Thứ Hai, 22 tháng 6, 2026

NHƯ GIỮA KHÔNG GIAN KIM CANG - CA NGỢI VĂN THÙ DIỆU ÂM

Like the Middle of Vajra Space - In Praise of Mañjuvajra

Tác giả: Mipham Rinpoche
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển


***

Oṃ. Kính Lễ Đức Văn Thù Diệu Âm!

1- Ngài là cha của tất cả những đấng Chiến Thắng (Chư Phật),
Nhưng lại hóa hiện trong thân tướng một vị hoàng tử trẻ trung—
Trường tồn, kiên định, vượt ngoài già nua và suy vi,
Hiện diện khắp nơi trong vô số cõi giới khôn lường.

2- Ôi Đức Văn Thù Diệu Âm (Mañjuśrī), dù chư Phật và các bậc kế thừa
Khắp không gian và thời gian đã từng tán thán Ngài,
Thì vẫn là điều không thể nào truyền tải hết được
Toàn bộ chiều sâu các phẩm tính giác ngộ của Ngài.

3- Ê-ma! (Kỳ diệu thay!) Chỉ thông qua con đường Trung đạo,
Tánh khởi duyên sinh của vạn vật pháp giới,
Vượt lên trên hai cực đoan thường kiến và đoạn kiến,
Thì sắc tướng chân thật của Ngài mới có thể được tri nhận.

4- Bằng không, những ai mang tri kiến phàm tình
Sẽ chẳng bao giờ chiêm bái được sắc thân vi diệu của Ngài.
Những ai nhìn nhận Ngài như một thực thể vật chất
Thì không thể thấy được Chân thân (Kāya) đích thực nơi Ngài.

5- Ngài không phải sắc trắng, cũng chẳng phải sắc xanh,
Không phải màu cam, màu lục, hay màu đen.
Chẳng một sắc màu nào của thế gian phàm tục này
Có thể đại diện được cho Ngài một cách trọn vẹn.

6- Ấy vậy mà Ngài vẫn hiển hiện trong các sắc tướng
Với vô số dải màu sắc biến hóa khôn lường:
Trắng, đen, lục, xanh, cam,
Và những sắc màu tương tự, thật kỳ diệu xiết bao!

7- Dẫu cho Ngài thật sự chẳng có mặt, chẳng có diện mục,
Không tay, không chân, không thân mình hay tứ chi,
Ngài vẫn xuất hiện khắp mọi cõi giới
Trong nhiều hiện thân khác nhau, khi tịch tĩnh, lúc uy mãnh

8- Dẫu Ngài là hiện thân của tánh bình đẳng tuyệt đối
Của tất cả các pháp trong sinh tử lẫn niết bàn,
Ngài vẫn thiện xảo hiển lộ ngay trong cõi thế gian này
Con đường thù thắng dẫn đến sự tịch tĩnh—thật kỳ diệu thay!

9- Chẳng thể nào tìm ra điểm khởi đầu hay kết thúc
Của các cõi giới hữu vi sai biệt,
Thế mà Ngài vẫn luôn hiện diện khắp thảy mọi nơi,
Và vì vậy, Ngài chân thật bao la quảng đại.[1]

10- Dù có thần thông và năng lực chuyển dịch không ngừng,
Cũng chẳng ai có thể đi xuyên qua hết thảy hư không.
Ấy vậy mà nơi nào có không gian thì nơi đó có Ngài,
Và vì vậy, Ngài chân thật rộng lớn khôn cùng.

11- Chỉ với một cái liếc nhìn từ đôi mắt Ngài,
Ngài thấu suốt tánh bình đẳng của muôn pháp sở tri
Khắp mười phương và trong cả ba đời,
Và vì vậy, Ngài là bậc vô song, không ai sánh kịp.

12- Cõi giới của chúng sinh là bất khả tư nghì
Và chư Như Lai cũng nhiều đông vô số.
Vì Ngài biến mãn khắp tất cả những pháp sở tri
Vô tận này, nên Ngài cũng hiện thân trùng trùng điệp điệp.

13- Khi mỗi vị đạo sư dẫn dắt vô số chúng sinh
Và thiết lập họ trong trạng thái tịch tĩnh an bình,
Thì ngay trong mạn-đà-la bất tăng bất giảm ấy,
Ngài tự tại an vui trong hỷ lạc thuần khiết.

14- Vì không hiểu rõ vạn vật vốn là Không,
Nên chúng ta mới lưu lạc trong cõi sinh tử tầm thường.
Nhưng ngay cả khi ta chứng ngộ được chân lý Tính Không,
Thì vạn vật cũng chẳng khác gì so với trước kia.

15- Do đó, khi Ngài quán chiếu tất cả những điều này,
Thì có ai thật sự bị trói buộc vào cõi hữu vi?
Trong tự tánh vượt ngoài sự trói buộc và giải thoát,
Làm sao sự giam cầm và tự do lại hiển hiện như vậy được?

16- Nếu một pháp thật sự có thể sinh khởi,
Thì chánh pháp đó sau này mới có thể hoại diệt.
Và từ đó, người ta mới có khả năng
Nghĩ tưởng về sự trói buộc và giải thoát.

17- Thế nhưng, vì những gì chưa từng sinh khởi
Vốn dĩ không
thật, chỉ hiển hiện như thể được sinh ra,
Lại thiếu vắng cả phần trung
đạo lẫn các cực đoan,
Thì làm sao nó có thể hao mòn hay tăng trưởng?

18- Những ý niệm về không gian và thời gian,
Dù có rộng lớn đến dường nào đi nữa,
Cũng đều là không
thật—vậy thì, tại sao

19- Cứ như thế, trong trạng thái bình đẳng tuyệt đối này,
Chẳng có sự phân biệt kỳ thị giữa
Tự thân và tha nhân, giữa sinh tử và tịch tĩnh,
Và đó chính là Chân thân tối hậu của Ngài.

20- Nếu không thấu hiểu được tánh bình đẳng này,
Người ta sẽ bị mê lầm bởi trăm điều sai quấy,
Liên quan đến cội nguồn và tận cùng của các cõi giới,
Về sự sinh thành, tầm vóc, tính không, tính chẳng phải không, và nhiều hơn thế.

21- Trong trạng thái này, cũng như đối với khởi đầu và kết thúc,
Tận cùng hư không cũng chỉ như lòng bàn tay;
Vàng ròng và đất cát tầm thường chân thật bình đẳng;
Chư Phật và chúng sinh vốn dĩ là một.

22- Cứ như thế, vì muôn pháp vốn dĩ bình đẳng,
Nên chúng mới có thể hiển hiện như đang là.
Sự chứng ngộ Pháp giới (Basic space) vượt ngoài tư nghì này
Sẽ đập tan ảo tưởng về cả sinh tử lẫn tịch tĩnh.[2]

23- Pháp giới tối hậu, nơi không còn sự thối chuyển
Và vượt ngoài mọi ngôn từ diễn đạt—chính nhờ điều này
Mà tất cả chúng sinh đều có thể đạt được niềm tin sâu sắc nhất
Nơi các phẩm tính giác ngộ vượt ngoài tư nghì của Ngài.

24- Dù là thực thể có thật hay không có thật
Cũng đều chẳng thể tìm thấy được khi ta quán chiếu sâu xa.
Chính những pháp đang sinh khởi kia bản tính vốn là Không;
Chẳng có tánh
Không nào khác tồn tại ngoài các pháp ấy.

25- Vì "Không" nghĩa là chính pháp này trống rỗng,
Và chính bản thân pháp này lại là tự tánh Không kia,
Nên sẽ chẳng bao giờ có bất kỳ sự biệt lập nào
Giữa hiện tượng (Sắc) và Tánh Không.

26- Do đó, tất cả những pháp sở tri
Đều bình đẳng tuyệt đối về phương diện này:
Ngay trong giọt tinh túy (Tila) duy nhất của hiện tượng tánh không,
Chúng hiển hiện thành những diệu pháp bất khả tư nghì.

27- Xuyên suốt toàn bộ không gian và thời gian,
Không một pháp nào đi chệch khỏi thực tại duy nhất này:
Đó chính là Pháp giới của tự tâm giác ngộ tự sinh,
Chính là Đức Văn Thù, vị Trí
Tánh Hữu Tình (Jñānasattva / Bậc mang thân trí tuệ).

28- Bằng niềm tin kiên định không bao giờ phai nhạt,
Nhờ đó con có thể thọ nhận dự phần
Dù chỉ một phần nhỏ nhoi của không gian vô tận,
Chính là giọt tinh túy (Bindu) bất biến trong tim,

29- Nơi có chủng tự A () tan chảy,
Nguồn cội của mọi sự diễn đạt vô tận,
Dựa trên chủng tự KA và tất cả những phần còn lại,[3]
Con xin dâng lời tán thán tối thượng lên Đức Kim Cang Văn
Thù Diệu Âm (Mañjuvajra).

(Chú giải: Nghĩa là, tất cả những ngôn từ biểu đạt liên quan đến muôn pháp vô hạn cần biểu đạt đều có thể được thâu nhiếp vào trong một chủng tự A () duy nhất. Ngoài ra, niềm tin ở đây tương hợp với sự chấp nhận giáo lý thâm sâu và tiếp nhận nhãn quan của một trí tuệ siêu việt; đó là niềm tin kiên cố vào ý nghĩa của tánh bình đẳng tối thắng, bất biến, nơi mà mọi thứ đều "tan chảy" vào trong một trạng thái duy nhất không thể diễn tả bằng lời—tương tự như việc cô đọng cả không gian bao la thành một phần nhỏ nhoi).

30- Nguyện cho những ai nghe thấy hoặc tuyên đọc bài kệ này
Sẽ khiến Đức Văn Thù tự tại hoan hỷ ngay trong tâm khảm,
Mang lại năng lực tổng trì (Đà-la-ni) vô tận,
Biện tài vô úy và trí tuệ kiên định bất thối chuyển.

31- Nhờ vào công đức từ những lời tán thán của con
Và chân lý bất nhị bất biến này,
Vốn là tinh túy của các giáo pháp Đại thừa,
Nguyện cho con nhanh chóng chứng đắc Trí Tuệ Thân (Wisdom-kāya).

32- Vô cùng thâm sâu, là cánh cửa dẫn vào các đà-la-ni,
Và mang theo sự xác tín chắc chắn về tánh bình đẳng,
Đây chính là lời tán thán tối hậu trong tất cả các lời tán thán
Dâng lên Đức Văn Thù — hiện thân của Trí Tuệ Thân tối thắng.

Mipham, người lấy tâm nguyện hướng về giáo pháp yoga của Đức Kim Cang Văn Thù Diệu Âm tối thượng làm đạo lộ, đã sáng tác bài tán thán này vào khoảng năm hai mươi tuổi. Tính cả những câu kệ kết bài được thêm vào lúc sao chép, số lượng đoản ca (śloka) của tác phẩm này nhiều bằng số lượng các tướng hảo tuyệt vời của một vị Phật.[4] Nguyện cầu vạn điều cát tường, thiện lành! Maṅgalam.

 

| Translated by Adam Pearcey, 2022.

 

Bibliography

Tibetan Edition

mi pham. "'jam pa’i rdo rje la bstod pa rdo rje nam mkha’i dkyil lta bu" In bka' ma shin tu rgyas pa. 120 vols. Chengdu: KaH thog mkhan po 'jam dbyangs, 1999. Vol. 1: 53–60

 

Version: 1.1–20220816

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/mipham/like-middle-space-manjushri-praise


[1] Thuật ngữ Tây Tạng shin tu ring po, được dịch ở đây là ‘chân thật bao la quảng đại’, mang một lớp nghĩa đôi: xét theo ngữ cảnh thì cụm từ này dường như ám chỉ đến phạm vi thời gian và biểu thị cho sự trường thọ, nhưng nó cũng có thể dùng để chỉ vóc dáng, mà trong trường hợp này Ngài Mipham đang nói đùa một cách hóm hỉnh rằng Đức Văn Thù hẳn phải rất cao lớn. ↩
[2] Nghĩa đen là ‘làm sụp đổ hang động giả tạo của sinh tử và tịch tĩnh’.
[3] ka () là phụ âm đầu tiên trong bảng chữ cái tiếng Tây Tạng.
[4] Đức Phật sở hữu ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp tùy hình (ba mươi hai tướng hảo và tám mươi vẻ đẹp tùy hình).

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét