Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2026

Nghi Thức Tụng Chú Và Quán Tưởng Được Mở Rộng Nhẹ Cho Vòng Tu Tập Nội Mật Của Đại Bát Mạn-Đà-La

  Expanded Kagyé Recitation and Visualization | Lotsawa House

Slightly Expanded Liturgy of the Mantra Recitation and Visualization for the Innermost Cycle of the Eight Great Maṇḍalas1

Tác giả: Chokgyur Dechen Lingpa
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển



***

Nếu diễn giải thêm, thì việc tụng chú có ba phần.

1.    Giai đoạn tiếp cận các bổn tôn Hòa Bình

Hūṃ. Các vị thần hòa bình an tọa trong hai bàn tay của Mahottara.

Trong trái tim của Mahottara là chủng tự (hạt giống âm tiết) của sinh mệnh các vị ấy, được bao quanh bởi mật ngôn, từ đó tỏa ra những tia sang.
Cúng dường đến vô lượng chư vị chiến thắng của Ba Gốc (Tam Căn)(3)
và mang trở lại các gia trì cùng các thành tựu (siddhi), rồi tất cả tan hòa vào trong con.

ཨཱོྃ་བོ་དྷི་ཙིཏྟ་མ་ཧཱ་སུ་ཁ་ཛྙཱ་ན་དྷཱ་ཏུ་ཨཱ༔

om bodhitsitta mahasukha jnana dhatu a

oṃ bodhicitta-mahāsukha jñāna-dhātu āḥ

Bằng việc trì tụng thần chú tiếp cận ba trăm nghìn lần,
bạn sẽ viên mãn được gia trì, năng lực và sức mạnh của nó.

2. Giai đoạn Thành tựu của các Vị Phẫn Nộ

Hūṃ. Trong trái tim của Mahottara, vị chủ của chín hội chúng,
ở trung tâm của một luân
xa nhật–nguyệt hợp nhất,
là chủng tự sinh mệnh, được bao quanh bởi vòng hoa mật
ngôn.
Việc trì tụng mật ngôn khơi dậy tâm trí tuệ của Mahottara,
và những tia sáng tỏa ra sẽ thanh tịnh hóa mọi chấp thủ đối với thế giới và chúng sinh.

Tướng hiện rỗng không chính là vị bổn tôn, âm thanh rỗng không chính là mật ngôn,
và nhận thức rỗng không chính là quang minh—đó là Đại Thủ
Ấn (Mahāmudrā),
nhờ đó ta
trở nên bất khả phân ly với Heruka.

ཨཱོྃ་བཛྲ་ཙཎྜ་སརྦ་དུཥྚཱན་ཏ་ཀ་ཧ་ན་ད་ཧ་པ་ཙ་ཧཱུྃ་ཕཊ྄༔

om benza tsenda sarva dushten takahana dahapatsa hung pé

oṁ vajra-caṇḍa-sarva-ḍuṣtāntaka hana daha paca hūṁ phaṭ

Nếu bạn trì tụng thần chú thành tựu mật bốn trăm nghìn lần,
năng lực của bạn sẽ trở nên tương đương với chính đấng
Uy Nghiêm.

3. Giai đoạn Phổ thông của Việc Ứng Dụng Hành Động

Hūṃ. Chính ta là các vị bổn tôn của mạn-đà-la.
Từ hình tướng của các ngài và những vòng hoa mật
ngôn tỏa ra ánh sáng, vũ khí,
và những dòng sứ giả kiêu hãnh, tất cả tụ hội như những chùm sao.

Chúng lan tỏa khắp ba thế giới và vận hành qua ba cõi,
viên mãn các hoạt động giác ngộ—tức tai, tăng ích, nhiếp phục và phẫn nộ.

Đặc biệt, tất cả những chúng sinh hung dữ, bất thiện đều được triệu thỉnh, giải thoát, chuyển hóa,
và tan hòa vào pháp giới (dharmadhātu),
nơi ngay cả tên gọi của họ cũng không còn tồn tại.

ཨཱོྃ་བཛྲ་མ་ཧཱ་ཀྲོ་དྷ་པདྨ་ཀྲོ་དྷཱི་ཤྭ་རཱི་བཛྲ་ཀཱི་ལི་ཀཱི་ལ་ཡ་མ་ཧཱ་ཡཀྵ་ཀཱ་ལ་རཱུ་པ་ཀརྨ་རཾ་རཾ་ཛྭ་ལ་རཾ་ཧཱུྃ་ཕཊ྄༔

om benza maha krodha pema krodhi shori benza kili kilaya maha yaksha kala rupa karma ram ram dzala ram hung pé

oṃ vajra-mahā-krodha-padma-krodhīśvari vajra-kīli kīlaya mahā-yakṣa kālarūpa karma raṃ raṃ jvala raṃ hūṃ phaṭ

 

***

Nếu bạn trì tụng thần chú ứng dụng hành động mười nghìn lần,
bất kỳ hoạt động giác ngộ nào bạn khởi xướng đều sẽ được thành tựu.

Samaya.

Ở đây, tôi đã trích nghi quỹ tụng chú và quán tưởng từ Kagyé Drekpa Kundül, như được khai lộ bởi Dechen Lingpa. Các thần chú cho các giai đoạn tiếp cận, thành tựu và hành động tôi lấy trực tiếp từ bản văn kho tàng của chính mình và bổ sung vào đây. Nguyện công đức tăng trưởng!

  

| Translated by Han Kop in 2023 during the Kagye Deshek Düpa Drupchen at Mount Malaya. Reviewed and edited by Samye Translations, 2024 (Stefan Mang and Libby Hogg).

 

Source:

mChog gyur gling pa. "gsang skor bka' brgyad kyi bzlas dmigs cung zad spros pa'i ngag 'don", in rin chen gter mdzod chen mo. New Delhi: Shechen Publications, 2007. Vol. 62: 357–358.

 

Version: 1.0-20240717

1.     Tib. Kagyé (bka’ brgyad).

2.     Bản văn được nhắc tới là Kagyé Drekpa Kundül (bka' brgyad dregs pa kun 'dul), được khai lộ bởi Longpo Samten Dechen Lingpa. Tác phẩm này sau đó được tái khai lộ bởi Jamyang Khyentse Wangpo và hiện được bao gồm trong tuyển tập kho tàng Rinchen Terdzö (Rinchen Terdzö).

3.    Tam căn: 1)Lama ban phúc lành, Yidam ban sự chứng ngộ, Hộ pháp dẹp tan trở ngại.

 

Phụ thích:

Trong Phật giáo Kim Cương thừa, Mahottara (tiếng Tây Tạng: Chemchok) thường được gọi đầy đủ là Mahottara Heruka, là một vị Bản tôn (Yidam) phẫn nộ tối cao và cực kỳ oai lực. 

Dưới đây là những ý nghĩa chính của Mahottara:

  • Hiện thân của Phật Nguyên thủy: Mahottara được xem là hóa thân phẫn nộ của Đức Phật Phổ Hiền (Samantabhadra), đại diện cho năng lượng chuyển hóa những trạng thái nội tâm tiêu cực thành trí tuệ giác ngộ.
  • Vị đứng đầu trong Tám đại Heruka: Trong truyền thống Nyingma, Ngài là vị chủ tể trong Mandala của Tám bộ Heruka (Kagye). Ngài tượng trưng cho các phẩm hạnh giác ngộ tổng hợp của tất cả chư Phật.
  • Hình tướng phẫn nộ: Mahottara thường được mô tả với hình tướng đáng sợ để hàng phục ma vương và các chướng ngại. Ngài thường xuất hiện với thân màu xanh đậm hoặc nâu đỏ, có nhiều đầu (thường là 21), nhiều tay (42) và nhiều chân, đứng trong tư thế hợp nhất với phối ngẫu (Yab-Yum).
  • Vai trò trong Bardo: Ngài là một trong những vị thần xuất hiện trong trạng thái trung gian (Bardo) sau khi chết để hướng dẫn thần thức vượt qua nỗi sợ hãi và đạt đến giải thoát.
  • Ý nghĩa biểu tượng: Theo một số hệ phái như True Buddha School, Mahottara là hóa thân từ ánh sáng của Phật A Đề Phật Đà (Adharma Buddha), phát ra 100 đạo hào quang để cứu độ chúng sinh. 

Vì vậy, danh hiệu Mahottara Heruka thường được dịch sang âm Hán-Việt là:

1.    Đại Thắng Hắc Như Lai (大勝黑如來): Đây là tên gọi phổ biến nhất trong các kinh văn chữ Hán. "Hắc Như Lai" là cách gọi khác của Heruka (vị Phật phẫn nộ thường có thân màu tối).

2.    Đại Siêu Việt hoặc Tối Thắng: Nhấn mạnh vào vị thế là bậc cao nhất trong các tập hội chư Thần phẫn nộ.

Trong các bản kinh phái Cổ Mật (Nyingma), Ngài còn được gọi là Đại Vinh Quang Heruka (Srivajra Mahottara Heruka).

 

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/chokgyur-dechen-lingpa/chokling-kagye-expanded-visualization-recitation

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét