- Và Những Công Đức, Lợi Ích To Lớn Khi Trì Tụng
The Praise to Tārā with
Twenty-One Verses of Homage, and the Excellent Benefits of Reciting the Praise
Tác giả: Lời của
Đức Phật
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***
Ấn ngữ:
Tārā-namas-kāraika-viṃśati-stotra-guṇa-hita-sahita
Tạng ngữ: Drolma la chak tsal nyishu tsa chik gi töpa penyön
dang chepa (sgrol ma la phyag ‘tshal nyi shu rtsa gcig gis bstod pa phan yon
dang bcas pa)
Anh ngữ: The Praise to Tārā with Twenty-One Verses of
Homage and the Excellent Benefits of Reciting the Praise
***
Oṃ. Kính lễ thánh giả tôn quý Tārā!
Kính lễ Đức Tara, bậc mau lẹ và anh dũng,
Kính lễ Đức Tuttārā, đấng diệt trừ mọi
kinh sợ,
Kính lễ Đức Turā, đấng thành tựu mọi sở
nguyện,
Nguyện dùng lời "Svāhā" dâng
lên sự tán thán và cúng dường.[1]
Kính lễ Đức Tara, đấng mau lẹ và dũng mãnh,
Ánh mắt Ngài chớp sáng như những tia
chớp giữa trời;
Ngài sinh khởi trên trái tim của đóa
sen đang nở rộ,
Vươn lên từ những giọt lệ của Đấng Tôn
Chủ Ba Cõi. (1)
Kính lễ đấng
dung nhan rạng ngời,
Tựa trăm vầng trăng
thu viên mãn cùng hội tụ;
Mỉm cười, tỏa chiếu
ánh quang minh chói lọi,
Như ngàn vì sao quần
tụ, rực cháy huy hoàng.(2)
Kính lễ Thánh Nữ sắc vàng rực sáng,
Tay sen thanh nhã nâng đóa ưu-bát-la
xanh biếc;
Ngài là hiện thân của hạnh bố thí, tinh
tấn và chịu đựng,
Cùng tịch tĩnh, nhẫn nhục và thiền định
sâu xa. (3)
Kính lễ đấng có những chiến thắng vô tận,
Bảo châu trên đỉnh bảo quan của các Như
Lai vĩ đại;
Ngài được phụng sự và tôn kính bởi
những người con của các Đấng Chiến Thắng
Những bậc đã viên mãn mọi Ba-la-mật (hạnh toàn thiện). (4)
Kính lễ Ngài, với âm tuttāra và Hūṃ,
Lan tỏa khắp cõi dục đến tận cùng hư
không;
Ngài hàng phục dưới chân bảy thế giới[2],
Và có uy lực triệu thỉnh tất cả.
(5)
Kính lễ Ngài, được Đế
Thích tôn xưng,
Cùng Hỏa Thần, Phạm Thiên, chư Marut[3]
và Đại Tự Tại Thiên;
Các loài tinh linh, quỷ thần, hương
thần và dạ-xoa,
Hết thảy đều cung kính cúng dường và
tán thán Ngài. (6)
Kính lễ Ngài, dùng thần
âm Traṭ và Phaṭ,
Phá tan mọi pháp trận
(yantra)[4] của chướng ma thành
tro bụi;
Chân phải thu vào, chân trái uy nghi
duỗi rộng,
Tỏa hào quang giữa biển lửa cuồn cuộn
dâng cao. (7)
Kính lễ Ture, Thánh Nữ uy nghiêm đáng kính,
Đấng tiêu diệt những ma quân hùng mạnh
nhất;
Dung nhan tựa đóa sen nở rộ, nhưng chân
mày khẽ nhíu sâu,
Ngài là bậc hàng phục mọi kẻ thù không
sót một ai. (8)
Kính lễ Ngài, tay kết nơi tim ấn Tam Bảo,
Biểu lộ Phật, Pháp, Tăng nhiệm mầu;
Bánh xe trang nghiêm khắp mọi phương
hướng,
Quang minh chói lọi, chiếu khắp không
gian.[5] (9)
Kính lễ Ngài, đấng hoan hỷ tối thượng,
Bảo quan rực rỡ tỏa những tràng hào
quang;
Mỉm cười và cất tiếng cười vang, với âm
Tuttāre,
Ngài điều phục ma quân và các thế giới. (10)
Kính lễ đấng có
năng lực triệu thỉnh
Đoàn tùy tùng là các vị thần bảo hộ thế gian.
Ánh nhìn phẫn nộ của ngài khẽ lay động, cùng âm tự hūṃ
Cứu độ chúng con thoát khỏi mọi tai ương. (11)
Kính lễ Đấng Tối Thượng, bậc được trang
nghiêm rực rỡ,
Đội trên vương miện mảnh trăng non.[6]
Mái tóc Ngài được tôn nghiêm bởi Đức
Phật A Di Đà,
Từ đó những tia sáng chói ngời tuôn
chảy mãi không ngừng. (12)
Kính lễ Đấng ngự giữa hào quang rực cháy,
Trong vòng lửa thiêu đốt tất cả, như
tận thế giáng lâm.
Chân phải duỗi thẳng, chân trái co vào,
An lạc nghiền nát vòng xoáy của mọi kẻ
thù. (13)
Kính lễ Đấng lấy hai lòng bàn tay đập xuống
mặt đất,
Và dậm mạnh đôi chân đầy uy lực.
Mày Ngài nhíu chặt, với âm HŪṂ hùng
mãnh,
Đập tan bảy tầng địa giới thành tro
bụi. (14)
Kính
lễ Đấng an lạc, từ hòa và tịch tĩnh,
Ngự trong cảnh giới bình an của
Niết-bàn.
Với OṂ và SVĀHĀ hợp nhất viên mãn,
Ngài tiêu diệt mọi điều ác dữ kinh
hoàng. (15)
Kính lễ Đấng chìm trong niềm hỷ lạc siêu việt,
Đập tan thân thể của mọi kẻ thù.
Ngài hiện khởi từ chủng tự trí tuệ HŪṂ,[7]
Và hiển bày trọn vẹn mười âm của chân
ngôn Ngài. (16)
Kính lễ TURE, đấng dũng mãnh dậm chân xuống
đất,
Hiện thành từ chủng tự HŪṂ.
Núi Tu-di, Mandara và Vindhya[8],
Cùng toàn thể ba cõi đều rung chuyển
bởi oai lực của Ngài. (17)
Kính lễ Đấng tay cầm vầng trăng có hình con
nai,
Thanh tịnh như hồ nước thiêng của chư
thiên.
Với hai lần xưng danh TĀRA rồi đến
PHAṬ,
Ngài hoàn toàn tẩy trừ mọi độc tố và
nhiễm ô. (18)
Kính lễ Đấng được tôn kính bởi các vị thiên
vương,
Bởi chư thiên và các Kiṃnara.[9]
Khoác lên mình áo giáp hỷ lạc và quang
huy,
Ngài xua tan ác mộng và làm lắng dịu
mọi xung đột. (19)
Kính lễ Đấng có đôi mắt sáng ngời,
Rực rỡ như vầng nhật nguyệt tròn đầy;
Hai lần xướng Hara cùng với Tuttāre,
Ngài tiêu trừ mọi dịch bệnh, ác tật hiểm nghèo. (20)
Kính lễ Ngài, bậc có năng lực giải thoát,
Hiển bày chân thực tại dưới hình thức
ba phương diện.
Ture tối thượng, Ngài hoàn toàn tiêu
diệt
Mọi đoàn quân graha[10],
vetāla[11]
và yakṣa[12].
(21)
Bài Tán thán với
hai mươi mốt kệ ngôn lễ kính này
Chính là căn bản mật chú (gốc chú).
Lợi ích Thù thắng của
Bài Tán than
Bậc trí giả thành tâm
trì tụng những lời này,
Với lòng sùng mộ chân thật hướng về Đức Bản tôn, (22)
Vào lúc hoàng hôn, và khi thức dậy vào lúc
bình minh,
Người nào nhớ tưởng (đến Ngài) sẽ được
ban cho sự vô úy;
Họ sẽ hoàn toàn tiêu trừ mọi ác nghiệp,
Và vượt qua tất cả những cảnh giới bất
thiện. (23)
Bảy mươi triệu chư Phật chiến
Thắng
Sẽ nhanh chóng ban sự gia trì và quán
đảnh cho họ;
Họ sẽ đạt được sự rộng
lớn trong thế gian này,
Và chứng đến quả vị Phật tối thượng.
(24)
Ngay cả những chất độc cực mạnh và nguy hiểm
nhất,
Dù phát sinh từ thực vật hay các loài
hữu tình,
Cho dù được ăn vào hay uống vào,
Đều sẽ được tiêu trừ hoàn toàn nhờ nhớ
tưởng bài tán thán này. (25)
Tụng đọc bài tán thán này hai, ba hoặc bảy
lần[13],
Sẽ tiêu trừ vô số khổ đau
Do tà linh, dịch bệnh và chất độc gây
ra;
Điều này cũng có lợi ích đối với những
chúng sinh khác nữa. (26)
Người cầu con cái sẽ được con cái;
Người cầu tài sản sẽ được tài sản;
Mọi nguyện ước đều sẽ được thành tựu,
Và mọi chướng ngại sẽ hoàn toàn tan
biến, không còn nữa. (27)
Đến đây viên mãn bài Tán thán Đức Tôn Thắng Mẫu Tārā
(Bhagavatī Tārā) do chính Đức Phật Chính Biến Tri (Chính Đẳng Chính Giác) tuyên
thuyết[14].
This completes the
Praise to Bhagavatī Tārā as spoken by the completely perfect Buddha.13
| Translated by Samye Translations (trans. Stefan Mang, Peter Woods, and Ryan Conlon, ed. Libby Hogg) with the kind assistance of Adam Pearcey, 2019. Revised with the kind assistance of Rigpa Translations, 2025.
https://www.lotsawahouse.org/words-of-the-buddha/twenty-one-tara-praise
[1] Tên đầy đủ của nghi thức là Tinh túy của Hai Sự Tích lũy: Nghi thức cho Thực hành Bên ngoài Chi tiết và Ngắn gọn cùng với Lễ quán đảnh (dgongs gter sgrol ma'i zab tig las/ phyi sgrub rgyas bsdus rig gtad dang bcas pa'i cho ga tshogs gnyis snying po). Vì cách sắp xếp này không bao gồm phiên bản ngắn gọn của nghi thức hoặc lễ quán đảnh, nên chúng đã được lược bỏ khỏi tiêu đề ở đây. ↑
[2] chỉ
bảy tầng thế giới hoặc toàn thể các cảnh giới trong vũ trụ theo cách diễn tả biểu
tượng của kinh điển Ấn Độ. Ý chính là năng lực vượt trội của Tara đối với mọi
cõi giới.
[3] Maruts là các vị thần gió trong tín ngưỡng
Vệ Đà. ↑
[4] Từ yantra (’khrul ’khor) dùng để chỉ một dụng cụ hoặc thiết bị cơ khí khác (đặc biệt là loại dùng trong chiến tranh), hoặc một sơ đồ ma thuật. Nó bắt nguồn từ gốc tiếng Phạn √yam, nghĩa là “kiểm soát”.
[5] Đức
Tārā mang (các) dấu tướng bánh xe ngàn căm trên (các) bàn tay (và bàn chân) của
Ngài — dấu tướng đầu tiên trong số 32 tướng tốt của một bậc chính đẳng chính
giác (Phật).
[6] Một số ấn bản ghi là zla ba’i rtse mo, nghĩa đen là “đỉnh mặt trăng”, thay vì zla ba’i dum bu, nghĩa đen là “một mảnh trăng”.
[7] Các bản tiếng Tây Tạng khác nhau ghi là
sgrol ma hoặc sgron ma. Dựa trên biến thể này, các tác giả Tây Tạng diễn giải
câu này theo nhiều cách khác nhau, có thể là “bạn hiện ra từ” (sgrol ma) hoặc
“bạn tỏa sáng với” (sgron ma) âm tiết trí tuệ hūṃ. ↑
[8] Ngay cả những ngọn núi vĩ đại, kiên cố hay ngạo
mạn nhất vũ trụ cũng đều rung chuyển và quy phục trước thần lực cứu độ của Đức
Tara.
[9] Khẩn
Na La (tiếng Tây Tạng: mi’am ci) là một nhóm chúng sinh bán thần nổi tiếng với
tài năng âm nhạc, được mô tả dưới hình tướng nửa người nửa ngựa, hoặc nửa người
nửa chim."
[10] Các
Graha (gdon - tinh linh chấp trì/ma chướng) là một loại tinh linh
tà ác được biết đến là gây ra ảnh hưởng tổn hại lên cả thân và tâm của con người.
Các Graha có mối liên hệ chặt chẽ với các hành tinh và các thiên thể
khác. ↑
[11] Các
Vetāla (ro langs - thây ma khởi tử/quỷ nhập tràng) là một loại
tinh linh gây hại chuyên lảng vãng tại các nghĩa địa, chúng có thể chiếm đoạt
và làm sống dậy các tử thi. ↑
[13] Chỉ
dẫn này đã hình thành nên truyền thống trì tụng bài Tán thán trước hết là hai lần,
tiếp theo là ba lần, và cuối cùng là bảy lần. Chúng ta có thể tìm thấy điều này,
ví dụ như, trong nghi quỹ Zabtik Drolchok (zab tig sgrol chog -
Thâm Tích Độ Mẫu Nghi Quỹ). ↑
[14] Xin
lưu ý rằng phần vĩ chú (colophon) này có sự khác biệt giữa các phiên bản tiếng
Tây Tạng khác nhau. Ở đây chúng tôi đang căn cứ theo bản kinh thuộc Đại Tạng
Kinh Kangyur bộ Degé (Degé Kangyur) của bài Tán thán này (ký hiệu T 438). ↑

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét