi Thành Tựu (Spontaneously Accomplished Mound)
Nơi khúc ruột của thần Rudra ngự trị.
Thần bảo hộ địa phương mang gương mặt dê.
Vị thần trấn giữ phương hướng là hỏa thần Agni, mang thân mình sắc vàng.
Đại long vương tay cầm một đóa hoa sen và ngọc báu.
Dòng sông cuộn trào hung dữ, những đám mây rực sắc cam.
Cây cổ thụ tại
thi lâm hiện lên với dáng vẻ phẫn nộ và cong vẹo.
Nữ thần hộ pháp vĩ đại là Pukkasī.
Từ bảo tháp Ke’u Tishen—
Dhanasaṃskṛta
(Đại Thành Thục), bậc trì minh vương đã thành tựu pháp tu các mẫu thần (mātṛkās - Mamo Bötong), Giải thoát nghiệp lực,
Xin hãy ban rải dòng lực gia trì xuống chúng con!

 Hūṃ! Ở phương tây nam là thi lâm Mahāguhya (Đại Bí Mật)
Nơi phần đầu của thần Rudra ngự trị.
Thần bảo hộ địa phương có thân mình màu xanh lam và cưỡi trên một con người.
Vị thần trấn giữ phương hướng là Dạ-xoa vương Rāvaṇa, và vua loài rồng (nāga) là Mahāpadma (Đại Liên Hoa).
Những đám mây thuộc quyến thuộc ‘gana’ mang sắc vàng, và dòng sông nhuộm đỏ.
Cây cổ thụ tại
thi lâm được gọi là Śāntim Upala.
Nữ thần hộ pháp vĩ đại là Ghasmarī.
Từ bảo tháp Kanika—
Vimalamitra
(Vô Cấu Hữu), bậc trì minh vương đã thành tựu pháp tu Amṛtakuṇḍalin (Cam Lộ Quân Đồ Lợi - Düdtsi Yönten), Tinh túy của Công đức,
Xin hãy ban rải dòng lực gia trì xuống chúng con!

 Hūṃ! Ở phương tây bắc là thi lâm Great Hé (Đại Ha-ha)
Nơi cánh tay trái của thần Rudra ngự trị.
Thần bảo hộ địa phương mang gương mặt hươu và bị tật nguyền.
Vị thần trấn giữ phương hướng là phong thần Vāyu, và vua loài rồng (nāga) là Vāsuki.
Mưa trút xuống từ những đám mây dày đặc, và dòng sông mang một sắc đen.
Loài cây cổ thụ tại đây được gọi là Black Jala (Cây Jala Đen).
Nữ thần hộ pháp vĩ đại là Śmaśānī.
Từ bảo tháp Kuma Tự Sinh (Naturally Arisen Kuma)—
Guhyacandra
(Thiên Nguyệt), bậc trì minh vương đã thành tựu pháp tu Cúng Dường và Tán Thán (Jikten Chötö),
Xin hãy ban rải dòng lực gia trì xuống chúng con!

 Hūṃ! Ở phương đông bắc là thi lâm Lokana (Luân Hồi Thi Lâm)
Nơi cẳng chân phải của thần Rudra ngự trị.
Thần bảo hộ địa phương mang gương mặt chó rừng, có thân mình màu trắng, tay cầm một con dao và một chiếc cúp đầu lâu.
Vị thần trấn giữ phương hướng là Īśāna (Đại Tự Tại Thiên), và vua loài rồng (nāga) là Jātya.
Dòng sông mang một sắc đen, và những đám mây ầm vang tiếng sấm.
Cây cổ thụ tại
thi lâm được gọi là Halakāla.
Nữ thần hộ pháp vĩ đại là Caṇḍālī.
Từ bảo tháp Gomasāla—
Śāntigarbha
(Tịch Tạng), bậc trì minh vương đã thành tựu pháp tu Chú Thuật Hung Bạo (Möpa Drakngak),
Xin hãy ban rải dòng lực gia trì xuống chúng con!

ཨཱོྃ་ཨཱཿཧཱུྃ་བཛྲ་གུ་རུ་པདྨ་ཐོད་ཕྲེང་རྩལ། བཛྲ་ས་མ་ཡ་སིདྡྷི་ཕ་ལ་ཧཱུྃ་ཨཱཿ

om ah hung benza guru pema tötreng tsal | benza samaya siddhi pala hung ah

oṃ āḥ hūṃ vajra-guru padma tötreng tsal | vajra samaya siddhi phala hūṃ āḥ

Khi kết thúc phần thỉnh mời dòng lực gia trì trút xuống, hãy trì tụng thần chú của Đức Trì Minh Vương Anh Hùng Quấn Tràng Đầu Lâu (Mighty Skull-Garland)[9] một cách du dương.
Cuối cùng, hãy thu nhiếp các dòng lực gia trì với câu:

ཧཱུྃ་ཧཱུྃ་ཧཱུྃ་གིས་བྱིན་བསྡུས་པས།

hung hung hung

hūṃ hūṃ hūṃ

Tất thảy các vị bản tôn biến mãn khắp hư không đều hòa tan vào chính con, vào trú xứ này và vào các phẩm vật cúng dường,
Và ban phúc gia trì cho vạn vật trở thành luân xa trang nghiêm bất tận của thân, khẩu và ý.

 ***

| Translated by Han Kop, reviewed by Stefan Mang and edited by Corinne and Dan Ewen, for the Longchen Nyingtik Project, 2020.

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/jigme-lingpa/descent-blessings-eight-vidyadharas

PHỤ THÍCH

[1] Đoạn văn này được trích từ tác phẩm ‘Chiếc Tráp Báu: Khung Sườn Cho Sự Thành Tựu, từ Biển Hội Đấng Uy Nghi’ (dpal chen bka' 'dus rgya mtsho las/ sgrub pa'i khog 'bubs rin po che'i za ma tog)
[2] Mặc dù có vẻ bề ngoài cực kỳ hung dữ, đáng sợ, nhưng Heruka không phải là quỷ dữ hay thế lực tà ác. Ngược lại, Ngài chính là hiện thân oai mãnh của lòng bi mẫn tột cùng và trí tuệ tối cao, xuất hiện để tiêu diệt bản ngã và các năng lượng tiêu cực.
[3] biểu tượng tối cao của Bản ngã (Cái tôi), tâm chấp ngã và vô minh nhị nguyên. Đại ma vương kiêu ngạo: Theo các mật điển trường phái Ninh Mã (Nyingma), Rudra ban đầu là một hành giả tu tập Mật tông nhưng do hiểu sai giáo pháp, bị tâm kiêu ngạo và sân hận dẫn dắt. Anh ta cho rằng mình đã ngang hàng với Phật, từ đó đọa lạc thành một chúa tể quỷ vô cùng hung hãn, tàn ác, muốn thống trị cả vũ trụ.[4] Bãi tha ma không phải là nơi của sự sợ hãi, mà là cung điện của sự chứng ngộ.
[5] Chư vị Bản tôn của Ba tòa, thường được gọi là Mandala Ba tòa (gdan gsum dkyil ‘khor), bao gồm: 1) chư vị Như Lai (Tathāgata) an trụ nơi các uẩn (skandha) và giới (dhātu), 2) chư vị Nam Bồ Tát và Nữ Bồ Tát an trụ nơi các xứ (āyatana), và 3) chư vị Nam Bản tôn phẫn nộ và Nữ Bản tôn phẫn nộ an trụ nơi các chi thể (aṅga)."
[6] "Tại đây, mỗi phương trong số tám phương đều liên kết với một bãi tha ma cụ thể. Có rất nhiều danh sách các bãi tha ma như vậy xuất hiện trong cả Cựu phái (Ninh Mã) và Tân phái (Sarma), thường có những khác biệt nhỏ về tên gọi và hình tướng. Thông thường, mỗi bãi tha ma sẽ có một cây linh thiêng, Dạ-xoa (yakṣa), Thần định hướng, Long vương (nāga king), đám mây, ngọn núi và bảo tháp (stūpa) liên kết riêng biệt. Trong bản văn này, chúng ta cũng tìm thấy Tám vị Đại Nương (Great Ladies) như nàng Gaurī và Tám vị Đại Trì Minh Vương (vidyādhara) như ngài Hūṃkāra được liên kết với một bãi tha ma. Xem thêm tác phẩm của Jamgön Kongtrul Lodrö Tayé, Kho tàng Tri thức: Sách Tám, Phần Ba: Các Yếu tố của Thực hành Mật tông (Ithaca, N.Y: Snow Lion, 2008), trang 288, chú thích 40."
[7] Cool Grove: Tiếng Phạn là Śītavana (Hán-Việt thường dịch là Thi Hàn Lâm hoặc An Lạc Lâm), đây là bãi tha ma nổi tiếng nhất ở phương Đông, nằm gần Bodhgaya (Bồ Đề Đạo Tràng). Đây cũng chính là nơi ngài Garab Dorje và ngài Mañjuśrīmitra truyền trao giáo pháp Dzogchen đầu tiên.
[8] Bảo tháp Śaṅkarakūṭa tọa lạc tại trung tâm của bãi tha ma Śītavana (An Lạc Lâm / Thi Hàn Lâm) ở phương Đông. Trong thế giới vật lý, bãi tha ma này nằm gần Bodhgaya (Bồ Đề Đạo Tràng, Ấn Độ) – nơi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo.
[9] Tib. Tötreng Tsal.

 ***

Nghi thức "Descent of Blessings of the Eight Vidyādharas" (tiếng Tây Tạng: Rigdzin Chinbap / རིག་འཛིན་བྱིན་འབེབས་ - Nghi thức Thỉnh cầu Dòng lực Gia trì của Bát Đại Trì Minh Vương) được hành giả Mật tông Tây Tạng thọ trì nhằm ba mục đích hành trì cốt lõi sau:

1. Triệu thỉnh và Hóa nhập Năng lượng Giác ngộ (Chinbap)

  • Mục đích: Bản chất của từ "Descent" (Chinbap) là biến không gian phàm trần thành một chiều không gian tâm linh linh thiêng.
  • Hành trì: Hành giả dùng đức tin, tâm bồ đề và các giai điệu ca vịnh (melodious chant) để thỉnh cầu toàn bộ năng lượng tuệ giác, lòng từ bi, và thần lực phẫn nộ của Chư Phật, Bồ Tát, và đặc biệt là Bát Đại Đại Sư Ấn Độ cổ đại trút xuống.
  • Kết quả: Dòng năng lượng này sẽ hòa tan trực tiếp vào Thân - Khẩu - Ý của hành giả, chuyển hóa cấu trúc phàm tình (tham, sân, si, chấp ngã) thành năng lượng thanh tịnh của Bản tôn.

2. Tịnh hóa Trú xứ và Thánh hóa Vật phẩm Cúng dường (Tsok)

  • Mục đích: Nghi thức này thường là một phần chuyển giao quan trọng ngay trước khi bước vào các đàn lễ cúng dường đại tiệc Gaṇacakra (Tsok).
  • Hành trì: Thông qua việc quán tưởng Mandala Bát Đại Thi Lâm bao quanh, toàn bộ môi trường xung quanh (the place) được tịnh hóa hoàn toàn khỏi các năng lượng tiêu cực, cấu uế và biến thành cõi Tịnh độ.
  • Kết quả: Các phẩm vật cúng dường thông thường (the materials) được cam lộ hóa, biến thành "luân xa trang nghiêm bất tận" để dâng cúng lên chư Bản tôn, Hộ pháp.

3. Đánh thức Bản tính Trí tuệ tối hậu (Dzogchen)

  • Mục đích: Đây là đỉnh cao của pháp hành thuộc hệ thống Palchen Düpa (Đại Sư Tập Hội Phẫn Nộ) trong Longchen Nyingtik.
  • Hành trì: Ở phần cuối của nghi thức, khi đọc câu: "All the deities who fill the sky dissolve into myself...", hành giả thực hiện pháp quán hòa tan.
  • Kết quả: Xóa bỏ hoàn toàn ranh giới nhị nguyên giữa "Người tu" và "Bản tôn". Hành giả nhận ra bản tính chân thật của chính mình vốn là tánh Không, là Trí tuệ thuần khiết (Rigpa), đạt tới trạng thái Đại Lạc Tự Sinh.


Thứ Hai, 17 tháng 8, 2026

LỜI KHUYÊN TỰ PHÁT KẾT HỢP VỚI LỜI CẦU NGUYỆN

Spontaneous Advice Connected with a Prayer

bởi Kyabje Chatral Rinpoche
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển



***

Thật kỳ diệu!

Phật nguyên sơ, bản chất,
và báo thân (sambhogakāya) bất diệt, bản thể,
được hợp nhất, như chính sự rạng rỡ của lòng từ bi:
Đạo Sư ba thân, xin hãy biết đến con!

Là hiện thân của chín thừa (yāna) và bốn thân,
Sangye Dorje đã tiên tri,
người đã hoàn thành trọn vẹn sự bao la của trí tuệ thông qua các dòng truyền thừa được chúc phúc nhất,
biểu lộ tình yêu vĩ đại của Ngài từ không gian thanh tịnh:
hãy che chở cho con, đứa con tận tụy nhất của Ngài!

Xin hãy ban phước lành và gia trì
của các dòng truyền thừa trí tuệ, biểu tượng và truyền khẩu ngay bây giờ,
và làm cho con không thể tách rời khỏi Ngài!
Kính lạy Đạo Sư, con đang cầu nguyện.

Trong tầm nhìn từ bi của Ngài,
là di sản pháp thân (dharmakāya) của con — nhận thức trống rỗng —
không có lớp vỏ của những kinh nghiệm thiền định tạm thời,
và vượt ra ngoài tầm nhìn, thiền định, hành vi hay kết quả.

Bản chất nguyên sơ tự phát này
luôn luôn thoát khỏi tâm trí khái niệm;
toàn bộ phạm vi của sự nhận thức tươi mới, không bị biến đổi.
Có được sự tự tin để nhận ra và giải quyết điều này,
chính là nhìn thấy bằng tánh giác nguyên sơ– ân huệ lớn lao của sự tự giải thoát.

Ngay tại đây và ngay bây giờ —
xin hãy tiết lộ điều này cho con!

Trên con đường nhanh chóng của Đại Toàn Thiện rạng rỡ,
với sức mạnh của lòng thành kính làm nguyên nhân,
sự nhận thức và giải thoát được hiện thực hóa trong một kiếp sống.
Kết quả này, những địa[1] (
bhūmi) và con đường hoàn hảo trên mặt đất,
không chỉ đơn thuần là một hy vọng hay triển vọng trong tương lai — thật đáng kinh ngạc!

Thức tỉnh công đức tích lũy từ trước
và hấp thụ cam lồ chín muồi giải thoát,
Vô minh, tiêu cực, cảm xúc, sự lầm lẫn và dấu ấn của chúng
Đều tịnh hóa vào Pháp thân vô sinh,
Và, với lòng từ bi vô công dụng hạnh (tự nhiên không nỗ lực),

cõi khổ đau của chúng sinh được giải thoát
từ tận sâu thẳm —
Một món quà phi thường đến thế
Chỉ có thể trao cho đứa con được nuông chiều như con
Qua lòng từ bi của bậc đạo sư, người cha đích thực của con.

Không mong cầu biết hết mọi thứ để rồi bỏ lỡ điều quan trọng nhất,
Con sẽ an trú suốt cả cuộc đời
Trong sự thấu suốt một điều duy nhất giúp giải thoát tất cả.
Hỡi Đạo Sư vinh hiển, xin cứu vớt con
Khỏi cuộc hành trình đầy rẫy lỗi lầm và cạm bẫy!

Ngoài lời cầu nguyện tha thiết,
hãy thư giãn trong sự vô chấp, buông bỏ ngay cả những việc thiện,
và giờ đây bất cứ điều gì xảy ra
đều nằm trong tay chúng ta — hãy chắc chắn.

Đạo Sư, ngài biết rằng trong môi trường xung quanh và giữa chúng sinh,
trên tất cả chúng ta, bản thân
con và những người khác,
những mũi tên của thế lực tiêu cực đang trút xuống
trong những thời khắc đen tối không thể tưởng tượng nổi này,
và khi đã chứng kiến cách chúng tấn công,
Ngài
đã chọn lối sống của một hành giả, khiêm hạ và vô tác,,
lang thang ở những nơi hoang vắng và những nơi ẩn cư biệt lập,
được duy trì mà không cần bạn đồng hành, một mình,
và như một dòng suối chảy, ngày đêm,
suy nghĩ và nhận thức trở thành trí tuệ vô tận,
Khi trạng thái thiền định và sau thiền định trở nên bình đẳng và viên mãn
để
con có thể thưởng thức mọi thứ như một hương vị duy nhất —
Đạo Sư kính yêu, xin hãy hiểu
con!

Vì những tiếng ồn ào của giáo lý suông
Mang theo mối nguy hại của sự tự lừa dối
Lúc sinh thời, khi chết đi, và trong thân trung ấm (Bardo),
Xin hãy gia trì cho con luôn giữ trọn chánh niệm!

***

Lời cầu nguyện gọi tên Đạo Sư này, tương đương với lời khuyên tâm linh, được vị yogi trẻ Jigme Lodé yêu cầu, với lễ vật là một maṇḍala bằng vàng và bạc. Để không làm cho lời khuyên nhủ lặp đi lặp lại của ngài vào những thời điểm khác nhau trở nên vô nghĩa, Đức Phật Kim Cang[2] đã nói điều này từ nơi ở của ngài, trung tâm tu tập Turquoise Dragon Land, và con gái của ngài là Saraswati đã ghi chép lại. Maṅgalam.




[1] Giai đoạn hoặc tầng bậc chứng ngộ. Từ 'bhūmi' nghĩa đen là 'đất' (địa), và các tầng bậc này được ví như nền tảng nâng đỡ cho các phẩm tính giác ngộ, tương tự như mặt đất nâng đỡ mọi sinh vật hữu tình và vạn vật vô tình."
[2] 
Đức Phật Kim Cang - Buddha Vajra (Sangye Dorje): Đây chính là đạo hiệu bằng tiếng Phạn của Ngài Chatral Rinpoche. Trong tiếng Tây Tạng, Sangye nghĩa là "Buddha" (Phật/Giác giả), và Dorje nghĩa là "Vajra" (Kim Cương). 

| Bản dịch của Christina Monson với sự hỗ trợ của Sa môn Sean Price, 2016.

 

Phiên bản: 1.2–20231105

 



Thứ Năm, 13 tháng 8, 2026

NGHI THỨC CẦU SIÊU (NEDREN)

trích từ “Đại Lộ Diệu Kỳ tới Đại An Lạc: Nghi quỹ Cúng dường Thượng sư dựa trên Đức Kim Cang Tát Đỏa, kết hợp với các Hành động Lợi lạc Chúng sinh”.

Guiding the Dead (Nedren)
from The Excellent Path of Great Bliss: A Ritual of Offering to the Gurus Based on Vajrasattva, Combined with Activity for the Benefit of Others

Tác giả: Jamyang Khyentse Wangpo
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển


***

 Đối với nghi thức dẫn dắt hương linh (cầu siêu), hãy chuẩn bị bài vị (bảng tên), các vật phẩm thanh tịnh, các chất sái tịnh (rải tịnh), thực phẩm cúng dường cùng các thứ liên quan. Sau khi hoàn thành1 phần thực hành từ quy y cho đến trì tụng chân ngôn, hãy gia trì bình cam lồ và chủ yếu trì tụng thần chú Trăm Chữ. Hãy gia trì dòng lực quán đỉnh của thần chú vào bột mỳ (bột sampa). Tiếp tục hoàn thiện phần phát nguyện Thất chi, nhận quán đỉnh bốn đạo lộ và cúng dường đại tiệc (tsok).

Phần chánh hạnh của nghi thức dẫn dắt hương linh (cầu siêu) gồm có mười lăm phần:

01- Quán tưởng nơi nương tựa (tạo sở y cho hương linh),
02- Triệu thỉnh và nhập thần thức,
03- Tiêu trừ chướng ngại,
04- Tịnh hóa ác nghiệp,
05- Mộc dục (tắm tịnh),
06- Trừ độc (giải độc),
07- Trừ độc ngũ đại (giải độc các yếu tố cấu thành),
08- Trao truyền quy y,
09- Trao truyền quán đỉnh,
10- Cúng dường lục trần (diệu dục ngũ quan),
11- Chỉ dẫn (khai thị) cho hương linh,
12- Di thần chuyển tử (pháp Phowa),
13- Thiêu hóa bài vị,
15- Làm tượng Tsa-tsa, và
16- Phát nguyện hồi hướng.


1. Quán Tưởng Nơi Nương Tựa (Tạo Sở Y)2
Tẩy tịnh vật sở y bằng bài chú:

རྟེན་ཤཱུ་ནྱ་ཏཱས་སྦྱང་།

om maha shunyata jnana benza sobhava emako hang

oṃ mahā-śūnyatā-jñāna-vajra-svabhāvātmako ’ham

Từ trong trạng thái tánh Không, trên tòa sen và đĩa mặt trăng,
Chủng tự Nṛi biến hiện thành người quá cố,
Với đầy đủ năm uẩn, mười hai xứ và mười tám giới,
Trụ trong tư thế kính cẩn, hai lòng bàn tay chắp lại.

2. Triệu Thỉnh Và Nhập Thần Thức

Nam mô. Nhờ oai lực và chân lý của Đạo sư Kim Cang Tát Đỏa,
Đấng hiện thân chân thật của Tam Bảo và Tam Gốc,
Thần thức của người quá cố, dù đang lưu lạc nơi đâu trong sáu cõi luân hồi hay cõi trung ấm (bardo),
Hãy lập tức được triệu thỉnh nhập vào vật sở y này!

ནྲྀ་བཛྲ་ཨངྐུ་ཤ་ཛཿ ཛཿཧཱུྃ་བྃ་ཧོཿ

nri benza angkusha dza | dza hung bam ho

nṛi vajra aṅkuśa jaḥ | jaḥ hūṃ baṃ hoḥ

3. Tiêu Trừ Chướng Ngại

Để tiêu trừ các chướng ngại một cách ôn hòa (tịch tĩnh), hãy cầm ba phần bánh cúng (torma)7 xoay theo chiều kim đồng hồ hướng về phía vật sở y (bài vị) trong khi trì tụng:

ཨོཾ་སརྦ་བིགྷྣཱན་ན་མ་སརྦ་ཏ་ཐཱ་ག་ཏེ་བྷྱོ་སོགས་བརྗོད་པས་ཞི་བ།

om sarwa bighanen nama sarwa tathagaté bhyo bisho mukhé bhé sarwa takham utgaté saparana imam gagana kham grihana idam balingté soha

oṃ sarva vighnān namaḥ saravatathāgatebhyo viśva-mukhebhyaḥ sarvathā-khaṃ udgate spharaṇa imaṃ gagana-khaṃ gṛhṇa idaṃ baliṃ te svāhā

Để tiêu trừ [chướng ngại] bằng phương pháp bán phẫn nộ (vừa ôn hòa vừa uy lực), hãy cầm ngọn đèn bơ nhỏ (tinglo) và bánh cúng nắm tay (changbu)8 xoay ngược chiều kim đồng hồ hướng về phía vật sở y (bài vị) trong khi trì tụng:

om sumbhani sumbhani hung | grihana grihana hung | grihanapaya grihanapaya hung | anaya ho | bhagawan bidyaraza krodha hung pé

oṃ sumbha ni-sumbha(ni) hūṃ | gṛhāna gṛhāna hūṃ | gṛhānapaya gṛhānapaya hūṃ | ānaya ho bhagavān vidyārājāya hūṃ phat

Để thực hiện pháp phẫn nộ xua đuổi chướng ngại:

Nam mô. Nhờ oai lực và chân lý của Đạo sư Kim Cang Tát Đỏa,
Đấng hiện thân chân thật của Tam Bảo và Tam Gốc,
Hỡi tất cả các thế lực quỷ thần bạo hại đang cản trở con đường giải thoát của người quá cố:
Hãy nhận lấy bánh cúng (torma) này và lập tức lui về trú xứ của các ngươi!

སུམྦྷ་སོགས་བརྗོད་ཅིང་གུ་གུལ་བྱིས་བདུག

om sumbhani sumbhani hung | grihana grihana hung | grihanapaya grihanapaya hung | anaya ho | bhagawan bidyaraza krodha hung pé

oṃ sumbha ni-sumbha(ni) hūṃ | gṛhāna gṛhāna hūṃ | gṛhānapaya gṛhānapaya hūṃ | ānaya ho bhagavān vidyārājāya hūṃ phat

Trong khi trì tụng lời này, hãy dâng hương trừ tà (guggul), rải hạt cải tịnh hóa và mang bánh cúng trục xuất chướng ngại (purification torma) ra bên ngoài.

4. Tịnh Hóa Ác Nghiệp

Tại đỉnh đầu của người quá cố là chủng tự hạt giống của cõi trời, chữ A màu trắng.
Tại luân xa cổ họng, chủng tự hạt giống của cõi a-tu-la (bán thần), chữ SU màu vàng.
Tại luân xa tim, chủng tự hạt giống của cõi người, chữ NṚI màu xanh dương nhạt.
Tại luân xa rốn, chủng tự hạt giống của cõi súc sinh, chữ TRI màu xanh lá cây.
Tại mật xứ (luân xa vùng kín), chủng tự hạt giống của cõi ngạ quỷ (quỷ đói), chữ PRE màu tro bếp.
Tại lòng bàn chân, chủng tự hạt giống của cõi địa ngục, chữ DUḤ màu khói xám.

Từ luân xa tim của Đạo sư Kim Cang Tát Đỏa, các tia sáng trí tuệ phóng xuất ra như những lưỡi lửa, thiêu rụi và tịnh hóa hoàn toàn các hạt giống tái sinh vào sáu cõi luân hồi của người quá cố, cùng với tất cả các phiền não, ác nghiệp, chướng ngại và tập khí (vô minh) của họ.

Mật ngôn trăm âm

OM BENZA SATO SAMAYA / MANU PALAYA /
BENZA SATO TENO PA / TITHA DRI THO ME BHAWA /
SUTO KAYO ME BHAWA / SUPO KAYO ME BHAWA /
ANU RAKTO ME BHAWA /
SARWA SIDDHI ME PRAYATSA /
SARWA KARMA SU TSA ME / TSITTAM SHRIYAM KURU HUNG /
HA HA HA HA HO / BHA GA WAN / SARWA TATHAGATA /
BENZA MA ME MUNTSA / BENZI BHAWA /
MAHA SAMAYA SATO AH

Hay căn bản mật ngôn trăm âm:

OM BENZA SATO HUNG

Vào phần cuối của căn bản chú và thần chú Trăm Chữ, hãy thêm vào:

ཨ་སུ་ནྲྀ་ཏྲི་པྲེ་དུཿསརྦ་པཱ་པཾ་ཀླེ་ཤ་ད་ཧ་ན་བྷསྨིཾ་ཀུ་རུ་སྭཱ་ཧཱ།

a su nri tri tré duh sarva papam klésha dahana bhasmim kuru soha

a su nṛi tri pre duḥ sarva pāpaṃ kleśa dahana bhasmiṃ kuru svāhā

  • (A SU NṚI TRI PRE DUḤ! Hãy thiêu rụi hoàn toàn và biến tất cả ác nghiệp cùng phiền não của [Tên người chết] thành tro bụi! Svāhā!)

Hãy trì tụng lời này trong khi rải bột (bột sampa). Nếu muốn thực hiện nghi thức một cách rộng rũ (chi tiết) hơn, hãy trì tụng thêm các thần chú tịnh hóa khác sao cho phù hợp

5. Mộc Dục (Tắm Tịnh)

Nếu muốn thực hiện nghi thức một cách rộng rũ (chi tiết), trước hết hãy thực hiện nghi thức mộc dục lên tôn tượng Bản tôn.3 Sau đó trì tụng:


Oṃ. Bên trong bầu không gian rộng lớn của thân bình tịnh nguyên sơ tươi trẻ,
Là dòng nước cam lồ (amṛta) của trí tuệ tự tính hiện tiền—
Nhờ năng lực này, nguyện cho tất cả nghiệp quả, cùng các phiền não chướng và sở tri chướng
Của người quá cố đều được tịnh hóa vẹn toàn.

Vào phần cuối của căn bản chú và thần chú Trăm Chữ, hãy thêm vào:

OM BENZA SATO HUNG + [TÊN HƯƠNG LINH]

- Nguyện cho tất cả ác nghiệp, phiền não chướng, sở tri chướng cùng các tập khí (vô minh) của người quá cố đều được tịnh hóa—śāntiṃ kuru svāhā!9

- hoặc (- OM BENZA SATO HUNG + [TÊN HƯƠNG LINH] + SARVA PAPAM KLESHA...)

Hãy sái tịnh vật sở y (bài vị) trong khi trì tụng lời này. Đối với nghi thức rộng rũ (chi tiết), hãy tụng thêm các bài kệ về Sáu Ba-la-mật (Lục độ Ba-la-mật).4

1. Bố Thí Ba-la-mật (Generosity - Dāna)

  • Ý nghĩa: Tịnh hóa tâm bỏn xẻn, tham lam, ích kỷ của hương linh khi còn sống.

Bố thí viên mẫn xua tan tâm bỏn xẻn,
Mang lại sự giàu có tâm linh lẫn tư lương.
Nguyện cho hương linh buông xả mọi bám chấp,
Thành tựu hạnh nguyện Bố thí Ba-la-mật vô biên.

2. Trì Giới Ba-la-mật (Discipline - Śīla)

  • Ý nghĩa: Tịnh hóa các ác nghiệp phát sinh do vi phạm giới luật hoặc làm tổn hại chúng sinh.

Trì giới thanh tịnh là cội nguồn của mọi cõi lành,
Ngăn chặn mọi hành vi bạo hại và tổn thương.
Nguyện cho hương linh rũ sạch các cấu uế của nghiệp,
Thành tựu hạnh nguyện Trì giới Ba-la-mật trang nghiêm.

3. Nhẫn Nhục Ba-la-mật (Patience - Kṣānti)

  • Ý nghĩa: Dập tắt ngọn lửa sân hận, oán thù – nguyên nhân trực tiếp kéo ghì hương linh xuống cõi địa ngục.

Nhẫn nhục kiên cố che chở tâm khỏi ngọn lửa sân hận,
Mang lại vẻ đẹp tự tại và sự an nhiên trước chướng nghịch.
Nguyện cho hương linh chuyển hóa mọi oán sầu, kiêu mạn,
Thành tựu hạnh nguyện Nhẫn nhục Ba-la-mật bất động.

4. Tinh Tấn Ba-la-mật (Diligence - Vīrya)

  • Ý nghĩa: Đánh thức tâm lười biếng, trì trệ, giúp thần thức mạnh mẽ hướng về cõi Phật.

Tinh tấn hỷ lạc là động lực của muôn vàn thiện hạnh,
Dẫn dắt hành giả vượt thoát đại dương sinh tử luân hồi.
Nguyện cho hương linh phát khởi đại dũng lực tâm linh,
Thành tựu hạnh nguyện Tinh tấn Ba-la-mật không lui sụt.

5. Thiền Định Ba-la-mật (Concentration - Dhyāna)

  • Ý nghĩa: Làm lắng dịu sự hoảng loạn, điên đảo, phân tâm của hương linh trong cõi bardo (trung ấm).

Thiền định tịch tĩnh nhiếp phục tâm tán loạn,
Mang lại sự định tĩnh, làm chủ mọi dòng năng lượng.
Nguyện cho hương linh trú vào trạng thái nhất tâm bất loạn,
Thành tựu hạnh nguyện Thiền định Ba-la-mật thâm sâu.

6. Trí Tuệ Ba-la-mật (Wisdom - Prajñā)

  • Ý nghĩa: Phá tan màn sương mù vô minh vi tế (sở tri chướng), giúp hương linh nhận diện bản tánh tự nhiên để giải thoát.

Trí tuệ siêu việt thấu suốt bản thể tánh Không,
Quét sạch bóng tối của nhị biên và hai tầng che lấp (phần che lấp phiền não và sở tri).
Nguyện cho hương linh bừng sáng ánh sáng giác ngộ nguyên sơ,
Thành tựu hạnh nguyện Trí tuệ Ba-la-mật rốt ráo.

6. Trừ Độc (Giải Độc)

Hãy sái tịnh vật sở y (bài vị) bằng nước trong bình tịnh và trì tụng:
Tham ái, sân hận và si mê—
Đây là ba thứ độc (tam độc) của cõi thế gian.
Tam Bảo hoàn toàn thoát khỏi ba thứ độc này;
Nhờ chân lý của Tam Bảo, nguyện cho các độc tố đều được chuyển hóa và vượt qua!

Vào phần cuối của các bài thần chú, hãy thêm vào:

OM BENZA SATO HUNG + [TÊN HƯƠNG LINH]

Nguyện cho tất cả tam độc của người quá cố, cùng với toàn bộ nhân và quả của chúng, đều được tịnh hóa vẹn toàn—śāntiṃ kuru svāhā!

7. Trừ Độc Ngũ Đại (Giải Độc Các Yếu Tố Cấu Thành)

Hãy dùng từng yếu tố đại (tứ đại) để tẩy tịnh theo thứ tự và trì tụng:
Bốn yếu tố đại chính là cha của các món độc,
bốn yếu tố đại cũng chính là mẹ của các món độc.
Nhờ sự gia trì của Bốn Vị Đại Mẫu (Bốn vị Phật Mẫu tứ đại),
Hỡi người quá cố, nguyện cho hành giả được giải thoát khỏi các độc tố này!

Vào phần cuối của thần chú, hãy thêm vào:

OM BENZA SATO HUNG + [TÊN HƯƠNG LINH]

Nguyện cho tất cả các yếu tố đại của người quá cố cùng các độc tố phát sinh từ chúng đều được tịnh hóa vẹn toàn—śāntiṃ kuru svāhā!

8. Trao Truyền Quy Y

Người quá cố đảnh lễ và quy y Đạo sư, đấng bất nhị (không thể tách rời) với Đức Kim Cang Tát Đỏa—hiện thân trọn vẹn của các gia tộc thuộc Tam Gốc cùng các Tôn tượng Tịch tĩnh và Phẫn nộ.

Sau các lạy đảnh lễ, dù thực hiện theo nghi thức rộng rũ (chi tiết) hay giản lược, hãy trì tụng:

Con xin kính lạy Đạo sư Kim Cang Tát Đỏa,
Đấng hiện thân chân thật của Tam Bảo và Tam Gốc,
Người quá cố này, trong niềm sợ hãi tột cùng,
Xin đảnh lễ và dâng lòng quy y từ tận đáy lòng.
Nguyện cho hương linh được thoát khỏi luân hồi, khỏi khổ đau nơi ba đường ác,
Cùng lối đi hiểm nguy đầy cạm bẫm của cõi trung ấm (bardo),
Và tìm thấy sự an tịch giải thoát
Trong trạng thái Giác ngộ Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác!

9. Trao Truyền Quán Đảnh

Đối với nghi thức chi tiết, hãy thực hiện theo nghi quỹ thu nhận đệ tử.5 Tóm lược như sau:

Người quá cố tức thời biến hiện thành hình tướng của Đức Kim Cang Tát Đỏa vinh hiển. Từ giữa hai chân mày của Đạo sư Kim Cang Bất Động Như Lai (Vajra Akṣobhya), mạn-đà-la của Tam Tòa Toàn Hảo10 phóng xuất đầy khắp hư không, ngay lúc đó các vị Trí Tuệ Phật Mẫu liền trao truyền quán đảnh bằng nước cam lồ bồ-đề-tâm.

Oṃ. Đấng hiện thân vinh hiển của thảy chư Phật,
Bậc trì giữ ba kim cang bất nhị11 (không thể tách rời),
Ngay tại đây và lúc này, xin hãy ban dòng quán đảnh
Thân, Khẩu, và Ý của thảy chư Phật!

Vào phần cuối của các bài thần chú, hãy thêm vào:

OM BENZA SATO HUNG + [TÊN HƯƠNG LINH]

སྔགས་མཐར་ཀཱ་ཡ་ཝཱ་ཀ་ཙིཏྟ་ཨ་བྷི་ཥིཉྩཱ་མི།

kaya waka tsitta abhishintsa mi

kāya vāka citta abhiṣiñcāmi

Nhờ dòng quán đỉnh này, hai tầng che lấp (phiền não chướng và sở tri chướng) cùng với các tập khí (vô minh) của người quá cố đều được tịnh hóa vẹn toàn.
Trí tuệ của ba kim cang (Thân, Khẩu, Ý) được hiển lộ chân thật.
Phần nước cam lồ còn lại lưu trên đỉnh đầu ngưng tụ và biến hiện thành chiếc mũ báu Ngũ Trí Như Lai (Mũ Ngũ Phật), với Đức Bất Động Như Lai (Akṣobhya) làm tôn chủ trên đỉnh bối.
Sau đó, tất cả chư vị Bản tôn ban quán đảnh đang an trụ khắp hư không đều hòa nhập bất nhị (tan thành một) vào thân tâm của người quá cố.

ཨོཾ་སུ་པྲ་ཏིཥྛ་བཛྲཱ་ཡ་སྭཱ་ཧཱ་ཞེས་བརྗོད་ཅིང་མེ་ཏོག་འཐོར།

om supratishtha badzraya soha

oṃ supratiṣṭha vajrāya svāhā.

Trì tụng mantra trong khi rải hoa.

10. Cúng Dường Lục Trần (Diệu Dục Ngũ Quan)
Hãy tẩy tịnh và sái tịnh các vật phẩm cúng dường diệu dục bằng bài chú:

འདོད་ཡོན་གྱི་དངོས་པོ་རྃ་ཡྃ་ཁྃ་གིས་བསང་སྦྱང་།

ram yam kham

raṃ yaṃ khaṃ

ཨོཾ་ཨཱཿཧཱུྃ་ཧོཿ

om ah hung ho

oṃ āḥ hūṃ hoḥ

 

Nếu muốn thực hiện nghi thức một cách chi tiết, hãy gia trì các vật phẩm bằng thần chú và thủ ấn Hư Không Tạng. Hãy dâng cúng dường với lời nguyện:

Con xin dâng cúng các sắc tướng và âm thanh thù thắng, vi diệu nhất,
Cùng hương thơm, vị ngon và xúc chạm êm ái ngập tràn khắp không gian và thời gian,
Lên hành giả, bậc đã chứng đạt quả vị Đức Kim Cang Tát Đỏa—
Nguyện cho hương linh vĩnh viễn được viên mãn trong hỷ lạc và hạnh phúc vô lậu thanh tịnh!

ཨོཾ་བཛྲ་སཏྭ་པཉྩ་ཀཱ་མ་གུ་ཎ་པྲ་ཏཱི་ཙྪ་སྭཱ་ཧཱ།

om benza sato pentsa kama guna pratitsa soha

oṃ vajrasattva pañca kāma guṇa pratīccha svāhā

11. Chỉ Dẫn (Khai Thị) Cho Hương Linh

Hãy lắng nghe, hỡi người con của bậc đạo tâm (thiện nam tử/tín nữ), báo thân của hành giả ở cõi đời này nay đã tận.
Luân hồi (saṃsāra) là một khối khổ đau chất ngất,
Tự thân nó vốn biến dịch, duyên sinh, hữu vi và chẳng có gì ngoài hư vọng.
Hành giả sinh ra do nghiệp lực và nay phải chịu sự định đoạt của nghiệp lực,
Chính vì lẽ đó, hãy hoàn toàn buông xả mọi bám chấp, luyến ái.
Oai lực của các bậc Đạo
sư và Tam Bảo
Sẽ hiển lộ rõ ràng trước tâm thức của những ai có trọn vẹn lòng tin.
Vậy nên, hỡi người con của bậc đạo tâm, hãy phát khởi đại tâm thành kính sâu dày!

Vậy nên, hỡi người con của bậc đạo tâm, hãy phát khởi đại tâm thành kính sâu dày!
Ở phương Đông tính từ nơi đây,
Vượt lên trên mọi uế nhiễm của ba cõi sáu đường,
Là cảnh giới Tịnh độ tự tánh biến hiện hiện tiền
Được tôn xưng là cõi Diệu Hỷ (Abhirati),
Nơi Đạo
sư Kim Cang Bất Động Như Lai (Akṣobhya) đang ngự tọa
Cùng chư Phật vinh hiển, các bậc thánh tử (Bồ Tát) và quyến thuộc của Ngài.
Ngay khoảnh khắc hành giả khởi tâm hướng về Ngài,
Hương linh cũng sẽ tức thời được tiếp dẫn về cõi ấy.
Vì lẽ đó, hãy khởi sinh đức tin cùng lòng kính ngưỡng trọn vẹn, và nhất tâm trì niệm danh hiệu Ngài!
Ngay giây phút được chiêm ngưỡng dung nhan của Đấng Đạo Sư,
Hai tầng che lấp (phiền não chướng và sở tri chướng)
Sẽ lập tức được đoạn trừ và hành giả sẽ viên mãn đại giác ngộ!
Hãy rũ bỏ mọi niệm hoài nghi và tiến thẳng về cõi tịnh!

12. Di Thần Chuyển Tử (Pháp Phowa / Chuyển Di Tâm Thức)

Thần thức của người quá cố, trong hình tướng của chủng tự HŪṂ, phóng mạnh ra từ đỉnh đầu như một ngôi sao băng vụt sáng,
Và tiến thẳng về cõi tịnh độ tối cao Sắc Cứu Cánh Thiên (Akaniṣṭha).
Chủng tự ấy tan hòa vào điểm bất nhị (hợp nhất) giữa Đức Thế Tôn Kim Cang Tát Đỏa và Phật Mẫu (Consort), rồi bừng tỉnh giác ngộ như một bậc thánh tử (Bồ Tát) của chư Phật vinh hiển.

Quán tưởng sâu sắc điều này, hãy an trú trong trạng thái đại định (thiền định nhất tâm) giữa bầu không gian bao la nơi thể tánh giác biết và tánh Không bất khả phân.

13. Thiêu Hóa Bài Vị

Hãy quán tưởng rằng tấm bài vị (mà thần thức đã rời khỏi) đang được thiêu rụi bởi ngọn lửa trí tuệ:

Nhờ ngọn lửa của sự hợp nhất giữa thể tánh giác biết và tánh Không bất khả phân,
Bừng cháy thiêu rụi bên trong năm uẩn, mười hai xứ và mười tám giới của người quá cố,
Nguyện cho hành giả trọn vẹn tựu thành Tam thân (Ba thân Phật) và Ngũ trí (Năm trí tuệ),
Và viên mãn các hoạt động vì lợi lạc của chúng sinh!
Hãy trì tụng lời nguyện này, tiếp theo là bài thần chú, trong khi đang thiêu hóa bài vị.

14. Đúc Tượng Tsa-tsa

Một lần nữa, hãy quán tưởng một đĩa mặt trăng được bao quanh bởi một chuỗi vòng thần chú rực sáng phía trên phần tro cốt vừa thiêu hóa. Từ đĩa mặt trăng ấy, một dòng nước cam lồ (amṛta) trí tuệ tuôn chảy xuống, tịnh hóa toàn bộ các ác nghiệp và chướng ngại của người quá cố mà không để lại bất kỳ dấu vết nào.

Hãy quán tưởng điều này và sái tịnh phần tro cốt bằng nước trong bình tịnh trong khi trì tụng thần chú.

15. Lời cầu nguyện nguyện vọng

Trộn tro với nước thơm để tạo thành hỗn hợp sền sệt và ấn tsa-tsas trong khi tụng niệm thần chú trăm âm tiết. Rải hoa trong khi tụng niệm thần chú ye dharmā và tưởng nhớ rằng tất cả chư Phật luôn hiện hữu trong đó. Tụng niệm lời nguyện nguyện nguyện thiện hạnh6 hoặc những lời cầu nguyện nguyện vọng tương tự, có thể viết chi tiết hoặc rút gọn tùy theo hoàn cảnh, và tưởng nhớ rằng sự hoàn thiện, trưởng thành và thanh tịnh đã được hoàn thành. Sau đó, hãy tận hưởng bữa tiệc, dâng cúng phần còn lại và thực hiện các nghi lễ kết thúc theo kinh sách.

YE DHARMĀ MANTRA

 (OM / YE DHARMĀ / HETU-PRABHAVĀ / HETUṂ TEṢĀṂ / TATHĀGATO HYAVADAT / TEṢĀṂ CA YO NIRODHO / EVAṂ-VĀDĪ MAHĀ-ŚRAMAṘAḤ / SVĀHĀ)

Chư pháp nhân duyên sinh,
Pháp diệc nhân duyên diệt.
Thị sinh diệt nhân duyên,
Phật Đại Sa-môn thuyết

Các pháp đều phát sinh từ nhân duyên,
Đức Như Lai đã chỉ ra nguyên nhân của chúng.
Và ngài cũng chỉ ra phương pháp để đoạn diệt các nguyên nhân ấy,
Đó chính là giáo lý của bậc Đại Sa-môn (Đức Phật).

| Translated by Matthias Staber, reviewed by Han Kop and edited by Alexi Dhami and Barry Cohen for the Longchen Nyingtik Project, 2026.

Sources

’jam dbyangs mkhyen brtse'i dbang po, “rdo rje sems dpa' la brten pa'i bla ma mchod pa'i cho ga gzhan phan gyi phrin las dang bcas pa bde chen lam bzang.” In klong chen snying thig rtsa pod. BDRC W1KG13585 (Shechen Publications, 1994). Vol. 4, 211–258.

’jam dbyangs mkhyen brtse'i dbang po, "rdo rje sems dpa' la brten pa'i bla ma mchod pa'i cho ga gzhan phan gyi phrin las dang bcas pa bde chen lam bzang." In 'jam dbyangs mkhyen brtse'i dbang po'i bka' 'bum. BDRC MW3PD1002 (Khams sde dge rdzong sar dgon: Rdzong sar blo gros phun tshogs, 2014). Vol. 15, 477–529.

 

Version: 1.0-20260806

Notes

1- https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/jamyang-khyentse-wangpo/dorsem-ngon-ga-sadhana
2-
Support (rten) refers to a so-called tsenjang (mtshan byang) – an effigy, photograph or name card.
3- See the ablution ritual in The Heart of Great Bliss.
4- See the ablution ritual in The Heart of Great Bliss.
5- https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/jamyang-khyentse-wangpo/dorsem-ngon-ga-empwerment
6- https://www.lotsawahouse.org/words-of-the-buddha/samantabhadra-aspiration-good-actions
7- Từ "Tor" nghĩa là "rải ra", "bố thí" hoặc "phá vỡ bám chấp". Torma là loại bánh cúng hình chóp hoặc các hình thù nghệ thuật phức tạp đại diện cho thực phẩm tối thượng.
8- bánh cúng changbu: Người thực hành (hoặc hành giả) sẽ lấy một cục bột mì nhỏ, nắm thật chặt trong lòng bàn tay sao cho cục bột in rõ dấu năm ngón tay và vân tay của mình lên đó, tạo thành những gờ lồi lõm đặc trưng. Ở hai đầu cục bột thường được vuốt nhọn hoặc ấn dẹt thành hình cánh hoa/lá cờ nhỏ.
9- Hãy làm lắng dịu, tiêu trừ hoặc ban sự bình an tịch tĩnh viên mãn!".
10- Đây là một thuật ngữ Mật tông sâu sắc, chỉ cấu trúc mạn-đà-la hoàn hảo nơi uẩn-giới-xứ của tự tánh đều là Phật, gồm: tòa của chư Phật uẩn giới, tòa của chư Bồ Tát xứ căn, và tòa của chư Hộ pháp Không hành.
11- Ba kim cang ở đây là Thân Kim Cang, Khẩu Kim Cang, và Ý Kim Cang
12- Bốn Vị Đại Mẫu thanh tịnh (Four Great Mothers) trong Mandala (như Phật Mẫu Đất Locana, Phật Mẫu Nước Mamaki, Phật Mẫu Lửa Pandaravasini, Phật Mẫu Gió Samayatara).

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/jamyang-khyentse-wangpo/dorsem-ngon-ga-nedren