Expanded Kagyé Recitation and Visualization | Lotsawa House
Slightly Expanded Liturgy of the Mantra Recitation and Visualization for the Innermost Cycle of the Eight Great Maṇḍalas1
Tác giả: Chokgyur Dechen Lingpa
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***
Nếu diễn giải thêm, thì việc tụng chú có ba
phần.
1.
Giai
đoạn tiếp cận các bổn tôn Hòa Bình
Hūṃ. Các vị thần hòa bình an tọa trong hai
bàn tay của Mahottara.
Trong trái tim của
Mahottara là chủng tự (hạt giống âm tiết) của sinh mệnh các
vị ấy, được bao quanh bởi mật
ngôn, từ đó tỏa ra những tia sang.
Cúng dường đến vô lượng chư vị chiến thắng của Ba Gốc (Tam Căn)(3)
và mang trở lại các gia trì cùng các thành tựu (siddhi), rồi tất cả tan
hòa vào trong con.
ཨཱོྃ་བོ་དྷི་ཙིཏྟ་མ་ཧཱ་སུ་ཁ་ཛྙཱ་ན་དྷཱ་ཏུ་ཨཱ༔
om bodhitsitta
mahasukha jnana dhatu a
oṃ bodhicitta-mahāsukha jñāna-dhātu āḥ
Bằng việc trì tụng thần chú tiếp cận ba trăm nghìn lần,
bạn sẽ viên mãn được gia trì, năng lực và sức mạnh của nó.
2. Giai đoạn Thành tựu của các Vị Phẫn Nộ
Hūṃ. Trong trái tim của Mahottara, vị chủ
của chín hội chúng,
ở trung tâm của một luân xa nhật–nguyệt hợp
nhất,
là chủng tự sinh mệnh, được bao quanh bởi vòng hoa mật
ngôn.
Việc trì tụng mật ngôn khơi dậy tâm
trí tuệ của Mahottara,
và những tia sáng tỏa ra sẽ thanh tịnh hóa mọi chấp thủ đối với thế giới và
chúng sinh.
Tướng hiện rỗng không chính là vị bổn tôn, âm thanh rỗng không chính là mật
ngôn,
và nhận thức rỗng không chính là quang minh—đó là Đại Thủ
Ấn (Mahāmudrā),
nhờ đó ta trở nên bất khả phân ly với Heruka.
ཨཱོྃ་བཛྲ་ཙཎྜ་སརྦ་དུཥྚཱན་ཏ་ཀ་ཧ་ན་ད་ཧ་པ་ཙ་ཧཱུྃ་ཕཊ྄༔
om benza tsenda sarva
dushten takahana dahapatsa hung pé
oṁ vajra-caṇḍa-sarva-ḍuṣtāntaka hana daha paca
hūṁ phaṭ
Nếu bạn trì tụng thần
chú thành tựu mật bốn trăm nghìn lần,
năng lực của bạn sẽ trở nên tương đương với chính đấng Uy Nghiêm.
3. Giai đoạn Phổ thông của Việc Ứng Dụng Hành
Động
Hūṃ. Chính ta là các vị bổn
tôn của mạn-đà-la.
Từ hình tướng của các ngài và những vòng hoa mật ngôn
tỏa ra ánh sáng, vũ khí,
và những dòng sứ giả kiêu hãnh, tất cả tụ hội như những chùm sao.
Chúng lan tỏa khắp ba thế giới và vận hành qua ba cõi,
viên mãn các hoạt động giác ngộ—tức tai, tăng ích, nhiếp phục và phẫn nộ.
Đặc biệt, tất cả những chúng sinh hung dữ, bất thiện đều được triệu
thỉnh, giải thoát, chuyển hóa,
và tan hòa vào pháp giới (dharmadhātu),
nơi ngay cả tên gọi của họ cũng không còn tồn tại.
ཨཱོྃ་བཛྲ་མ་ཧཱ་ཀྲོ་དྷ་པདྨ་ཀྲོ་དྷཱི་ཤྭ་རཱི་བཛྲ་ཀཱི་ལི་ཀཱི་ལ་ཡ་མ་ཧཱ་ཡཀྵ་ཀཱ་ལ་རཱུ་པ་ཀརྨ་རཾ་རཾ་ཛྭ་ལ་རཾ་ཧཱུྃ་ཕཊ྄༔
om benza maha krodha pema krodhi shori benza kili kilaya maha
yaksha kala rupa karma ram ram dzala ram hung pé
oṃ vajra-mahā-krodha-padma-krodhīśvari
vajra-kīli kīlaya mahā-yakṣa kālarūpa karma raṃ raṃ jvala raṃ hūṃ phaṭ
***
Nếu bạn trì tụng thần
chú ứng dụng hành động mười nghìn lần,
bất kỳ hoạt động giác ngộ nào bạn khởi xướng đều sẽ được thành tựu.
Samaya.
Ở đây, tôi đã trích
nghi quỹ tụng chú và quán tưởng từ Kagyé Drekpa Kundül, như được khai lộ
bởi Dechen Lingpa. Các thần chú cho các giai đoạn tiếp cận, thành tựu và
hành động tôi lấy trực tiếp từ bản văn kho tàng của chính mình và bổ sung
vào đây. Nguyện công đức tăng trưởng!
| Translated by Han Kop in 2023 during the Kagye Deshek
Düpa Drupchen at Mount Malaya. Reviewed and edited by Samye Translations, 2024 (Stefan Mang and Libby Hogg).
Source:
mChog gyur gling pa. "gsang skor bka'
brgyad kyi bzlas dmigs cung zad spros pa'i ngag 'don", in rin chen
gter mdzod chen mo. New Delhi: Shechen Publications, 2007. Vol. 62:
357–358.
Version: 1.0-20240717
1.
↑ Tib.
Kagyé (bka’ brgyad).
2.
↑ Bản
văn được nhắc tới là Kagyé Drekpa Kundül (bka' brgyad dregs pa kun 'dul),
được khai lộ bởi Longpo Samten Dechen Lingpa. Tác phẩm này sau đó được tái khai lộ bởi Jamyang
Khyentse Wangpo và hiện được bao gồm trong tuyển tập kho tàng Rinchen Terdzö
(Rinchen Terdzö).
3.
Tam căn: 1)Lama ban phúc lành, Yidam ban
sự chứng ngộ, Hộ pháp dẹp tan trở ngại.
Phụ thích:
Trong Phật giáo Kim Cương thừa, Mahottara (tiếng
Tây Tạng: Chemchok) thường được gọi đầy đủ là Mahottara
Heruka, là một vị Bản tôn (Yidam) phẫn nộ tối cao và cực kỳ oai lực.
Dưới đây là những ý nghĩa chính của Mahottara:
- Hiện
thân của Phật Nguyên thủy: Mahottara được xem là
hóa thân phẫn nộ của Đức Phật Phổ Hiền (Samantabhadra), đại
diện cho năng lượng chuyển hóa những trạng thái nội tâm tiêu cực thành trí
tuệ giác ngộ.
- Vị
đứng đầu trong Tám đại Heruka: Trong truyền thống
Nyingma, Ngài là vị chủ tể trong Mandala của Tám bộ Heruka (Kagye). Ngài
tượng trưng cho các phẩm hạnh giác ngộ tổng hợp của tất cả chư Phật.
- Hình
tướng phẫn nộ: Mahottara thường được mô tả với hình
tướng đáng sợ để hàng phục ma vương và các chướng ngại. Ngài thường xuất
hiện với thân màu xanh đậm hoặc nâu đỏ, có nhiều đầu (thường là 21), nhiều
tay (42) và nhiều chân, đứng trong tư thế hợp nhất với phối ngẫu
(Yab-Yum).
- Vai
trò trong Bardo: Ngài là một trong những vị thần xuất
hiện trong trạng thái trung gian (Bardo) sau khi chết để hướng dẫn thần thức
vượt qua nỗi sợ hãi và đạt đến giải thoát.
- Ý
nghĩa biểu tượng: Theo một số hệ phái như True Buddha School, Mahottara là hóa thân từ ánh sáng
của Phật A Đề Phật Đà (Adharma Buddha), phát ra 100 đạo hào quang để cứu độ
chúng sinh.
Vì vậy, danh hiệu Mahottara
Heruka thường được dịch sang âm Hán-Việt là:
1.
Đại Thắng Hắc Như Lai (大勝黑如來):
Đây là tên gọi phổ biến nhất trong các kinh văn chữ Hán. "Hắc Như
Lai" là cách gọi khác của Heruka (vị Phật phẫn nộ thường có thân màu tối).
2.
Đại Siêu Việt hoặc Tối
Thắng: Nhấn mạnh vào vị thế là bậc cao nhất trong các tập hội chư Thần phẫn
nộ.
Trong các bản kinh phái Cổ Mật
(Nyingma), Ngài còn được gọi là Đại Vinh Quang Heruka (Srivajra
Mahottara Heruka).

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét