Descent of Blessings of the Eight Vidyādharas[1]
Tác giả: Jigme
Lingpa
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***
Trong mạn-đà-la của pháp tu đạo sư Rigdzin Düpa, tám vị
Trì Minh Vương vây quanh vị tôn chủ Guru Padmasambhava (Liên Hoa Sanh) theo các
hướng như sau
|
Vị Trì Minh Vương (Vidyādhara) |
Thần thể liên kết (Kagyé Deity) |
Trực giác / Năng lực |
|
|
Đông |
Hūṃkāra |
Yangdak Heruka |
Tinh túy của Tâm |
|
Nam |
Mañjuśrīmitra |
Yamāntaka |
Tinh túy của Thân |
|
Tây |
Nāgārjuna |
Hayagrīva (Mã Đầu Minh Vương) |
Tinh túy của Khẩu |
|
Bắc |
Prabhahasti |
Vajrakīlaya |
Tinh túy của Hoạt động |
|
Đông Nam |
Dhanasaṃskṛta |
Mamo Bötong |
Giải thoát nghiệp lực |
|
Tây Nam |
Vimalamitra |
Düdtsi Yönten |
Tinh túy của Công đức |
|
Tây Bắc |
Rombhuguhya |
Jikten Chötö |
Nghi quỹ thế gian |
|
Đông Bắc |
Śāntigarbha |
Möpa Drakngak |
Chú thuật uy lực |
Tất cả các Mandala Bản trí nguyên sơ đều hiển lộ trên không trung, biến mãn khắp bầu trời.
ཨཱོྃ་ཧཱུྃ་ཨ་ལ་ལ་ཧོཿ བྷ་ག་ཝཱན་ས་མ་ཡ་ཧོཿ ས་མ་ཡ་སྟྭཾ།
om hung a la la ho | bhagavan samaya ho |
samaya tom
oṃ hūṃ a la la hoḥ
| bhagavān samaya hoḥ | samaya sthaṃ
Hãy cùng ngân nga những
lời sau đây theo nhịp điệu của nhạc:
Hūṃ!
Thuở sơ khai của kiếp này — thuở bình minh của hiện hữu —
Khi
đấng Heruka[2]
của kiến tánh Vô ngã
Giải
thoát quỷ vương Rudra[3] của nhị nguyên,
Tám
thức thanh tịnh liền hiển lộ thành những Thi Lâm linh thiêng[4].
Bốn phần thân xác quỷ vương Rudra hóa thành bốn cửa Mandala,
Nơi
chư Như Lai oai đức an trụ.
Nguyện
xin gia trì cho năm uẩn, mười hai xứ và mười tám giới đều trở thành tinh túy của
Ba tòa vẹn toàn![5]
Địa
danh nơi này chính là Nam Thiêm Bộ Châu.
Ở
phương Đông[6]
là Thi Hàn Lâm[7]
(Cool Grove),
nơi trái tim của quỷ vương Rudra rơi xuống.
Vị
thần bảo hộ nơi này mang tôn nhan mặt voi, thân sắc màu trắng, tay cầm đao hộ
pháp và chén sọ người.
Thần định hướng là Đế Thích Thiên (Indra), tay cầm chày
kim cang.
Long vương là Ananta, mang các thủ đầu rắn.
Dòng sông và mây ngàn sắc trắng, cây linh thiêng bãi tha ma sắc vàng.
Vị Đại Hộ Mẫu là Gaurī.
Từ bảo tháp Cát Tường Đống[8] —
Cúi xin Ngài Hūṃkāra (Hùng
Ca Ra), vị Trì Minh Vương đã thành
tựu pháp môn Yangdak Heruka, Tinh
túy của Tâm,
Ban
rải dòng gia trì cam lộ xuống nơi này!
Hūṃ! Phương nam là thi lâm Rừng Chim Cúc Cu
(Cuckoo Grove),
Nơi tìm thấy cánh tay phải của thần Rudra.
Thần hộ pháp nơi này có mặt trâu và tay cầm
thòng lọng rắn.
Vị bách thần hộ phương là Yama (Dạ Ma Ma
Vương), tay cầm bảo chuỳ.
Long vương cai quản là Takṣaka (Thất-sát-ca).
Mây trời một màu xám xịt.
Dòng sông cuộn sóng dữ dội.
Cây thi lâm mang sắc xanh thẫm.
Bậc đại hộ nữ là Caurī (Nữ Thần Kiêu
Man).
Từ bảo tháp Viên Ngọc Rực Cháy (Blazing
Jewel)—
Mañjuśrīmitra (Văn Thù Hữu), bậc
Trì Minh Vương đã thành tựu pháp Văn Thù Đại Oai Đức Kim Cang (Yamāntaka), Tinh túy của Thân.
Xin hãy ban rải dòng gia trì của Ngài xuống nơi đây!
Hūṃ! Ở phương tây là thi lâm Gò
Sen (Lotus Mound)
Nơi linga (dương vật) của thần Rudra ngự
trị.
Thần bảo hộ địa phương Laliha mang
gương mặt của quái thú biển (makara).
Vị thần trấn giữ phương hướng là thủy
thần Varuṇa, và vua loài rồng (nāga) là Saṅkhapāla.
Những đám mây cuồn cuộn ầm vang tiếng sấm,
sông và cây nơi bãi tha ma nhuộm sắc đỏ.
Nữ thần hộ pháp vĩ đại là Pramohā.
Từ bảo tháp Ánh Sáng Rực Rỡ Uy Nghi—
Nāgārjuna-garbha (Long Thọ Tạng), bậc trì minh vương đã thành tựu pháp tu Hayagrīva
(Mã Đầu Minh Vương), Tinh túy của Khẩu
Xin hãy ban rải dòng lực gia trì xuống
chúng con!
Hūṃ! Ở phương bắc là thi lâm Gò Laṅka (Laṅka Mound)
Nơi cẳng chân trái của thần Rudra ngự
trị.
Thần bảo hộ địa phương mang gương mặt ngựa, có thân màu xám và đi cùng với phối
ngẫu của mình.
Vị thần trấn giữ phương hướng là một dạ-xoa (yakṣa), và vua loài rồng (nāga) là
Karkoṭaka.
Dòng sông cuộn trào hung dữ; những đám mây xanh thẳm ầm vang tiếng sấm.
Cây cổ thụ tại thi lâm tuyệt đẹp được gọi là Asutana.
Nữ thần hộ pháp vĩ đại là Vetālī.
Từ bảo tháp Đại Lạc Tự Sanh (Naturally Arisen Great Bliss)—
Prabhāhasti (Quang Minh Tượng), bậc trì minh vương đã thành tựu pháp tu Vajrakīlaya (Phổ Ba Kim Cang),
Tinh
túy của Hoạt động,
Xin hãy ban rải dòng lực gia trì xuống chúng con!
Hūṃ! Ở phương Đông Nam là bãi tha ma Gò Tự Khởi
Thành Tựu (Spontaneously Accomplished Mound)
Nơi khúc ruột của thần Rudra ngự trị.
Thần bảo hộ địa phương mang gương mặt
dê.
Vị thần trấn giữ phương hướng là hỏa thần
Agni, mang thân mình sắc vàng.
Đại long vương tay cầm một đóa hoa sen
và ngọc báu.
Dòng sông cuộn trào hung dữ, những đám
mây rực sắc cam.
Cây cổ thụ tại thi lâm hiện lên với dáng
vẻ phẫn nộ và cong vẹo.
Nữ thần hộ pháp vĩ đại là Pukkasī.
Từ bảo tháp Ke’u Tishen—
Dhanasaṃskṛta (Đại Thành Thục), bậc trì minh vương đã thành tựu pháp tu các
mẫu thần (mātṛkās - Mamo
Bötong), Giải thoát nghiệp lực,
Xin hãy ban rải dòng lực gia trì xuống
chúng con!
Hūṃ! Ở phương tây nam là thi lâm Mahāguhya
(Đại Bí Mật)
Nơi phần đầu của thần Rudra ngự trị.
Thần bảo hộ địa phương có thân mình màu
xanh lam và cưỡi trên một con người.
Vị thần trấn giữ phương hướng là Dạ-xoa
vương Rāvaṇa, và vua loài rồng (nāga) là Mahāpadma (Đại Liên Hoa).
Những đám mây thuộc quyến thuộc ‘gana’
mang sắc vàng, và dòng sông nhuộm đỏ.
Cây cổ thụ tại thi lâm được gọi là Śāntim Upala.
Nữ thần hộ pháp vĩ đại là Ghasmarī.
Từ bảo tháp Kanika—
Vimalamitra (Vô Cấu Hữu), bậc trì minh vương đã thành tựu pháp tu Amṛtakuṇḍalin
(Cam Lộ Quân Đồ Lợi - Düdtsi
Yönten), Tinh túy của Công đức,
Xin hãy ban rải dòng lực gia trì xuống
chúng con!
Hūṃ! Ở phương tây bắc là bãi tha ma Great Hé (Đại
Ha-ha)
Nơi cánh tay trái của thần Rudra ngự trị.
Thần bảo hộ địa phương mang gương mặt
hươu và bị tật nguyền.
Vị thần trấn giữ phương hướng là phong
thần Vāyu, và vua loài rồng (nāga) là Vāsuki.
Mưa trút xuống từ những đám mây dày đặc,
và dòng sông mang một sắc đen.
Loài cây cổ thụ tại đây được gọi là Black
Jala (Cây Jala Đen).
Nữ thần hộ pháp vĩ đại là Śmaśānī.
Từ bảo tháp Kuma Tự Sinh (Naturally
Arisen Kuma)—
Guhyacandra (Thiên Nguyệt), bậc trì minh
vương đã thành tựu pháp tu Cúng Dường và Tán Thán (Jikten
Chötö),
Xin hãy ban rải dòng lực gia trì xuống
chúng con!
Hūṃ! Ở phương đông bắc là thi lâm Lokana
(Luân Hồi Thi Lâm)
Nơi cẳng chân phải của thần Rudra ngự
trị.
Thần bảo hộ địa phương mang gương mặt
chó rừng, có thân mình màu trắng, tay cầm một con dao và một chiếc cúp đầu lâu.
Vị thần trấn giữ phương hướng là Īśāna
(Đại Tự Tại Thiên), và vua loài rồng (nāga) là Jātya.
Dòng sông mang một sắc đen, và những
đám mây ầm vang tiếng sấm.
Cây cổ thụ tại thi lâm được gọi là Halakāla.
Nữ thần hộ pháp vĩ đại là Caṇḍālī.
Từ bảo tháp Gomasāla—
Śāntigarbha (Tịch Tạng), bậc trì minh vương đã thành tựu pháp tu Chú
Thuật Hung Bạo (Möpa Drakngak),
Xin hãy ban rải dòng lực gia trì xuống
chúng con!
ཨཱོྃ་ཨཱཿཧཱུྃ་བཛྲ་གུ་རུ་པདྨ་ཐོད་ཕྲེང་རྩལ། བཛྲ་ས་མ་ཡ་སིདྡྷི་ཕ་ལ་ཧཱུྃ་ཨཱཿ
om ah hung benza guru pema tötreng tsal |
benza samaya siddhi pala hung ah
oṃ āḥ hūṃ vajra-guru padma tötreng
tsal | vajra samaya siddhi phala hūṃ āḥ
Khi kết thúc phần
thỉnh mời dòng lực gia trì trút xuống, hãy trì tụng thần chú của Đức Trì Minh
Vương Anh Hùng Quấn Tràng Đầu Lâu (Mighty Skull-Garland)[9]
một cách du dương.
Cuối cùng, hãy thu nhiếp các dòng lực
gia trì với câu:
ཧཱུྃ་ཧཱུྃ་ཧཱུྃ་གིས་བྱིན་བསྡུས་པས།
hung hung hung
hūṃ hūṃ hūṃ
Tất thảy các vị bản tôn biến
mãn khắp hư không đều hòa tan vào chính con, vào trú xứ này và vào các phẩm vật
cúng dường,
Và ban phúc gia trì cho vạn vật trở
thành luân xa trang nghiêm bất tận của thân, khẩu và ý.
***
| Translated by Han
Kop,
reviewed by Stefan
Mang and
edited by Corinne and Dan Ewen, for the Longchen Nyingtik Project, 2020.
https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/jigme-lingpa/descent-blessings-eight-vidyadharas
[1] Đoạn
văn này được trích từ tác phẩm ‘Chiếc Tráp Báu: Khung Sườn Cho Sự Thành Tựu, từ
Biển Hội Đấng Uy Nghi’ (dpal chen bka' 'dus rgya mtsho las/ sgrub pa'i khog
'bubs rin po che'i za ma tog)
[2] Mặc
dù có vẻ bề ngoài cực kỳ hung dữ, đáng sợ, nhưng Heruka không phải là quỷ dữ
hay thế lực tà ác. Ngược lại, Ngài chính là hiện thân oai mãnh của lòng bi mẫn
tột cùng và trí tuệ tối cao, xuất hiện để tiêu diệt bản ngã và các năng lượng
tiêu cực.
[3] biểu tượng tối cao của Bản ngã (Cái tôi), tâm
chấp ngã và vô minh nhị nguyên. Đại ma
vương kiêu ngạo: Theo các mật điển trường phái Ninh Mã (Nyingma), Rudra ban
đầu là một hành giả tu tập Mật tông nhưng do hiểu sai giáo pháp, bị tâm kiêu ngạo
và sân hận dẫn dắt. Anh ta cho rằng mình đã ngang hàng với Phật, từ đó đọa lạc
thành một chúa tể quỷ vô cùng hung hãn, tàn ác, muốn thống trị cả vũ trụ.[4] Bãi
tha ma không phải là nơi của sự sợ hãi, mà là cung điện của sự chứng ngộ.
[5]
Chư vị Bản tôn của Ba tòa, thường được gọi là Mandala Ba tòa (gdan gsum dkyil
‘khor), bao gồm: 1) chư vị Như Lai (Tathāgata) an trụ nơi các uẩn (skandha) và
giới (dhātu), 2) chư vị Nam Bồ Tát và Nữ Bồ Tát an trụ nơi các xứ (āyatana), và
3) chư vị Nam Bản tôn phẫn nộ và Nữ Bản tôn phẫn nộ an trụ nơi các chi thể (aṅga)."
[6] "Tại đây, mỗi phương trong số tám phương đều
liên kết với một bãi tha ma cụ thể. Có rất nhiều danh sách các bãi tha ma như vậy
xuất hiện trong cả Cựu phái (Ninh Mã) và Tân phái (Sarma), thường có những khác
biệt nhỏ về tên gọi và hình tướng. Thông thường, mỗi bãi tha ma sẽ có một cây
linh thiêng, Dạ-xoa (yakṣa), Thần định hướng, Long vương (nāga king), đám mây,
ngọn núi và bảo tháp (stūpa) liên kết riêng biệt. Trong bản văn này, chúng ta
cũng tìm thấy Tám vị Đại Nương (Great Ladies) như nàng Gaurī và Tám vị Đại Trì
Minh Vương (vidyādhara) như ngài Hūṃkāra được liên kết với một bãi tha ma. Xem
thêm tác phẩm của Jamgön Kongtrul Lodrö Tayé, Kho tàng Tri thức: Sách Tám,
Phần Ba: Các Yếu tố của Thực hành Mật tông (Ithaca, N.Y: Snow Lion, 2008),
trang 288, chú thích 40."
[7] Cool
Grove: Tiếng Phạn là Śītavana (Hán-Việt thường dịch là Thi Hàn
Lâm hoặc An Lạc Lâm), đây là bãi tha ma nổi tiếng nhất ở phương
Đông, nằm gần Bodhgaya (Bồ Đề Đạo Tràng). Đây cũng chính là nơi ngài Garab
Dorje và ngài Mañjuśrīmitra truyền trao giáo pháp Dzogchen đầu tiên.
[8] Bảo
tháp Śaṅkarakūṭa tọa lạc tại trung tâm của bãi tha ma Śītavana (An Lạc
Lâm / Thi Hàn Lâm) ở phương Đông. Trong thế giới vật lý, bãi tha ma này nằm gần
Bodhgaya (Bồ Đề Đạo Tràng, Ấn Độ) – nơi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo.
[9] Tib. Tötreng
Tsal. ↑

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét