(trích từ Vima Nyingtik)
Trong ngôn ngữ Ấn Độ: buddha-dhekaramadhu-nāma
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
Đảnh lễ Đại Kim Cang Trì (Vajradhara), vị Phật thứ sáu, bậc Giác
ngộ hoàn toàn và viên mãn!
Kyema!
Kyema!
Hỡi
các người con của dòng dõi cao quý, hãy thâu nhiếp và củng cố những điểm then
chốt của toàn bộ Mật Chú Bí Mật, và hãy tu tập theo phương cách sau đây.
Về
các pháp chuẩn bị của thân, khẩu và ý:
Hãy tu tập về vô
thường, bi mẫn và Bồ-đề tâm.
Vì thân này được sinh
khởi từ vô minh duyên khởi,
Nên sáu lớp hiện diện
trong các chủng tử tự.
Vì
tự tánh minh giác (rigpa) trong thực tánh chính là ba thân,
Nên ba thân hiển lộ
thành ba âm tiết.
Hãy tu tập nơi ba âm
tiết, và thực hành sự phân biệt rõ ràng (rushen).
Sau đó, để đưa đến an
trụ trong trạng thái an nhiên chân thật,
Hãy làm sống dậy (tăng
cường) bằng các cách nhìn (ánh nhìn quán chiếu)
của Thanh văn, Bồ-tát
và các bổn tôn phẫn nộ.
Khi đã đạt được niềm
tin nơi sự an trụ, vững chắc và tự tại,
Hãy buông bỏ mọi tạo
tác, cả bên ngoài lẫn bên trong,
Và an trụ trong các
oai nghi của voi, sư tử và bậc hiền triết.
Về
khẩu, hãy dừng lại dòng nói năng.
Về tâm, từ khoảng giữa
hai chân mày, hãy an trú nơi hư không.
Bằng việc thuận theo
các điểm then chốt của các cửa (giác quan), đối tượng và hơi thở,
Trí tuệ thanh tịnh
nguyên sơ được hiển lộ ngay trong trường (kinh nghiệm).
Chớ
rời khỏi điểm then chốt của sự hiển lộ trực tiếp.
Với nền tảng là ba
phương diện bất động,
Khi đã đạt được sự ấm
áp của bốn kiến (bốn thị kiến),(1)
Hãy thẩm định (đo
lường) ba hình thức an trụ.
Khi
đã đóng chặt cọc mốc của ba sự thành tựu,
Ngươi sẽ không bao giờ
còn quay lại ba cõi,
Mà sẽ đi vào Niết-bàn
— điều này không hề nghi ngờ.
Khi
Đại Kim Cang Trì (Vajradhara) thị hiện nhập Đại Bát Niết-bàn
tại khu vườn của danh
y Jīvaka,
ở phía nam cõi Trời Ba
Mươi Ba,
Garab Dorje(2) ngã quỵ
xuống đất
và kêu lên trong thống
thiết:
Kyema
kyihü! Than ôi! Than ôi!
Khi ánh đèn của bậc
Thầy đã lịm tắt,
Ai sẽ xua tan bóng tối
của thế gian?
Khi
dần hồi tỉnh, ngài thấy cẳng tay phải của Đức Phật hiện ra trong một khối ánh
sáng,
từ đó buông xuống một
bảo hạp bằng pha lê quý, nhỏ bằng móng tay,
hạ xuống ngay trên
lòng bàn tay phải của ngài.
Khi
mở ra, ngài thấy giáo huấn này được ghi trên một bề mặt xanh lam quý báu,
như lưu ly xanh đang
chảy,
và ngay lúc ấy Garab
Dorje đạt được niềm xác tín của chứng ngộ.
Samaya.
Kính lạy Đức Phật Toàn Giác, Toàn Thiện, Đấng Chiến Thắng nhờ
Sức mạnh Uy lực!
Nếu
muốn chắc chắn chứng quả Phật,
Hãy rèn luyện thuần thục các pháp tu tiên quyết (pháp hành sơ bộ).
Bởi vì hành giả chẳng thể thoát khỏi ba cõi
Nếu không phân định rõ ràng (Rushen)
Giữa Thân, Khẩu và Ý,
Nên hãy rèn luyện các pháp tu sơ bộ.
Nếu
thuần thục các điểm cốt tủy của pháp tu sơ bộ,
Hành giả sẽ thấu đạt chứng ngộ (giác ý), cả thông thường lẫn tối thượng.
Hãy
độc cư nơi thanh vắng (vùng hẻo lánh).
Để
thực hành pháp tu tiên quyết của thân,
Hãy đóng vai các hành vi khác nhau của sáu cõi chúng sinh.
Và thực hiện các hoạt động hướng về Tam Bảo.
Hãy ngồi thẳng người với hai lòng bàn chân áp vào nhau
Và chắp hai lòng bàn tay lại phía trên đỉnh đầu.
Bất kỳ ai áp dụng pháp thực hành thân như vậy
Sẽ không bị thoái chuyển về thân,[1]chướng ngại được an
dịu,
Vượt qua bám chấp và thanh tịnh các che chướng.
Với thân được giải thoát thành Hóa thân (Nirmāṇakāya),
Thân ấy sẽ bất nhị (không thể tách rời) với sắc thân của Phật
Và không còn lại bất kỳ dư báo nào.
Để thực hành pháp tu tiên quyết của khẩu,
Hãy mô phỏng các âm thanh khác nhau của sáu cõi chúng sinh.
Rèn luyện toàn bộ các cung bậc âm thanh—
Của các vị Bản tôn an bình, phẫn nộ và của các đại (tự nhiên).
Dành ba ngày cho điểm cốt tủy của pháp ấn chứng (niêm phong).[2]
Rèn luyện sự linh hoạt, phát triển sự dẻo dai và phóng tâm đi.
Bất kỳ ai thực hành theo cách này bằng khẩu
Sẽ vượt qua bám chấp, thanh tịnh các che chướng của khẩu,
Tránh được sự thoái chuyển[3] và đạt giải thoát trong Báo thân
(Sambhogakāya) bất nhị.
Để thực hành pháp tu tiên quyết của ý,
Hãy quán tưởng đến những nỗi khổ đau của sáu cõi chúng sinh.
Rồi tìm kiếm nơi tâm này khởi sinh.
Không tìm thấy nơi sinh, hành giả sẽ gặp Pháp thân (Dharmakāya).
Rồi tìm kiếm nơi tâm này trú ngụ.
Không tìm thấy nơi trú, hành giả sẽ gặp Báo thân (Sambhogakāya).
Rồi tìm kiếm nơi tâm này đi về.
Không tìm thấy nơi diệt, hành giả sẽ gặp Hóa thân (Nirmāṇakāya).
Bất kỳ ai thực hành theo cách này bằng ý
Sẽ xua tan bám chấp, an dịu các chướng ngại,
Thanh tịnh các che chướng, không bao giờ thoái chuyển về ba cõi,
Và bước vào tánh bất nhị, giải thoát trong Pháp thân.
Sau đó, hãy thuần thục trong việc để cho Thân, Khẩu
Và Ý được an định trong trạng thái thư thái tự nhiên.
Rồi một khi đã phục hồi năng lượng cho cả ba,
Hãy dấn thân vào chính pháp hành với niềm tinh tấn.
Khi đã hoàn tất các pháp tu sơ bộ theo cách này,
Hãy để chúng xả bỏ khỏi tâm trí bạn.
Để đạt đến điểm cốt tủy của sự chứng ngộ trực tiếp,
Hãy buông bỏ mọi tạo tác của Thân, Khẩu và Ý.
Khi Đức Phật Toàn Giác thị hiện nhập Đại Bát Niết Bàn tại nơi
hội tụ của các bậc Không Hành Nữ (Ḍākinī), ở phía đông của đại bãi tha ma Núi
Lửa[5] Rực Cháy, ngài Garab Dorje đã ngã xuống
đất và thống khổ kêu lên:
Kye-ma kyi-hü! Than ôi! Ôi chao!
Khi ánh đèn của bậc Thầy đã tắt,
Ai sẽ là người xua tan bóng tối của thế gian?
Khi ngài hồi phục, ngài thấy cẳng tay phải của Đức Phật xuất
hiện trong một khối ánh sáng rực rỡ, thả xuống một chiếc hộp bằng pha lê quý
giá chỉ bằng kích thước của một móng tay. Bên trong hộp chứa lời giáo huấn này,
được viết bằng những ký tự tự sinh từ năm loại đá quý trên nền đá lạt-ma (lapis
lazuli) nóng chảy. Bản văn tối thượng mang đại gia trì này—tức Hậu Chúc Di Giáo
của Đức Phật—xuất hiện là để hóa thân (nirmāṇakāya) Garab Dorje có thể
du trì (bzung ba).[4] Như một người dẫn đường đưa hết thảy
chúng sinh vượt thoát [luân hồi], giáo pháp này được truyền dạy như đứa con duy
nhất chứa đựng và hội tụ mọi điểm yếu cốt tủy của toàn bộ giáo lý.
Đảnh lễ Kim Cang Trì tự giải thoát!
Kyema! Kyema!
Hãy
lắng nghe, hỡi các người con của dòng dõi cao quý!
Về thân, nếu muốn vượt thoát khổ đau,
hãy rèn luyện tư thế
của ba thân.
Ai thực hành như vậy sẽ vượt qua khổ ải
trong pháp giới thân
giác ngộ của chư Phật ba đời.
Về
khẩu, hãy tìm sự an định trong giai đoạn rèn luyện,
Trong sự an trụ và rồi siêu vượt.[1]
Bất kỳ ai không xem nhẹ điều này
Sẽ vượt qua khổ ải trong pháp giới khẩu giác ngộ của chư Phật ba đời.
Là
điểm yếu cốt tủy của tâm, hãy áp dụng ba cách nhìn (tam chủng mục kiền).[6]
Hướng
về bầu trời thanh tịnh, điểm yếu cốt tủy của cảnh giới,
Hãy nhìn lên, nhìn xuống và nhìn sang bên—điểm yếu cốt tủy của cánh cửa giác
quan.
Và, là điểm yếu cốt tủy của hơi thở, hãy rèn luyện cách hô hấp thật chậm rãi.
Nhờ áp dụng ba điểm yếu cốt tủy này,[2]
Tánh giác tánh Không cùng với Tam thân của nó sẽ hiển lộ.
Hãy
thu thúc các chuỗi sáng tánh giác,
Điểm cốt tủy của sự trực diện, và việc nhìn thấy sẽ là điều tất yếu.[3]
Thị
kiến trực nhận pháp tánh,
Khiến cho các quan kiến hý luận và chấp trước tiêu tan.[4]
Thông
qua thị kiến trải nghiệm tăng trưởng,
Trí tuệ của trung ấm (bardo) được hiển lộ tỏ tường.
Thông
qua thị kiến tánh giác đạt đến mức viên mãn,
Có sự nhận biết về Báo thân (saṃbhogakāya).
Thông
qua thị kiến tiêu tận vào pháp tánh,
Quả vị Đại Viên Mãn, vượt ngoài hành động, được chứng đắc.
Nếu
bạn có thể hoàn thành bốn thị kiến theo cách này,
Thì chẳng cần phải tìm kiếm niết-bàn ở bất kỳ nơi đâu khác.
Với
nền tảng là ba sự bất động,[7]
Hãy đo lường sự tiến bộ dựa trên ba hình thức an nghỉ;[8]
Các dấu hiệu sẽ nảy sinh nơi thân, khẩu và tâm.
Hãy đóng chặt các cây đinh của ba sự thành tựu.[9]
Không còn điều gì cần phải truyền dạy thêm nữa. Tam-muội-da (Samaya)!
Hãy
đón nhận giáo pháp này—pháp bảo đã tựu duyên đến với bạn,
Được khắc ghi rõ ràng
bằng những chất liệu trân quý.
Bất cứ ai kính ngưỡng
giáo pháp này chắc chắn sẽ đạt được giải thoát.
Vào những thời điểm
như ánh sáng cầu vồng, đất trời rung chuyển,
Sương giá, mưa đá, nạn
đói hay nhật nguyệt thực,
Việc trì tụng lớn
tiếng bản văn này về hướng thích hợp
Sẽ mang lại công đức
to lớn hơn bất kỳ phẩm vật cúng dường nào
Dâng lên chư Phật hóa
thân khắp hàng tỷ thế giới.
***
PHỤ THÍCH
A- Ba
bài di chúc này tạo thành một lộ trình tu tập nhất quán từ nền tảng, hành trì
cho đến quả vị tối hậu:
1. Di chúc thứ nhất (The First Testament): Định
hướng Cốt tủy & Chuẩn bị
- Tên
gốc: Buddha-dhekarayedhu-nāma / Sangs rgyas
kyi zhal chems dang po.
- Ý
nghĩa cốt lõi: Bài này thiết lập nền tảng thực hành
cho toàn bộ hệ thống Mật thừa. Đức Phật nhắc nhở hành giả gom tụ tất cả
tinh yếu của Bí mật Mật tông thông qua việc rèn luyện tâm xả ly, lòng từ
bi và Bồ đề tâm như những bước tiên quyết.
- Tóm
tắt ý nghĩa: Khẳng định thân xác này dù cấu thành từ
vô minh nghiệp lực, nhưng bản tánh chân thật của tâm thức (Rigpa)
chính là Ba Thân Phật (Pháp thân, Báo thân, Hóa thân). Bài di chúc đầu
tiên hướng tâm hành giả nhận biết hạt giống giác ngộ bên trong để đảo bạt
luân hồi.
2. Di chúc thứ hai (The Second Testament): An
định và Chuyển hóa Khẩu & Năng lượng
- Tên
gốc: Sangs rgyas kyi zhal chems gnyis pa.
- Ý
nghĩa cốt lõi: Tập trung sâu vào phương diện Khẩu
(Voice/Speech) và hệ thống khí/năng lượng (Prana/Lung) bên trong cơ thể
hành giả.
- Tóm
tắt ý nghĩa: Bài này chỉ dạy cách hành giả tìm kiếm
sự định tĩnh vững chắc trong các giai đoạn rèn luyện âm thanh, hơi thở mật
truyền, đi từ trạng thái an trú (abiding) cho đến khi vượt thoát hoàn toàn
các cấu uế của vọng tưởng. Ai giữ vững năng lượng cốt tủy này mà không xao
lãng sẽ vượt qua mọi khổ đau để đạt đến cảnh giới đại an lạc.
3. Di chúc thứ ba (The Third Testament): Giải
thoát tối hậu qua Thân ấn Ba Thân
- Tên
gốc: Buddha-dhekarayatri-nāma / Sangs rgyas
kyi zhal chems gsum pa.
- Ý
nghĩa cốt lõi: Đây là đỉnh cao của sự thực hành, tập
trung vào phương diện Thân (Physical) ở cấp độ vi tế nhất.
- Tóm
tắt ý nghĩa: Hướng dẫn hành giả rèn luyện và an trú
vào các tư thế (postures) của Ba Thân (Pháp thân, Báo thân, và Hóa
thân). Bằng cách khóa chặt thân-tâm trong các tư thế mật truyền này lúc
lâm chung hoặc trong đại định, hành giả sẽ trực tiếp hòa tan báo thân vật
lý vào bản thể ánh sáng rực rỡ (Cầu vồng thân) và tan biến vào pháp giới của
chư Phật ba đời.
Sự liên kết tổng quan:
Chuỗi ba bài di chúc này được coi là "chìa khóa đóng cửa địa ngục"
trong Dzogchen. Di chúc thứ nhất chuẩn bị cho Ý (nhận biết tánh Phật),
Di chúc thứ hai chuyển hóa Khẩu (ổn định năng lượng nội tại), và Di chúc
thứ ba giải thoát hoàn toàn qua Thân (hòa nhập vào Ba Thân Phật). Chúng
được truyền thừa nguyên vẹn để hành giả có thể đốn ngộ và đạt quả vị trì minh
vương ngay trong một đời.
B- Ba
bài di chúc này được tuyên thuyết bởi Đức Phật Bổn Tôn Nguyên Sơ
Samantabhadra (Phổ Hiền Vương Phật) và Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (ở
phương diện hiện thân hóa thân) nhằm đúc kết những giáo lý tối mật nhất của Mật
thừa.
Tuy nhiên, việc con người thế gian có được bản văn này là
nhờ vào tiến trình truyền thừa linh thiêng vô cùng đặc biệt của hệ thống Đại
Viên Mãn (Dzogchen):
1.
Vị đầu tiên nhận lãnh:
Giáo lý này được Đức Kim Cang Tát Đỏa (Vajrasattva) truyền trực tiếp cho
Garab Dorje (Thắng Hỷ Kim Cang) – vị Tổ sư nhân gian đầu tiên của truyền
thống Dzogchen.
2.
Cách thức xuất hiện: Ba
bài di chúc này nằm trong nhóm các bản văn mật truyền được gọi là "Golden
Letters" (Bản văn Chữ Vàng). Khi Tổ Garab Dorje thị hiện nhập diệt và hòa
tan thân mạng vào đại định Ánh sáng Cầu vồng, ngài đã để lại các bài di chúc
này trao lại cho người đệ tử thượng thủ của mình là Tổ Manjushrimitra (Văn
Thù Hữu).
3.
Vị biên soạn và lưu giữ:
Giáo lý sau đó được truyền qua các đời Tổ Ấn Độ và được Đại sư Vimalamitra
(Vĩ Ma Lạp Mật Đa) – một học giả, hành giả vĩ đại người Ấn Độ – mang sang
Tây Tạng vào thế kỷ thứ 8. Ngài chính là người đã hệ thống hóa, biên soạn và ẩn
giấu chúng vào tuyển tập cốt tủy mang tên Vima Nyingtik (Vĩ Ma Tâm Tùy).
Tóm lại, về mặt tâm linh tối cao, đây là lời của Phật;
về mặt lịch sử nhân gian, đây là giáo lý do Tổ Garab Dorje trao lại khi
ngài chứng đắc Thân Cầu Vồng và được Đại sư Vimalamitra kết tập lại cho
hậu thế.
C- Tổ
sư Garab Dorje (tiếng Tây Tạng: dga' rab rdo rje, tiếng Phạn: Prahevajra
hoặc Pramoda Vajra, dịch nghĩa là Thắng Hỷ Kim Cang) là vị Tổ sư
nhân gian đầu tiên của truyền thống Đại Viên Mãn (Dzogchen). Cuộc đời của ngài
đầy rẫy những phép mầu và được tóm tắt qua các giai đoạn chính sau:
1. Sự ra đời thần kỳ và tuổi thơ sóng gió
- Ngài
sinh ra tại vùng đất Uddiyana (Ô-trượng-na, thuộc Pakistan ngày
nay).
- Mẹ
của ngài là một công chúa xuất gia hành trì thanh tịnh. Ngài được hoài
thai một cách thần kỳ thông qua một điềm mộng: mẹ ngài mơ thấy một bậc
thánh tăng chạm chiếc bình pha lê chứa các mật điển lên đỉnh đầu mình.
- Vì
sinh con khi đang là ni cô, người mẹ sợ hãi bị gia tộc ruồng bỏ nên đã đem
giấu hài nhi vào một hố tro củi. Ba ngày sau, khi quay lại, bà kinh ngạc
thấy đứa trẻ vẫn hoàn toàn bình an, đang chơi đùa rực rỡ trong đống tro.
Nhận ra đây là một bậc hóa thân, gia đình đã đón ngài về nuôi dưỡng.
2. Sự nghiệp hiển hóa và xưng tụng mật điển
- Ngay
từ khi lên 7 tuổi, ngài đã sở hữu trí tuệ vô sư tự thông. Ngài đã tranh biện
và chiến thắng tất cả các học giả, luận sư Phật giáo lẫn ngoại đạo lừng lẫy
thời bấy giờ tại vương quốc Uddiyana.
- Đức
Kim Cang Tát Đỏa (Vajrasattva) đã hiện thân trực tiếp để truyền trao và
quán đảnh cho ngài toàn bộ 6.400.000 mật điển của giáo lý Đại Viên
Mãn. Ngài là người đầu tiên hệ thống hóa các giáo lý tối cao này từ cõi trời
Phật giới xuống ngôn ngữ của nhân gian.
3. Thu nhận đệ tử thượng thủ và củng cố truyền
thừa
- Ngài
đã chu du khắp các thánh địa Ấn Độ để hoằng hóa giáo pháp.
- Tại
Bồ Đề Đạo Tràng, ngài đã thu nhận Manjushrimitra (Văn Thù Hữu) – một
đại học giả nổi tiếng – làm đệ tử thượng thủ sau một cuộc tranh luận kéo
dài để chứng minh tính tối hậu của Dzogchen so với các bộ phái khác.
Manjushrimitra sau đó đã trở thành vị tổ thứ hai tiếp nhận trọn vẹn mạch
pháp.
4. Thị hiện nhập diệt và Chúc thư Chữ Vàng
- Khi
đã hoàn thành tâm nguyện độ sinh, Tổ Garab Dorje thị hiện nhập diệt bên bờ
sông Danatika. Ngài không để lại thân xác vật lý mà trực tiếp hòa tan toàn
bộ cơ thể vào một khối ánh sáng rực rỡ rực trời để chứng đắc Thân Cầu Vồng
(Rainbow Body).
- Khi
ngài đang bay lên không trung trong vầng sáng, người đệ tử Manjushrimitra
đã khóc than thống thiết. Thấu cảm điều đó, từ giữa không trung, Tổ Garab
Dorje đã thả xuống một chiếc hộp nhỏ bằng vàng, bên trong chứa Ba Lời
Di Chúc Cốt Tủy (chính là nguồn gốc của các bài di chúc bạn đã hỏi ở
trên). Ba lời này đúc kết toàn bộ tinh hoa của Dzogchen:
1.
Trực nhận bản tánh chân thật.
2.
Quyết định một niệm này không nghi ngờ.
3.
Tự tin giải thoát ngay trong hành động.
Cuộc đời của Garab Dorje chính là chiếc cầu nối tâm linh
tối thượng, biến giáo lý Đại Viên Mãn từ cảnh giới bất nhị của chư Phật thành một
con đường tu tập hiện thực giúp con người thế gian đạt đến sự giải thoát ngay
trong một đời.
Sau Tổ Garab Dorje, Tổ Manjushrimitra và sau đó là
Đại sư Vimalamitra đã bảo vệ và hệ thống hóa các bài di chúc này như thế
nào trước khi giấu chúng vào tập Vima Nyingtik?

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét