Aspiration to Be Reborn in the Realm of Sukhāvatī
Tác giả: Jigme Lingpa
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***
Kính lạy Đức Thế Tôn, bậc vô cấu và thanh tịnh vô biên!
Trong cõi giới của ánh
sáng rực rỡ và hỷ lạc vô tận này,
được hình thành từ
công đức tích lũy của Đức Phật,
có Đấng bảo hộ A Di Đà
với thọ mạng vô biên hiển trị.
Dưới chân Ngài, con
xin phủ phục đảnh lễ:
Nguyện cho con được
tái sinh vào Cực Lạc, thế giới
của niềm hạnh
phúc diệu kỳ!
Khi Ngài còn là vị
Tỳ-kheo Pháp Tạng,
Trước tôn dung của Đức Phật Thế Tự Tại Vương,
Ngài đã phát nguyện thiết tha kiến lập một cõi tịnh độ thù thắng,
'Con kính lạy Ngài. Cúi xin Ngài chứng minh cho con nguyện ước này!'
Nguyện cho con được vãng sanh về cõi Cực Lạc an vui!
Mặt đất phẳng lặng như
lòng bàn tay trẻ thơ
Mềm mại, mịn màng và êm dịu,
Nhưng quy mô bao la, chẳng có giới hạn hay biên cương,
Khắp nơi đều được phủ tràn bằng muôn vàn loại trân bảo.
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!
Cõi nước vi diệu này
không có núi Tu Di, chẳng có đại dương bao la,
Không có dãy hắc sơn vòng quanh hay những nhà cửa phàm trần tục lụy.
Cây như ý làm bằng bảy loại trân bảo của cõi ấy
Rộng một ngàn do-tuần, cao sáu trăm do-tuần.
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!
Khi những cành
cây trĩu nặng lá, trái cùng hoa
Và kết dính những chuỗi xích vàng, lay động theo làn gió mang hương thơm,
Chúng phát ra tiếng rì rào và ngân nga dịu ngọt,
Những âm thanh vi diệu mà người nghe chẳng bao giờ biết chán.
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!
Những đóa hoa
tỏa ngát hương thơm dịu ngọt nhất
Rơi xuống thành tấm thảm cúng dường, dày sâu bằng bảy thân người,
Mãi luôn tươi đẹp và trải rộng khắp không gian,
Khi bước chân đạp lên thì lún xuống, rồi lập tức phục hồi như cũ.
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!
Nơi đây chỉ có
cõi người và cõi trời; ngay cả danh xưng
Của các ác đạo hay của a-tu-la cũng hoàn toàn xa lạ.
Với những lạc thú về sự giàu sang và mùa màng tươi tốt như thế,
Cõi nước này được xưng tụng là "Sự Huy Hoàng Chẳng Bao Giờ Nhàm
Chán".
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!
Khi những dòng
sông nước thơm dễ dàng lội qua
Bình thản trôi xuôi mà không cuộn sóng dữ dội,
Âm thanh thanh tao của chúng, thứ mà người nghe chẳng bao giờ chán,
Đang diễn thuyết về vô thường, tịch tịnh và vô ngã.
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!
Trên những bãi
cát vàng hoàn toàn sạch bóng bùn lầy, dơ bẩn,
Các loài thiên nga, bạch hạc, ngỗng trời, vịt nước, chim ca-lan-đà,
Anh võ, chim xá-lợi[1], công, chim cu-la-na
Và chim ca-lăng-tần-già[2] huyền thoại cất tiếng hót
như tấu khúc đàn sitar.
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!
Những âm thanh này[3] và tất cả các ấn tượng
giác quan
Đều truyền tải ý nghĩa của Tam Bảo, Bốn Tâm Vô Lượng,
Các Thập Địa, Ba-la-mật-đa, Mười Lực, Bốn Vô Úy
Và Mười Tám Pháp Bất Cộng.
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!
Từ những đóa hoa
và cây cối nơi các khu rừng đầy mê hoặc,
Hàng loạt hỷ lạc của các giác quan lập tức hiện bày,
Và cung điện bao la vô lượng hiển hiện giữa tầng không—
Những thần biến diệu kỳ vượt trội cả cõi Tha Hóa Tự Tại Thiên.[4]
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!
Chẳng có hành tinh cũng chẳng có tinh tú, không ngày cũng chẳng đêm,
Không có các hộ gia đình và cũng không có sự sở hữu chúng—
Thay vào đó, có các thiên nữ cõi trời, những vị biến hóa ra
Muôn trùng mây cúng dường làm khởi sinh niềm hỷ lạc vô biên.
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!
Chư Phật nhiều
như số cát sông Hằng
Liên tục tán thán các công đức của Đấng Chiến Thắng,
Bậc đang ngự trị và tôn chủ cõi này, và cũng chính là đấng tôn kính
Đức Quán Thế Âm cùng Đức Đại Thế Chí.
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!
Những ai sinh về
cõi này khi công đức còn bị chướng ngại
Sẽ hiện ra và nằm ẩn bên trong thai sen.
Sau đó, khi đang ngồi kiết già, họ lập tức bước ra
Một lần thứ hai và thành tựu các tướng tốt của bậc đại sĩ.
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!
Hàng Thanh văn,
Duyên giác và Bồ Tát dưới thân tướng người và trời,
Đều có căn tánh nhạy bén và đã chứng đắc Pháp nhẫn.[5]
Họ phi hành tự tại giữa hư không; họ sẽ không bao giờ thối chuyển;
Và họ được lắng nghe Chánh pháp mà không rời mắt khỏi chư Phật.
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!
Thành thục trong
các tầng thiền định và các đại thần thông,
Với tuệ giác thấu suốt và chấp nhận mọi sự phân biệt,
Chẳng phóng dật hoang đàng mà nhiếp phục các căn,
Và thành tựu các phẩm tính vô lượng, vô biên của Nhất thiết trí—
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!
Bằng con đường
chân thật tận diệt nhân và quả của tập khởi,
Hàng A-la-hán cũng chứng đắc tịch diệt Niết-bàn.
Họ tìm thấy sự an nghỉ nơi không gian của ba môn giải thoát
Vài thọ nhận sự quán đỉnh từ những luồng đại quang minh.
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!
Chánh pháp được
tuyên thuyết trong mỗi một sát-na
Nhiều không thể tính đếm, thần thông diệu dụng rộng lớn đến mức
Cho phép du hành đến các cảnh giới cõi nước khác và,
Nhờ tiếp nhận Giáo pháp, chứng nhập vào hàng tỉ tầng thiền định.
Nguyện cho con được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui!
Nói tóm lại, bất
kỳ ai nghe danh hiệu hay giáo ngôn của Ngài,
Bất kỳ ai được chiêm ngưỡng Ngài, hay quán tưởng về Ngài,
Đều sẽ được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui.
Vì lời thệ nguyện Bồ-đề tâm cao thượng này là bất khả hư hoại,
Nên những diệu hạnh vì lợi lạc của tha nhân từ Ngài
Cũng tựa như những đợt thủy triều không bao giờ lỗi hẹn của đại dương bao la.
Như bậc hậu duệ của dòng tộc Thích Ca (Ikshvaku[6]) đã bảo với A-nan:
“Hãy đứng dậy và hướng mặt về phương Tây,
Dâng một đóa hoa và chắp tay cung kính.
Hãy đảnh lễ Đấng Phật Đà toàn giác Vô Lượng Quang,
Bậc vô cấu và thanh tịnh vô biên.
Danh hiệu không tì vết của Ngài
Lừng lẫy khắp cả mười phương trời,
Được tất cả các Đấng Chiến Thắng đồng
thanh tán thán.”
Và vì thế, chúng con xin hiến dâng thân mình
cùng tài bảo mà không chút bám chấp giữ lại,
Sám hối những ác hạnh đã gây ra cùng các chướng ngại đã tích lũy,
Và tùy hỷ trước đại dương diệu hạnh giác ngộ đã được tác thành.
Chúng con khẩn cầu Ngài mãi mãi chuyển bánh xe Pháp và trụ thế nơi đây,
Và chúng con xin hồi hướng thảy thảy cội nguồn công đức lành đang có
Để khắp thí chúng sinh đều được vãng sinh về cõi Cực Lạc an vui.
Nguyện mọi điều cát tường để những tâm nguyện của chúng con đều được viên mãn
đúng như đã phát nguyện!
"Tôi,
Gyalwé Nyugu Khyentsé Lha, đã biên chép lại bài nguyện này dựa theo Kinh A Di Đà[7],
sau khi nhận được lời cung thỉnh từ phương xa của Jigme Trinle Özer — người học
trò hoàn hảo của tôi từ vùng Dokham, và lời trực tiếp thỉnh cầu một cách nhiệt
thành từ hai vị có tên Jigme Losalchen[8]."
| Translated by Han Kop and edited by Adam Pearcey and Barry Cohen for the Longchen Nyingtik Project,
2021, following the commentary by Rigdzin Gargyi Wangchuk, Gateway to
the Realm of Great Bliss. With gratitude to Tulku Dawa for his
clarifications.
Source
'Jigs med gling pa. "bde can zhing bkod
smon lam", in klong chen snying thig rtsa pod. 5 Vols.
Bodhnath, Kathmandu and Bodhgaya, Bihar: Shechen Publications, 1994. BDRC
W1KG13585. Vol. 1: 509–513.
https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/jigme-lingpa/sukhavati-aspiration
[1] Có
thể là loài Turdus salica, một loài chim Ấn Độ nổi tiếng với những tiếng hót du
dương. ↑"
[2] Một loài chim nhỏ giống như chim sẻ nổi tiếng
với tiếng hót vô cùng thâm diệu, chim Ca-lăng-tần-già (kalapingka hay
kalavingka) được nhắc đến trong nhiều nguồn tài liệu Phật giáo, chẳng hạn như
tác phẩm Phật Sở Hành Tán (Buddhacarita) của Mã Minh (Aśvaghoṣa). ↑
[3] Nói
cách khác, đó là những âm thanh của cây cối, gió, sông ngòi và chim chóc được đề
cập ở trên. ↑
[4] Cõi
cao nhất trong sáu tầng trời của cõi Dục (cõi Dục giới). ↑
[5] Chứng
đắc Pháp nhẫn (Attained acceptance / Vô sinh pháp nhẫn): Sự thấu suốt và an
trụ hoàn toàn vào thực tính vô sinh vô diệt của vạn pháp, không còn bị lay động
bởi các tướng trạng thế gian.
[6] Bậc
hậu duệ của dòng tộc Ikshvaku (The descendent of Ikṣvāku): Đây là danh xưng
tôn kính chỉ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Ikṣvāku (Cam Lộ Vương /
Vua Mía) là vị vua huyền thoại, thủy tổ sáng lập ra vương triều Thái Dương
(Solar Dynasty), dòng tộc mà từ đó thái tử Tất-đạt-đa (Siddhartha Gautama) được
sinh ra.
[7] . Sūtra of Amitābha: Kinh A Di Đà (hoặc Kinh
Vô Lượng Thọ).
[8] Jigme Losalchen: Tên của hai vị đệ tử/người
thỉnh cầu.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét