Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2026

DI HUẤN THỨ BA CỦA ĐỨC PHẬT

(trích từ Vima Nyingtik)

Trong ngôn ngữ Ấn Độ: buddha-dhekaramadhu-nāma
Trong ngôn ngữ Tây Tạng: sangs rgyas kyi zhal chems gnyis pa zhes bya ba
Trong ngôn ngữ English: The Third Testament of the Buddha

Trong ngôn ngữ Việt: Di huấn thứ Ba của Đức Phật
Việt dịch: Quảng Cơ 
Biên tập: Tuệ Uyển 



***

Đảnh lễ Kim Cang Trì tự giải thoát!


Kyema! Kyema! Hãy lắng nghe, hỡi các người con của dòng dõi cao quý!
Về thân, nếu muốn vượt thoát khổ đau,

hãy rèn luyện tư thế của ba thân.
Ai thực hành như vậy sẽ vượt qua khổ ải

trong pháp giới thân giác ngộ của chư Phật ba đời.

Về khẩu, hãy tìm sự an định trong giai đoạn rèn luyện,
Trong sự an trụ và rồi siêu vượt.[1]
Bất kỳ ai không xem nhẹ điều này
Sẽ vượt qua khổ ải trong pháp giới khẩu giác ngộ của chư Phật ba đời.

Là điểm yếu cốt tủy của tâm, hãy áp dụng ba cách nhìn (tam chủng mục kiền).[6]

Hướng về bầu trời thanh tịnh, điểm yếu cốt tủy của cảnh giới,
Hãy nhìn lên, nhìn xuống và nhìn sang bên—điểm yếu cốt tủy của cánh cửa giác quan.
Và, là điểm yếu cốt tủy của hơi thở, hãy rèn luyện cách hô hấp thật chậm rãi.
Nhờ áp dụng ba điểm yếu cốt tủy này,[2]
Tánh giác tánh Không cùng với Tam thân của nó sẽ hiển lộ.

Hãy thu thúc các chuỗi sáng tánh giác,
Điểm cốt tủy của sự trực diện, và việc nhìn thấy sẽ là điều tất yếu.
[3]

Thị kiến trực nhận pháp tánh,
Khiến cho các quan kiến hý luận và chấp trước tiêu tan.
[4]

Thông qua thị kiến trải nghiệm tăng trưởng,
Trí tuệ của trung ấm (bardo) được hiển lộ tỏ tường.

Thông qua thị kiến tánh giác đạt đến mức viên mãn,
Có sự nhận biết về Báo thân (saṃbhogakāya).

Thông qua thị kiến tiêu tận vào pháp tánh,
Quả vị Đại Viên Mãn, vượt ngoài hành động, được chứng đắc.

Nếu bạn có thể hoàn thành bốn thị kiến theo cách này,
Thì chẳng cần phải tìm kiếm niết-bàn ở bất kỳ nơi đâu khác.

Với nền tảng là ba sự bất động,[7]
Hãy đo lường sự tiến bộ dựa trên ba hình thức an nghỉ;
[8]
Các dấu hiệu sẽ nảy sinh nơi thân, khẩu và tâm.
Hãy đóng chặt các cây đinh của ba sự thành tựu.
[9]
Không còn điều gì cần phải truyền dạy thêm nữa. Tam-muội-da (Samaya)!

Hãy đón nhận giáo pháp này—pháp bảo đã tựu duyên đến với bạn,
Được khắc ghi rõ ràng bằng những chất liệu trân quý.
Bất cứ ai kính ngưỡng giáo pháp này chắc chắn sẽ đạt được giải thoát.
Vào những thời điểm như ánh sáng cầu vồng, đất trời rung chuyển,
Sương giá, mưa đá, nạn đói hay nhật nguyệt thực,
Việc trì tụng lớn tiếng bản văn này về hướng thích hợp
Sẽ mang lại công đức to lớn hơn bất kỳ phẩm vật cúng dường nào
Dâng lên chư Phật hóa thân khắp hàng tỷ thế giới.

 

Bản văn đại gia trì mang những ân phước tự sinh này—một biểu hiện tự nhiên của toàn bộ giáo lý—[5]đã xuất hiện khi Đức Bổn Sư thị hiện nhập Niết-bàn tại núi Linh Thứu (Vulture Peak) nằm ở phía nam thành Vương Xá (Rājgṛha) và tôn giả Garab Dorje cất tiếng khóc than trong niềm đau xót tột cùng. Đây là bản văn tự sinh được tạo thành từ năm loại báu vật, đã thị hiện hạ xuống lòng bàn tay phải của Garab Dorje. Đây chính là di giáo tối hậu của Đức Phật, là đứa con duy nhất kế thừa trọn vẹn mọi giáo pháp. Tam-muội-da (Samaya). Gia. Gia. Gia (Gya. Gya. Gya).

 

| Translated by Adam Pearcey with the generous support of the Tsadra Foundation, 2024.

 

Ghi chú

[1] Đây là ba giai đoạn riêng biệt (Đối chiếu với kinh Sgra thal ’gyur: "với khẩu, ba giai đoạn rèn luyện, an trú và quyết định/ấn chứng sẽ được giảng dạy"). Các giai đoạn này được giải thích chi tiết trong tác phẩm Đám Mây Vô Tận Của Ý Nghĩa Thâm Sâu (Zab don rgya mtsho’i sprin) của ngài Longchenpa.

[2] Phiên bản Khandro Nyingtik chép rằng: “Thông qua việc áp dụng bốn điểm cốt tủy này…” Điều này gợi ý rằng văn bản đó tính điểm cốt tủy của ý (tâm) một cách riêng biệt; trong khi ở văn bản này, ba điểm cốt tủy lại là các phần chia nhỏ của điểm mấu chốt thuộc về ý.

[3] Phiên bản Khandro Nyingtik sử dụng cụm từ thog ldog pa med/ nghĩa là “…bằng phương cách đó sẽ không có sự quay đầu (thoái chuyển).”

[4] Phiên bản Khandro Nyingtik sử dụng thể mệnh lệnh snubs (Hãy xóa bỏ / Hãy dẹp đi!) thay vì chữ nub.

[5] Bản dịch ở đây được căn cứ dựa trên phiên bản Khandro Nyingtik, vốn có cụm từ bstan pa thams cad kyi rang rtsal (năng lực tự sinh của toàn bộ giáo lý) thay vì cụm từ bstan pa thams cad kyi rang babs (trạng thái tự nhiên của toàn bộ giáo lý) trong phiên bản Vima Nyingtik.

[6] Ba Cách Nhìn Này:

1- Cách nhìn của Pháp thân (Dharmakāya Gaze)/Kỹ thuật: Ánh mắt hướng ngược lên trên bầu trời, hai mắt hơi mở to và nhìn chăm chú vào khoảng không vô tận phía trên mà không chớp mắt.
2-
 Cách nhìn của Báo thân (Saṃbhogakāya Gaze)/ Kỹ thuật: Ánh mắt nhìn liếc sang hai bên (hơi xếch sang trái và phải) hoặc nhìn một cách bình thản, buông thư vào khoảng không trung gian (không quá cao, không quá thấp).
3-
. Cách nhìn của Hóa thân (Nirmāṇakāya Gaze)/ Kỹ thuật: Ánh mắt nhìn hướng xuống dưới, hai mắt hơi khép nhẹ (nhìn vào chóp mũi hoặc khoảng không phía trước mặt đất) giống như cách nhìn trong thiền định Nguyên thủy hoặc Thiền Tông.

[7] Threefold immovability (tiếng Tây Tạng: mi gyo ba gsum): Ba sự bất động — Gồm: Thân bất động (giữ tư thế), Mắt bất động (giữ cách nhìn), và Tâm bất động (không rời tánh giác).

[8] Three forms of rest (ngal bso gsum): Ba hình thức an nghỉ (hoặc Ba sự buông thư) — Phương pháp để tánh giác tự nhiên hiển lộ bằng cách để Thân, Mắt và Tâm an nghỉ trong trạng thái nguyên sơ.

[9]Nails of threefold attainment (thob pa gsum gyi gzer): Đinh của ba sự thành tựu (hoặc Ba cây đinh thành tựu) — Các cột mốc chứng ngộ kiên cố không lay chuyển của hành giả Tögal.

https://www.lotsawahouse.org/words-of-the-buddha/third-testament-vima-nyingtik

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét