The Secret Female Practice from the Heart-Essence
of the Vast Expanse
Tác giả: Jigme Lingpa
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***
Tại nghĩa địa của sự giải thoát
tám thức,
Bậc Đại sĩ Padma đã được phó thác
Giáo pháp này bởi không hành nữ của
không gian bản nhiên,
Thông qua âm thanh của pháp tánh, các
tia sáng của pháp tánh
Vào mạn-đà-la của bầu không gian quang
minh thuộc pháp tánh.
Đối với mạn-đà-la bột
đỏ (sindūra):
Hãy thiết lập một hình Pháp Nguyên liên
hoa bất nhị (ngôi sao sáu cánh bao quanh bởi các cánh hoa sen),
Được vây quanh bởi các bãi tha ma, vòng
rào kim cương và núi lửa.
Thạch anh đặt ở tâm điểm và gương soi ở
vùng biên quy.[1]
Bày biện các vật phẩm cúng dường bên
trong và các thệ nguyện vật xuất sắc.
1. Quy Y và Phát Bồ
Đề Tâm
Hoḥ.
Con xin quy y nơi Đức Phổ Hiền Như Lai và Phật Mẫu — tánh thanh tịnh của tâm và
vạn pháp —
Với sự liễu tri rằng hiện tướng và tánh
không là bất khả phân.
Con xin phát Bồ đề tâm, với lòng bi mẫn
quảng đại hướng về chúng sinh
Và từ nội tại của tánh như chân thật
thuộc về pháp tánh.
2. Bánh Torma Sơ
Khởi (Preliminary Torma)
Hūṃ.
Trong bản tánh giác ngộ (Phật tánh), vốn không có cái gọi là chướng ngại
Hay chân lý về khổ đau.
Thế nhưng, từ những vọng niệm ngẫu sinh
Mà nguồn gốc của khổ đau xuất hiện dưới dạng mê lầm và ma chướng.
Hỡi tất cả các ngươi, hãy nhận lấy bánh torma này
Và rời đi — sang bờ bên kia của đại dương!
Trì tụng mantra với bốn tự mẫu hūṃs:
om sumbhani sumbhani hung | grihana grihana
hung | grihanapaya grihanapaya hung | anaya ho bhagawan bidyaraza hung pé
oṃ sumbhani sumbhani hūṃ | gṛhṇa gṛhṇa hūṃ |
gṛhṇāpaya gṛhṇapāya hūṃ | ānaya ho bhagavān vidyārāja krodha hūṃ phaṭ
3. Vòng Rào Bảo Hộ
Hūṃ.
Vọng tưởng khởi từ tâm, nhưng tự tánh của chúng là vô sinh.
Từ năng lượng quang minh bất đoạn của tâm khởi hiện vòng rào bảo hộ mang bảy
công đức kim cang —
Chính là đại tự tánh viên thành thật
Nơi chẳng thể bị tổn hại bởi các loài ma chướng thuộc về tự tánh y tha khởi và
biến kế sở chấp.
དྷརྨ་དྷཱརྟུ་བཛྲ་རཀྵ༔
dharmadhatu benza raksha
dharmadhātu vajra rakṣa
4. Gia Trì Vật Phẩm Cúng Dường
Hoḥ.
Bản chất của mọi hiện tượng thuộc thế giới tục đế,
Các vật phẩm cúng dường năm giác quan — sự hợp nhất giữa phương tiện và trí tuệ,
Đều được gia trì để trở thành cam lộ dược, torma và rakta (huyết cúng dường)
Và biến thành những phẩm vật cúng dường truyền thống, tựa như những tầng mây
cúng dường của Đức Phổ Hiền.
ཨོཾ་རཱུཔ་ ཤབྟ་ གནྡྷེ་ རཱ་ས་ པཪྴེ་
om rupa shabta gendhé rasa parshé
oṃ rūpa śabda gandhe rāsa sparśa
ཨརྒྷཾ་ནས་ཤབྟ་དྷརྨ་དྷཱརྟུ་ཨཱ༔ཧཱུྃ༔
argham padam pupé dhupé aloké gendhé nevidé
shabta dharmadhatu a hung
arghaṃ pādyaṃ puṣpe dhūpe āloke gandhe
naivedye śabda
ཨོཾ་མ་ཧཱ་པཉྩ་ཨ་མྲྀ་ཏ་ཨཱ༔ཧཱུྃ༔
om maha pentsa amrita a hung
oṃ mahā pañcāmṛta āḥ hūṃ
ཨོཾ་མ་ཧཱ་རཀྟ་ཨཱ༔ཧཱུྃ༔
om maha rakta a hung
oṃ mahā-rakta āḥ hūṃ
ཨོཾ་མ་ཧཱ་བྷ་ལིཾ་ཏ་ཨཱ༔ཧཱུྃ༔
om maha bhalimta a hung
oṃ mahā balimta āḥ hūṃ
Thus bless the offerings with the mantras of
the medicine, rakta and torma.
5. Thiền Quán Bổn Tôn Yoga Khế Hợp Với Sự
Thanh Tịnh Toàn Vẹn
Āḥ. Từ
ba tam-ma-địa (tam muội) là tánh không,
Vô tướng và vô nguyện,
Trong bầu không gian của kim cang vương mẫu thuộc sự giải thoát hoàn toàn,
Khởi hiện một hình tướng quang minh tánh không của một Pháp Nguyên liên hoa bất
nhị (ngôi sao sáu cánh).
Tại tâm điểm, trong tim sen trên tòa nhật nguyệt — đại diện cho phương tiện và trí tuệ,
Là một chủng tử tự A vô sinh, bất hoại,
Chủng tử này tự chuyển hóa thành "thể bình trẻ trung" tự tánh tự khởi
Của Đức Vô Ngã Phật Mẫu (Nairātmya), hiện tướng nhưng tánh không, với tất cả
các giác quan vẹn toàn viên mãn.
Thân tướng của Ngài màu xanh
dương, sắc màu của pháp tánh bất động.
Ngài mang đầu sư tử, nuốt chửng ba cõi (tam giới).
Tay phải Ngài cầm dao cong, chặt đứt tánh nhị nguyên.
Tay trái Ngài nâng bát sọ người chứa đầy máu, tận diệt sinh tử từ tận gốc rễ.
Tựa trên khuỷu tay Ngài là cây
trượng khát-vạn-ga (khaṭvāṅga) với chùy kim cương ba chấu.
Trượng được trang hoàng bằng trống nhỏ (damaru) và chuông linh, hoàn hảo trong
cấu trúc,
Và là bất khả phân với nam phối ngẫu — phương tiện thiện xảo tối cao của đại lạc.
Ngài có hai chân, chân phải co lại, phong tỏa các cửa ngõ tái sinh trong luân hồi
(saṃsāra),
Và chân trái duỗi ra, oai nghiêm và nhiếp phục bốn loài ma (tứ ma).
Ngài khoác trên mình các trang
sức bằng xương, biểu thị cho sự viên mãn của sáu ba-la-mật-đa (lục độ),
Và đội vương miện sọ khô được trang hoàng bằng năm khế ấn.
Ngài đeo một tràng chuỗi sọ người, biểu trưng cho sự thanh tịnh của năm mươi
tâm sở,
Và đắp một tấm da sư tử, chặt đứt tận gốc rễ của lòng kiêu mạn.
Trên sáu
nan hoa là sáu vị bổn tôn lai,
biểu trưng cho sự thanh tịnh của lục căn và lục trần,
Theo chiều kim đồng hồ và bắt đầu từ
phía trước, các Ngài là:
Nữ Thần Đầu Chim Mù, sắc đen và không
bám chấp vào sắc tướng;
Nữ Thần Đầu Chim Khách, sắc xanh dương
đậm và không bám chấp vào âm thanh;
Nữ Thần Đầu Ngỗng, sắc cam và không bám
chấp vào mùi hương;
Nữ Thần Đầu Chim Mu, sắc xanh lá đậm và
không bám chấp vào mùi vị;
Nữ Thần Đầu Chim Cốc, sắc đen và không
bám chấp vào xúc chạm;
Và Nữ Thần Đầu Kền Kền, sắc trắng và tự
tại du hý trong không gian bản nhiên của vạn pháp.
Tất cả các Ngài đều cầm một con dao
cong chặt đứt tánh nhị nguyên
Và một bát sọ người chứa đầy máu để hòa
nhập tham lam và sân hận vào không gian bản nhiên.
Oai nghiêm đứng trong tư thế chiến sĩ
trên tử thi của tánh vô phân biệt (vô tưởng),
Các Ngài ở trong thân tướng khỏa thân,
được trang hoàng bằng các thứ trân bảo và năm khế ấn.
Trên các
cánh hoa sen là ba mươi hai không hành nữ (ḍākinīs),
Được vây quanh bởi các loài linh thần
kiṃkara, laṅkā, các nữ thần īśvarī và các địa mẫu Tenma.
Với bốn khế ấn (mudrās) và ở trong trạng
thái của ba kim cang (Thân - Khẩu - Ý),
Các Ngài đầy oai lực, thần thông và được
ấn chứng bằng một nửa chùy kim cang (bán kim cang).
Vô sinh và tự tánh tự khởi, tất cả đều
được quán tưởng như là đại tự tánh viên thành thật.
6. Thỉnh Mời
Hūṃ. Mặc
dù trong tánh như của không gian bản nhiên, bậc đại giản đơn,
Chẳng có khái niệm về sự đến hay lời thỉnh
mời đến,
Nhưng từ sự hiển hiện của Sắc thân
(Rūpakāya) — hiện tướng của lòng bi mẫn,
Xin Ngài hãy giáng lâm nơi đây, trong sự
hợp nhất bất khả phân vĩ đại giữa Thệ nguyện tôn (Samaya-being) và Trí tuệ tôn
(Wisdom-being).
ཨོཾ་སེང་ཧ་མུ་ཁ་ཧཱུྃ་ཧ་ཧེ་ཕཊ་ཛ༔
om senghamukha hung ha hé pé dza
oṃ siṃhamukhā hūṃ ha he phaṭ jaḥ
7. Thỉnh Các Vị Bổn Tôn An Tọa
Hūṃ. Mặc
dù từ bản sơ, Thệ nguyện tôn và Trí tuệ tôn vốn không hề nhị nguyên,
Nhưng để tịnh hóa và gột sạch các khách trần vọng tưởng
Thông qua sự định tâm vào việc viên mãn hiện tướng rõ ràng như những Phật thân
của các Bổn tôn,
Nguyện xin trí tuệ quang minh của tuệ giác thấu suốt vững bền an trú.
བཛྲ་ས་མ་ཡ་ཏིཥྛ་སྭཱཧཱ༔
benza samaya tishta soha
vajra-samaya tiṣṭha svāhā
8. Đảnh Lễ
Hūṃ. Từ
Pháp thân (Dharmakāya) vô sinh, một nguồn năng lượng quang minh bất đoạn bùng tỏa,
Khởi hiện thành vị Báo thân (Saṃbhogakāya) Sư Diện Không Hành Nữ (Siṃhamukhā).
Trong uy vũ phẫn nộ (kiêu hãnh) của Ngài, Ngài chính là đấng tận diệt tâm ngã
chấp:
Với sự đảnh lễ bằng việc trực nhận thực tướng (kiến tính), con xin dập đầu đỉnh
lễ Ngài!
ཨ་ཏི་པུ་ཧོ༔ པྲ་ཏཱི་ཙྪ་ཧོ༔
ati pu ho | pratitsa ho
atipu hoḥ | pratīccha hoḥ
9. Cúng Dường
Hoḥ. Hiện
tướng viên mãn như chư Phật là Đại thủ ấn (mudrā) cúng dường;
Âm thanh viên mãn như trì tụng mật chú là bản kim cương liên khúc;
Hương thơm tối thượng của giới luật là mùi hương của hươu xạ;[2]
Sáu vị ngon là các diệu dục giác quan của hội đàn gaṇacakra;
Và xúc chạm được thọ nhận như đại lạc kim cang trong không gian bản nhiên
Vốn là cội nguồn của vạn pháp, bầu không gian của kim cang vương mẫu;
Sự hợp nhất của E và Vam, cam lộ dược, torma và rakta (huyết cúng dường),
Cùng các tia sáng của Bồ đề tâm, tất cả đều bùng tỏa tựa như những tầng mây
cúng dường của Đức Phổ Hiền:
Xin hãy nạp thọ lễ cúng dường vĩ đại, hoan hỷ này, vượt thoát mọi bám chấp dự
phần hay khước từ!
ཤྲཱི་བཛྲ་སེང་ཧ་མུ་ཁ་རཱུ་པ༔ ཤབྟ་གྷནྡྷེ་རཱ་ས་པཪྴེ་ཨརྒྷཾ་པཱ་དྱཾ་པུཥྤེ་དྷཱུ་པེ་ཨཱ་ལོ་ཀེ་གནྡྷེ་ནེ་ཝི་ཏྱ་ཤབྟ་སརྦ་པཉྩ་རཀྟ་བྷ་ལིཾ་ཏ་དྷརྨ་དྷཱརྟུ་ཧོ༔
shri benza sengha mukha rupa shapta ghendhé
rasa parshé | argham padam pupé dhupé aloké gendhé nevidé shabta | sarva pentsa
rakta bhalingta dharmadhatu ho
śrī-vajra siṃhamukhā rūpa śabda gandhe
rāsa sparśa | arghaṃ pādyaṃ puṣpe dhūpe āloke gandhe naivedye śabda | sarva
pañca rakta baliṅta dharmadhātu hoḥ
10. Tán Thán
Hūṃ. Tự
tánh của Ngài là đại lạc, vậy mà Ngài lại thị hiện dưới nhiều hình tướng khác
nhau.
Với tiếng gầm sư tử của tánh vô ngã, Ngài nhiếp phục tâm bám chấp vào cái tôi.
Ngài hòa nhập mọi khái niệm về chủ thể và hành động vốn trói buộc vào tâm và vạn
pháp
Vào trong không gian bản nhiên được trang nghiêm bằng vô thượng công đức — con
xin kính cẩn đảnh lễ Ngài!
Hiện tướng và tánh không bất khả
phân, hỡi Kim Cang Vương Mẫu của Không Gian Bản Nhiên:
Ngài nâng tay cầm dao cong và bát sọ người để hòa nhập tham lam và sân hận vào
không gian bản nhiên
Cùng cây trượng khát-vạn-ga (khaṭvāṅga) chặt đứt tận gốc rễ của các căn trần,
Và vị nam phối ngẫu của phương tiện thiện xảo tối cao mà Ngài vốn là bất phân —
con xin dâng lời tán thán Ngài!
Mọi nhóm tâm thức, cùng nhân và
quả của sự sinh khởi luân hồi (saṃsāra),
Đều hòa nhập vào bầu không gian đại lạc vượt thoát năng sở (chủ thể và đối tượng)
—
Đến các Ngài, sáu vị nữ thần lai của không gian bản nhiên thuộc về trí tuệ,
Những bậc chủ tể của hai mươi tư thánh địa, con xin dâng lời tán thán!
11. Trì Chú
Định tâm quán tưởng vào vị Bổn
tôn chính là giai đoạn Năng cận (Năng tu);
Định tâm quán tưởng vào vị Bổn tôn chính cùng quyến thuộc của Ngài là giai đoạn
Cận cận (Thân cận).
Tinh tấn trì tụng mật chú là giai đoạn Thành tựu,
Và sự bùng tỏa cùng thâu nhiếp các tia sáng chính là giai đoạn Đại thành tựu.
Tại tâm luân của con, trên tòa đĩa mặt trời là chủng tử tự Hūṃ,
Được bao quanh bởi chuỗi mật ngôn Năng cận, vi tế
tựa như một sợi tóc.
ཨོཾ་བཛྲ་སིངྷ་མུ་ཁ་ཧཱུྃ་ཧ་ཧེ་ཕཊ༔
om benza singhamukha hung ha hé pé
oṃ vajra siṃhamukhā hūṃ ha he phaṭ
Để đủ điều kiện thực
hành các hoạt động (nghi quỹ/pháp tu), hãy trì tụng thần chú một trăm nghìn lần
cho mỗi âm tiết của thần chú.[3]
Nếu giai đoạn tiếp cận (approach phase) được tính theo thời gian, thì thời lượng
thực hành sẽ bằng khoảng thời gian đó nhân lên bốn lần.[4]
Hãy quán tưởng thần
chú thành tựu xoay ngược chiều kim đồng hồ như một thanh củi đang cháy đỏ được
quay tròn, phát ra những tia lửa lửa tung tóe.
ཨ༔ཀ༔ས༔མ༔ར༔ཙ༔ཤ༔ད༔ར༔ས༔མ༔ར༔ཡ༔ཕཊ྄༔
a ka sa ma ra tsa sha da ra sa maraya pé
a ka sa ma ra ca śa da ra sa māraya phaṭ
Các tia sáng bùng tỏa ra ngoài,
dâng vật phẩm cúng dường lên các bậc Chiến Thắng (chư Phật),
Rồi thâu nhiếp ngược trở lại lực gia
trì và các thành tựu của các Ngài.
Một lần nữa các tia sáng lại tỏa ra, tịnh
hóa nghiệp lực và các phiền não tàn phá của chúng sinh.
Những kẻ thù của sự bám chấp vào sáu trần
như là các hiện tượng phàm tình
Cùng các thế lực chướng ngại của chủ thể
năng sở và các tư duy vọng tưởng
Đều được gột sạch vào trong môi trường
và chúng sinh của sự thanh tịnh toàn vẹn.
Tổng
số biến trì tụng, dựa trên số lượng hoặc thời gian, đều tuân theo như trước.
Một dấu hiệu cho thấy bạn đã viên mạn
giai đoạn Năng cận
Là bạn sẽ thuần thục (chứng ngộ) để trở
thành một trong bốn bực Trì Minh Vương (Vidyādharas).
Pháp hành trì (Nghi thức kết nguyện được
thực hiện theo bản văn chính của Phật Mẫu Yumka).
Các Giai Đoạn Kết Nguyện: Tiệc Cúng Dường và
Sự Viên Mãn
Trong tất cả các phương pháp để tích lũy công đức, hội
đàn gaṇacakra (tiệc cúng dường) là tối thắng. Các thệ nguyện vật (samaya
substances) có năng lực thu hút các không hành nữ (ḍākinīs), và đặc biệt là các
vật phẩm cúng dường bên trong, cần phải được sắp đặt một cách hoàn hảo.
Gia Trì Vật Phẩm Tiệc Cúng
Hoḥ! Trong
chiếc đồ hình diệu kỳ của đại lạc,
Những phẩm vật tuyệt hảo của tiệc cúng dường (gaṇacakra) đã được bày biện,
Đều là những thệ nguyện vật (samaya substances) vượt thoát mọi bám chấp dự phần
hay khước từ.
Bằng việc trì tụng Oṃ Āḥ Hūṃ, tất cả được chuyển hóa thành cam lộ dược
(amṛta).
Dâng Phẩm Vật Tiệc Cúng (Gaṇacakra)
Chia phần đầu tiên của phẩm vật tiệc cúng thành ba
phần.
Hūṃ! Cõi Vô Thượng (Akanishta) cùng các cõi thiên giới khác,
Những thánh địa nơi các bậc dũng sĩ[5]
(dakas) và không hành nữ (ḍākinīs) hội tụ,
Cùng hai mươi tư trú xứ biến hiện[6],
Về mặt nội tại, tất cả chính là những thành trì trong thân kim cang (vajra
body) của chúng ta.
Tâm Luân[7]
(Mạch Luân Của Tâm)
Đỉnh đầu là thánh địa
Jālandhara[8],
Điểm giữa hai chân mày là thánh địa Pullīramalaya[9],
Các kinh mạch và đại chủng ở sau gáy là thánh địa Arbuda,
Bạch hào[10] (lông trắng giữa hai chân
mày) là thánh địa Rāmeśvara,
Tai phải là vùng đất Uḍḍiyāna (Ô-trượng-na),
Tai trái là cõi giới Godāvarī,
Hai mắt là thánh địa Devīkoṭa,
Và hai vai là thánh địa Mālava. Hỡi các Ngài, những bậc đang cư ngụ tại tám trú
xứ này —
Hỡi các bậc Dũng sĩ và các bậc
Nữ hành giả (Yoginīs),
Các Không hành nam (Ḍākas) và các Không hành nữ (Ḍākinīs) —
Xin hãy giáng lâm và thọ nhận tiệc cúng dường này!
Những búi tóc trên đỉnh đầu các Ngài khẽ lay động,
Những lọn tóc dài đong đưa qua lại,
Những chiếc khuyên tai, vòng chân và vòng tay ngân vang lách cách,
Những trang sức bằng xương kêu lách cách, những chiếc chuông nhỏ reng vang,
Hòa cùng tiếng vang vọng của trống sọ nhỏ (Damaru) và chuông linh,
Xin hãy hoan hỷ thọ nhận những khúc kim cang ca và những điệu vũ của chúng con!
Chúng con xin dâng lên các Ngài
sự thọ nhận các diệu dục giác quan này như một tiệc cúng!
Chúng con xin sám hối về những khiếm khuyết đối với các thệ nguyện samaya!
Xin hãy giải thoát các chướng ngại bên ngoài và bên trong vào bầu không gian
bao hàm tất cả!
Xin hãy ban cho chúng con các thành tựu tối thắng và thông thường!
Khẩu Luân[11]
(Mạch Luân Của Lời Nói)
Báo
luân[12]
(Mạch luân thọ hưởng ở cổ họng) là thánh địa Lampāka,
Hai nách và hai cật (thận) là thánh địa Kāmarūpa,
Hai bầu ngực là thánh địa Oḍra,
Luân xa rốn là thánh địa Triśakuni,
Đầu mũi là thánh địa Kośala,
Vòm họng là vùng đất Kaliṅga[13],
Và tâm luân (trái tim) là thánh địa Kāñcī,
Cùng dãy núi Himālaya[14].
Hỡi các Ngài, những bậc đang cư ngụ tại tám trú xứ này —
Các bậc Dũng sĩ và các bậc Nữ hành giả (Yoginīs),
Các Không hành nam (Ḍākas) và các Không hành nữ (Ḍākinīs) —
Xin hãy giáng lâm và thọ nhận tiệc cúng dường này!
Tóc búi trên đỉnh đầu của Ngài
đung đưa,
Mái tóc dài tung bay qua lại,
Khuyên tai, vòng chân và vòng tay ngân vang,
Những trang sức bằng xương va chạm lách cách, những chiếc chuông nhỏ reo ngân,
Trống sọ nhỏ và chuông cùng hòa tiếng vọng,
Xin hoan hỷ với những khúc ca kim cương và điệu vũ của chúng con!
Chúng con dâng lên Ngài sự thọ hưởng những lạc thú của
các giác quan này như một cúng phẩm tiệc hội (gaṇacakra/feast)!
Chúng con sám hối những khiếm khuyết và vi phạm đối
với samaya (tam-muội-da, giới nguyện mật thừa)!Xin giải thoát mọi chướng ngại
bên ngoài và bên trong vào trong không gian bao la vô ngại!
Xin ban cho chúng con các thành tựu tối thượng và
các thành tựu thông thường!
Thân Luân [15](Mạch
Luân Của Thân)
Cơ quan sinh dục là vùng đất
Pretapurī,
Hậu môn là vùng đất Gṛhadevatā,[16]
Các ngón chân cái là thánh địa Maru và hai đùi là thánh địa Saurāṣṭra,
Hai bắp chân là vùng đất Suvarṇadvīpa (Kim Châu),
Mười sáu ngón tay và ngón chân là thánh địa Nagara,[17]
Hai đầu gối là thánh địa Kulatā,
Và hai cổ chân là vùng đất Sindhu. Hỡi các Ngài, những bậc đang cư ngụ tại tám
trú xứ này —
Các bậc Dũng sĩ và các bậc Nữ hành giả (Yoginīs),
Các Không hành nam (Ḍākas) và các Không hành nữ (Ḍākinīs) —
Xin hãy giáng lâm và thọ nhận tiệc cúng dường này!
Tóc búi trên đỉnh đầu của Ngài
lay động,
Mái tóc dài đung đưa qua lại,
Khuyên tai, vòng chân và vòng tay ngân vang,
Những trang sức bằng xương va chạm lách cách, những chiếc chuông nhỏ reo ngân,
Tiếng trống sọ nhỏ và tiếng chuông cùng vang vọng,
Xin hoan hỷ với những khúc ca và điệu vũ Kim Cương của chúng con!
Chúng con dâng lên Ngài sự thọ
hưởng những lạc thú của các giác quan này như một tiệc hội cúng dường (gaṇacakra).
Chúng con sám hối những tổn
khuyết và vi phạm đối với samaya (giới nguyện Mật thừa).
Xin giải thoát mọi chướng ngại
bên ngoài và bên trong vào trong không gian bao trùm tất cả.
Xin ban cho chúng con các thành
tựu tối thượng và các thành tựu thông thường.
Sám Hối
Để bổ sung một pháp hành trì viên mãn vào tiệc cúng dường, hãy trì tụng đoạn
sau:
Hoḥ! Hỡi hội chúng trí tuệ không hành nữ (ḍākinīs), xin hãy đoái hoài đến
con!
Dưới sự chi phối của tham lam, sân hận và si mê (tam độc),
Con đã phạm phải những lỗi lầm về thân, khẩu và ý, những điều mà con xin công
khai phát lộ và sám hối.
Do chịu sự ảnh hưởng của Hạ thừa (giáo lý thấp hơn),
Con đã không thể thực chứng được chân lý đích thực, điều mà con xin công khai
thừa nhận và sám hối.
Bởi con kém thiếu lòng bi mẫn
và bị sân hận chi phối,
Con đã không thể hành động vì lợi lạc của chúng sinh, điều mà con xin công khai
thừa nhận và sám hối.
Do chịu sự ảnh hưởng của lười biếng và dã dại (ngủ gà),
Con đã rời xa thiền định và pháp hành trì, điều mà con xin công khai thừa nhận
và sám hối.
Do chịu sự ảnh hưởng của bỏn xẻn và ích kỷ,
Con đã không thể thực hiện các lễ cúng dường hàng tháng hay hàng năm, điều mà
con xin công khai thừa nhận và sám hối.
Do chịu sự ảnh hưởng của kiêu mạn và ngạo nghễ,
Con đã làm tổn hại đến Thân, Khẩu, Ý của vị Thầy (Guru), điều mà con xin công
khai thừa nhận và sám hối.
Do kém thiếu tình thương và lòng từ bi,
Con đã làm phiền lòng bạn bè cùng những người huynh đệ tỷ muội đồng tu, điều mà
con xin công khai thừa nhận và sám hối.
Do chịu ảnh hưởng từ những người bạn xấu ác,
Con đã làm ô nhiễm phần phẩm vật đầu tiên và biến nó thành đồ dư thừa, điều mà
con xin công khai thừa nhận và sám hối.
Qua lỗi lầm làm hạ thấp phẩm vật đầu tiên và biến nó thành đồ dư thừa,
Con đã làm phiền lòng những bậc thọ nhận phần phẩm vật đầu tiên, điều mà con
xin công khai thừa nhận và sám hối.
Do đã làm phiền lòng những bậc thọ nhận phần phẩm vật đầu tiên,
Con đã phải gánh chịu quả báo khắc nghiệt theo mật lệnh của các không hành nữ (ḍākinīs),
điều mà con xin công khai thừa nhận và sám hối.
Khi thực hiện pháp giải thoát, do lòng bi mẫn của con quá ít ỏi,
Con đã thiếu năng lực để đưa chúng sinh đến một cõi giới tốt đẹp hơn, điều mà
con xin công khai thừa nhận và săn hối.
Do không thể giải thoát các phiền não,
Con đã biến chúng thành những chướng ngại kiên cố lâu dài, điều mà con xin công
khai thừa nhận và sám hối.
Trong quá trình thực hành pháp song vận, do sự định tâm thiền định của con thiếu
năng lực,
Con đã làm phiền lòng vị phối ngẫu của mình, điều mà con xin công khai thừa nhận
và sám hối.
Do đã làm phiền lòng vị phối ngẫu,
Con đã khởi tâm bám chấp và tạo ra nhân tái sinh trong luân hồi (saṃsāra), điều
mà con xin công khai thừa nhận và sám hối.
Giờ đây khi con đã thành tâm sám hối, nguyện xin các Ngài ban cho con các thành
tựu về Thân, Khẩu, Ý giác ngộ!
Bằng cách sám hối từ tận đáy lòng, những lỗi lầm và
sự đứt gãy đối với thệ nguyện samaya sẽ đều được hoàn phục (phục hồi hoàn
toàn).
Hồi Hướng Phẩm Vật Dư Thừa
Phun nước bọt lên phần phẩm vật dư thừa.[18]
ཨོཾ་ཨཱ་ཀཱ་རོ་མུ་ཁཾ་སརྦ་དྷརྨ་ནཱཾ་ཨཱ་དྱ་ནུ་ཏྤནྣ་ཏྭ་ཏ་ཨོཾ་ཨཱཿཧཱུྃ་ཕཊ་སྭཱ་ཧཱ༔
om akaro mukham sarva dharmanam
adyanutpannatota om ah hung pé soha
oṃ ākāro mukhaṃ sarvadharmānām
ādyanutpannatvāt oṃ āḥ hūṃ phaṭ svāhā
Peṃ! Hỡi
tất cả các vị thị giả thọ nhận phần đồ dư và thực thi mật lệnh:
Ba mươi hai vị không hành nữ (ḍākinīs),
Bậc đại Kim Cang Nhi (kiṃkara) cùng phối ngẫu và hàng trăm nghìn Lăng-già Quỷ Thần (laṅkā
spirits),
Ba trăm sáu mươi bộ tộc quỷ thần truyền
lệnh,
Tứ Đại Tốc Thần và Bát Đại Sí Thần,
Thất Đại Mẫu Thần và Tứ Tỷ Muội Hộ
Pháp,
Cùng các loài linh thần phẫn nộ, du
hành và các vị thần lai [19]—
Các Ngài là những bậc thọ nhận vật phẩm
dư thừa và tuần du khắp các hội đàn,
Xin hãy nạp thọ phần phẩm vật dư thừa
tuyệt hảo này!
Xin hãy xua tan mọi nghịch duyên, hoàn
cảnh tiêu cực và ma chướng!
Nhiếp phục và thành tựu các mật hạnh đã
được giao phó, đây là lời cung thỉnh của chúng con!
Mang phẩm vật dư thừa ra bên ngoài.
Hūṃ! Xin hãy trỗi dậy, hỡi tất cả các vị
Bản tôn trong chúng hội không hành nữ!
Từ không gian bản nhiên bao hàm vạn
pháp (Pháp giới), xin hãy hiển hiện trong các sắc thân!
Hãy đập tan mọi chướng ngại trên con đường
thành tựu giác ngộ của chúng con!
Hãy ngăn chặn sự suy thoái của các đại
chủng nơi môi trường và trong tâm thức chúng sinh!
Hãy chữa lành mọi sự suy yếu trong hệ
thống kinh mạch, phong khí (năng lượng gió) và sự tỉnh giác bản nhiên của chúng
con![20]
Nguyện xin cho pháp hành trì của chúng
con sớm đơm hoa kết trái!
Khởi
phát thệ nguyện
Hūṃ!
Trong trạng thái hằng hữu siêu việt ba thời,
tại
thanh tịnh tự hiển hiện của cõi Vô Thượng,
Ngài
– bậc Thầy cùng quyến thuộc của ba tòa viên mãn,
đã
chuyển bánh xe Pháp bất hoại cực kỳ mật nhiệm.
Ba
cõi của chư thiên vốn tự do khỏi sự bám chấp vào các hiện tượng là chân thật,[21]
được
tuyên thuyết là nơi khởi nguồn của các bộ tantra.
Trong
tri kiến của những hóa thân đệ tử có phúc duyên,
các
giáo pháp mật tông xuất
hiện một cách tự nhiên.
Vào
một dịp như thế, tại hồ Tsogyal Latso gần Dragda,[22]
tâm
thức của Đấng Rangjung Dorje[23] vinh hiển
đã
được các ḍākinī của ba nơi (thân,
khẩu, ý) ban phước.
Không
chút dính mắc hay bám chấp, Ngài đã giải mã các ký tự biểu tượng
và khai lộ kho tàng dung chứa vô tận này. Ngay
lập tức,
mọi ảo tưởng đều được tịnh hóa vào trong nền tảng (thanh tịnh nguyên sơ).
Duy
trì Mối hệ thuộc với Mười hai Nữ thần Tenma[24]
Hūṃ! Các
vị quyến thuộc vâng lệnh Đấng Vinh Hiển, hộ trì cõi đất Tây Tạng,
Hàng Mẫu Thần (Mātṛkā) và các chị em — Mười hai Nữ thần Tenma,
Xin hãy vân tập và nạp thọ nước sái tịnh torma này,
Và viên thành các hoạt động (Phật sự) mà chúng con thỉnh cầu!
མ་མ་ཧྲིཾ་ཧྲིཾ་བྷ་ལིངྟ་ཁཱ་ཧི༔
ma ma hring hring balingta khahi
ma ma hriṃ hriṃ baliṅ te khāhi
Vũ điệu Kim Cang Mã bộ (Mã Vũ)
Hūṃ! Trong
đàn tràng maṇḍala của trí tuệ ḍākinī này,
Tất cả những loài linh thức khiến chúng con phá vỡ thệ nguyện samaya và dẫn dắt
chúng con vào đường lầm lạc,[25]
Đều bị trấn áp, chôn vùi bên dưới dấu ấn của chín cỗ
xe giáo pháp (Cửu thừa).
Nguyện cho chúng không bao giờ có thể trỗi dậy được nữa!
སྟྭཾ་བྷ་ཡ་ནན༔
tom bhayanen
sthaṃ bha ya nen
Trì tụng những việc cúng dường và cầu nguyện ở đây.
Nạp thọ các Thành tựu (Siddhi)
Hoḥ! Ngay
lúc này, chính trong buổi sáng hôm nay,
các thệ nguyện samaya của pháp tu hành trì ḍākinī đã
viên mãn!
Giờ đây, thời khắc ban truyền các thành tựu cho chúng con đã đến!
Từ đàn tràng maṇḍala của trí tuệ nguyên sơ vô trụ,
Xin hãy ban cho chúng con sự hợp nhất với thân, khẩu, ý giác ngộ của Ngài, cùng
mười lực và các năng lực mạnh mẽ —
Ngay bây giờ, chính trong quốc độ khoảnh khắc này!
ཨོཾ་བཛྲ་སེང་ཧ་མུ་ཁ་ཧཱུྃ་ཧ་ཧེ་ཕཊ྄་བཛྲ་ཀཱ་ཡ་ཝཱཀྐཱ་ཙིཏྟ་སརྦ་སིདྡྷི་ཕ་ལ་ཧོ༔
om benza senghamukha hung ha hé peé benza
kaya waka tsita sarva siddhi pala ho
oṃ vajra-siṃhamukhā hūṃ ha he phaṭ
vajra-kāya-vāk-citta-sarva-siddhi-phala hoḥ
Các vật phẩm thành tựu (siddhi) được nếm thử,
sau đó chạm vào ba nơi (trên thân).
Sám hối Lỗi lầm trong Hành trì
Hūṃ! Trong đàn tràng maṇḍala của trí
tuệ ḍākinī này,
Nếu phẩm vật cúng dường của chúng con chưa vẹn toàn, sự hành trì còn lơ là xao
nhãng,
Hay việc thiền định bị dã dượi, hôn trầm hoặc thiếu đi sinh khí,
Cúi xin Ngài từ bi bao dung và tha thứ cho mọi lỗi lầm, vọng tưởng ấy.
(Tụng trì Chú Trăm
Chữ / Thần chú Bách Tự Minh)
ཨོཾ་བཛྲ་སཏྭ་ས་མ་ཡ༔ སོགས་བརྗོད༔
om benza sato samaya…
oṃ vajrasattva samayam…
Giai đoạn Viên mãn
Hoḥ. Như bọt nước hiện rồi tan trên dòng suối,
Các bổn tôn của mạn-đà-la tự hiển hiện
Tan hòa trở lại vào không gian của trí tuệ nguyên sơ — vajra muḥ!
Trong trạng thái sau thiền định (hậu đắc trí), mọi hiện tượng đều khởi lên như
sắc tướng huyễn hóa của bổn tôn.
Hồi hướng Công đức
Hoḥ!
Trong mạn-đà-la của tuệ trí không hành nữ (ḍākinī),
Bằng việc thực hành các giai đoạn sinh khởi, viên mãn và trì tụng,
Bất kỳ cội nguồn công đức nào con có được
Con xin hồi hướng cho sự giác ngộ của tất cả chúng sinh!
Nguyện ước (Phát nguyện)
Hoḥ! Tất
cả những gì hiển hiện và tồn tại đều là cõi tịnh độ và
Vajrayoginī (Kim Cang Du Già Nữ), đại lạc bất biến.
Vajravārāhī (Kim Cang Hợi Mẫu), đấng thực sự được ban phước với những phẩm tính
tối thượng nhất,
Nguyện cho chúng con được diện kiến chân diện mục của Ngài và chứng đắc giác ngộ!
Cầu nguyện Cát tường
Hoḥ! Nhờ sự gia trì của dòng truyền
thừa các bậc trì minh vương (vidyādharas),
Và nhờ chân lý của Phật, Pháp và Tăng,
Cùng sự tương tùy cát tường của Mật ngôn thừa thâm diệu:
Nguyện cầu mọi điều kiết tường,
để tức tai tám nỗi sợ hãi!
Nguyện cầu mọi điều kiết tường, để tăng trưởng thọ mạng và công đức!
Nguyện cầu mọi điều kiết tường, để hoài phục mọi tri giác!
Nguyện cầu mọi điều kiết tường, để tịnh trừ các thế lực tiêu cực, mê lầm!
Với mọi bám chấp vào tri giác đều được chuyển hóa và viên mãn thành sắc tướng của
bổn tôn,
Mọi âm thanh đều được thanh tịnh hóa thành đại lạc của chân ngôn,
Mọi tư tưởng đều được chín muồi thành quang minh của pháp thân —
Nguyện cầu mọi điều kiết tường, để chúng con chứng đắc thân cầu vồng trong suốt!
Hãy trì tụng thêm các bài nguyện cát tường, dài hay
ngắn tùy ý.
Pháp tu mật truyền của Siṃhamukhā này. Vô cùng thâm sâu, vì thế cần phải được giữ kín. Trong những văn tự biểu tượng của các ḍākinī, Các dòng truyền thừa của chư Chiến Thắng (Phật), các thủ trì tỉnh giác (vidyādhara) và các hành
giả đều được viên mãn đầy đủ.
Samaya.
Ấn. Ấn. Ấn.
Được niêm phong bằng ấn thâm mật và ấn bí mật.
Bản văn này được giải mã từ những ký tự biểu tượng
được viết trên một lá thư vàng mang hình dạng chim ưng.
| Translated by Han
Kop,
reviewed by Matthias
Staber and edited by Catherine Paul, for the Longchen
Nyingtik Project, 2023. With many thanks to Khenpo
Sonam Tsewang for his kind assistance.
Source
'Jigs med gling pa. "gsang sgrub - klong chen snying
gi thig le las/ yum ka'i gsang sgrub seng ge'i dong can", in klong
chen snying thig rtsa pod. New Delhi: Shechen Publications, 1994. Vol. 1:
557–572.
Version: 1.2-20250219
[1] Ở
đây có một phép chơi chữ đối với từ mạn-đà-la trong tiếng Tây Tạng là
‘kyilkhor’, trong đó kyil (dkyil) có nghĩa là tâm điểm và khor (‘khor) có nghĩa
là vùng biên quy (ngoại vi). ↑
[2] Mùi hương của hươu xạ được coi là tuyệt hảo.
Khenpo Sonam Tsewang giải thích rằng ở đây người ta tin rằng khi một người giữ
gìn giới luật thanh tịnh, nghĩa là người đó hoặc sống độc thân hoặc đã thành thạo
kỹ thuật yoga giữ tinh dịch, thì hương thơm của người đó sẽ vô cùng đặc biệt. ↑
[3] Câu thần chú có mười một âm tiết, vậy có
nghĩa là được niệm 1,1 triệu lần. ↑
[4] I.e.,
the time taken for reciting the required number of mantras. ↑
[5] Skt vīra;
Tib. pawo (dpa’ bo) ↑
[6] Có những cách liệt kê hai mươi bốn địa điểm
linh thiêng hơi khác nhau tùy theo các trường phái Mật tông khác nhau, chẳng hạn
như Mật tông Hevajra và Mật tông Cakrasaṃvara. Ở đây, truyền thống nổi tiếng nhất
của Mật tông Cakrasaṃvara được tuân theo.
[7] Skt. cittacakra ↑
[8] Để biết thêm thông tin về hai mươi bốn địa
điểm linh thiêng, xem David B. Gray, The Cakrasamvara Tantra: A Study and
Annotated Translation (American Institute of Buddhist Studies, 2007), trang
54-62.
[9]
Theo truyền thống Cakrasaṃvara Tantra, Pullīramalaya tương ứng với vùng đầu. Dường
như đây là điểm khác biệt nhỏ duy nhất giữa sự liệt kê trong văn bản này và sự
liệt kê được thấy trong truyền thống Cakrasaṃvara Tantra.”
[10] Skt.
ūrṇākośa; vòng lông xoắn giữa hai lông mày, một trong ba mươi hai tướng tốt lớn
của một vị Phật.
[11] Skt. vākcakra ↑
[12] I.e.,
cổ họng / the throat ↑
[13] Theo truyền thống của Mật tông Cakrasaṃvara,
miệng được nhắc đến ở điểm này. ↑
[14]
Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà bộ phận cơ thể tương ứng với Himālaya lại bị bỏ
sót, vì dường như trong truyền thống của Cakrasaṃvara
Tantra đã tồn tại nhiều quan điểm khác nhau về sự tương ứng này. Có thể
đó là vùng đáy chậu (perineum).
[15] Skt. kāyacakra ↑
[16]
Tên địa danh thực sự có thể là Pañcāla
[17] Mặc
dù có vẻ kỳ lạ khi giải thích câu này theo cách khác ngoài việc xem đó là sự ám
chỉ đến mười sáu ngón tay và ngón chân, Ratön Ngawang Tendzin Dorje cho rằng nó
chỉ đề cập đến tám ngón chân (“một nửa của mười sáu”). Quan điểm này có lý, bởi
vì các địa điểm được nhắc đến trong luân xa thân (body wheel) tương ứng với phần
thân dưới, chân và bàn chân. Có lẽ Ratön Ngawang Tendzin Dorje nhận thức được rằng
cách giải thích của mình sẽ gây tranh luận, nên ông đã đưa ra thêm các trích dẫn
từ Cakrasaṃvara Tantra và từ tác phẩm Commentary on the Vajraḍākinī (Chú
giải về Kim Cương Không Hành Nữ) để hỗ trợ cho lập luận của mình.
[18] Cần
lưu ý rằng việc này chỉ nên được thực hiện bởi một vị Kim Cương Thượng sư
(vajra master) đã chứng ngộ ở mức độ rất cao; trên thực tế, ngay cả một bậc
thành tựu giả như vậy cũng rất có thể sẽ không thực hiện nghi thức này. Trong
trường hợp đó — cũng như khi không có mặt một vị Kim Cương Thượng sư đã chứng
ngộ như thế — người ta sẽ dùng amṛta thay cho nước bọt.
[19]
Những linh thể có thân người nhưng đầu thú, thường là đầu chim. Trong tiếng Tây
Tạng gọi là Tramen (phra men).
[20] Tib. Wangtang (dbang
thang).
[21]
Trong phần chú giải từng từ của mình, Gönpo Tseten Rinpoche cho biết rằng đây
là Năm Tịnh Thiên, cõi Hoan Hỷ (Skt. Tuṣita) và cõi Trời Ba Mươi Ba.
[22]
Thung lũng Drak, hay Dragda (Tib. sgrags mda’), nơi
sinh của Yeshe Tsogyal, nằm cách Lhasa khoảng ba mươi kilômét về phía đông nam.
[23] I.e., Jigme
Lingpa ↑
[24] Skt.
Sthāvarā, Tib. Tenma (brtan/bstan ma). ↑
[25] Các
tinh linh damsi
(dam sri)
được đề cập trong dòng này là một loại tinh linh si
(ma trùng) có nguồn gốc từ những hành giả phá vỡ thệ nguyện samaya của họ. ↑

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét