(trích từ Vima Nyingtik)
Trong
ngôn ngữ Ấn Độ: buddha-dhekarayedhu-nāma
Trong ngôn ngữ Tây
Tạng: sangs rgyas kyi zhal chems dang po zhes bya ba [1]
Trong ngôn ngữ Việt:
Di huấn thứ nhất của Đức Phật
Việt dịch: Quảng
Cơ
Biên tập: Tuệ
Uyển
***
Đảnh lễ Đại Kim Cang Trì (Vajradhara), vị Phật
thứ sáu, bậc Giác ngộ hoàn toàn và viên mãn!
Kyema!
Kyema!
Hỡi
các người con của dòng dõi cao quý, hãy thâu nhiếp và củng cố những điểm then
chốt của toàn bộ Mật Chú Bí Mật, và hãy tu tập theo phương cách sau đây.
Về
các pháp chuẩn bị của thân, khẩu và ý:
Hãy tu tập về vô
thường, bi mẫn và Bồ-đề tâm.
Vì thân này được sinh
khởi từ vô minh duyên khởi,
Nên sáu lớp hiện diện
trong các chủng tử tự.
Vì
tự tánh minh giác (rigpa) trong thực tánh chính là ba thân,
Nên ba thân hiển lộ
thành ba âm tiết.
Hãy tu tập nơi ba âm
tiết, và thực hành sự phân biệt rõ ràng (rushen).
Sau đó, để đưa đến an
trụ trong trạng thái an nhiên chân thật,
Hãy làm sống dậy (tăng
cường) bằng các cách nhìn (ánh nhìn quán chiếu)
của Thanh văn, Bồ-tát
và các bổn tôn phẫn nộ.
Khi đã đạt được niềm
tin nơi sự an trụ, vững chắc và tự tại,
Hãy buông bỏ mọi tạo
tác, cả bên ngoài lẫn bên trong,
Và an trụ trong các
oai nghi của voi, sư tử và bậc hiền triết.
Về
khẩu, hãy dừng lại dòng nói năng.
Về tâm, từ khoảng giữa
hai chân mày, hãy an trú nơi hư không.
Bằng việc thuận theo
các điểm then chốt của các cửa (giác quan), đối tượng và hơi thở,
Trí tuệ thanh tịnh
nguyên sơ được hiển lộ ngay trong trường (kinh nghiệm).
Chớ
rời khỏi điểm then chốt của sự hiển lộ trực tiếp.
Với nền tảng là ba
phương diện bất động,
Khi đã đạt được sự ấm
áp của bốn kiến (bốn thị kiến),(1)
Hãy thẩm định (đo
lường) ba hình thức an trụ.
Khi
đã đóng chặt cọc mốc của ba sự thành tựu,
Ngươi sẽ không bao giờ
còn quay lại ba cõi,
Mà sẽ đi vào Niết-bàn
— điều này không hề nghi ngờ.
Khi
Đại Kim Cang Trì (Vajradhara) thị hiện nhập Đại Bát Niết-bàn
tại khu vườn của danh
y Jīvaka,
ở phía nam cõi Trời Ba
Mươi Ba,
Garab Dorje(2) ngã quỵ
xuống đất
và kêu lên trong thống
thiết:
Kyema
kyihü! Than ôi! Than ôi!
Khi ánh đèn của bậc
Thầy đã lịm tắt,
Ai sẽ xua tan bóng tối
của thế gian?
Khi
dần hồi tỉnh, ngài thấy cẳng tay phải của Đức Phật hiện ra trong một khối ánh
sáng,
từ đó buông xuống một
bảo hạp bằng pha lê quý, nhỏ bằng móng tay,
hạ xuống ngay trên
lòng bàn tay phải của ngài.
Khi
mở ra, ngài thấy giáo huấn này được ghi trên một bề mặt xanh lam quý báu,
như lưu ly xanh đang
chảy,
và ngay lúc ấy Garab
Dorje đạt được niềm xác tín của chứng ngộ.
Samaya.
|
Translated by Adam Pearcey with the generous support of
the Tsadra Foundation, 2024.
Phụ
thích:
(1) Bốn thị kiến là:
1. Thị kiến của sự hiển lộ trực tiếp
(Direct perception /
Manifest appearance)
→ Rigpa bắt đầu tự
hiển lộ một cách trần trụi, không qua suy nghĩ. Ánh sáng, điểm sáng, hình ảnh
xuất hiện một cách tự nhiên.
2. Thị kiến của sự tăng trưởng kinh nghiệm
(Increasing
experience)
→ Các hiển lộ gia tăng,
phong phú và rõ ràng hơn. Trải nghiệm trở nên liên tục, ổn định, không gián
đoạn.
3. Thị kiến của sự viên mãn trong mức độ đầy
đủ
(Awareness reaching
its full measure)
→ Mọi hiển lộ đạt đến
tính viên mãn, không còn thiếu hay dư. Nhận biết và hiển lộ hoàn toàn tương
xứng.
4. Thị kiến của sự tan biến vào Pháp tính
(Dissolution into
dharmatā)
→ Tất cả hiển lộ tự
tan vào bản tánh, không bám chấp, không dấu vết. Đây là giải thoát tự nhiên,
không cần làm gì thêm.
(2)
Garab Dorje (དགའ་རབ་རྡོ་རྗེ་) là vị Tổ đầu tiên của Dzogchen trong loài
người, giữ vai trò then chốt tuyệt đối trong truyền thừa này.
Những điểm cốt yếu về
Garab Dorje
• Ngài được xem là hóa
thân / hóa hiện của Phật Kim Cang Trì (Vajradhara) trong thế giới loài người.
• Ngài trực tiếp nhận
giáo pháp Dzogchen từ Vajradhara và truyền lại cho Mañjuśrīmitra, mở đầu dòng
truyền thừa nhân gian.
• Thời đại của ngài
thường được đặt vào thời kỳ hậu Phật Thích Ca (theo truyền thống Nyingma, không
đặt nặng niên đại lịch sử).
https://www.lotsawahouse.org/words-of-the-buddha/first-testament-vima-nyingtik

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét