Nghi thức đặc biệt cho Ngày Hộ Pháp (29 âm lịch) hoặc bất kỳ ngày nào bạn cần giúp đỡ.
4
Heavenly Kings Puja and Mantras: Special Practice for Protector Day (29th
Lunar) or Any Day You Need Help
VIệT dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***
- Đông
Phương Trì Quốc Thiên Vương (Dhṛtarāṣṭra): Màu
trắng, cầm đàn tỳ bà. Tượng trưng cho sự trách nhiệm, giữ gìn đất nước
(Trì Quốc) và sự hài hòa (nhạc khí).
- Nam
Phương Tăng Trưởng Thiên Vương (Virūḍhaka): Màu
xanh lam, cầm thanh bảo kiếm. Tượng trưng cho sự tăng trưởng trí tuệ, khả
năng bảo vệ Phật pháp (Trường Phong).
- Tây
Phương Quảng Mục Thiên Vương (Virūpākṣa):
Màu đỏ, tay quấn con rắn hoặc cầm dù. Tượng trưng
cho việc quan sát kỹ lưỡng thế giới (Quảng Mục) và khả năng ứng biến.
- Bắc
Phương Đa Văn Thiên Vương (Vaiśravaṇa): Màu lục, cầm
dù (bảo bối). Tượng trưng cho sự thông tuệ, học hỏi nhiều (Đa Văn) và bảo
vệ chúng sinh (Vũ).
Tứ Thiên Vương là những bậc duy trì gìn giữ Tứ Đức trong
Phật giáo và bảo hộ Tứ Phương, những người đã thề nguyện bảo vệ Phật pháp và
các Phật tử. Việc thờ cúng và cúng dường có thể được thực hiện vào bất kỳ ngày
nào, nhưng đặc biệt là vào ngày 29 âm lịch. Ở trên cùng là vị vua đứng đầu, Đa Văn Thiên Vương (Vaisravana),
vua phương Bắc; bên phải phía Đông là Trì
Quốc Thiên Vương (Dhṛtarāṣṭra), “Người giữ gìn vương quốc bằng đàn tỳ bà”;
phía trước là Quảng
Mục Thiên Vương (Virūpākṣa), “Người nhìn thấy tất cả” và Tăng Trưởng Thiên Vương (Virūḍhaka),
“Người làm cho mọi sự phát triển” thông qua sự bình đẳng và trí tuệ vĩ đại của
mình.
Trong Phật giáo, nơi
nương tựa của chúng ta luôn là Tam Bảo, Phật Pháp và Tăng đoàn. Trong những lúc
cần giúp đỡ, xung đột, đau khổ, chiến tranh và bất hạnh, chúng ta đều hướng về
nơi nương tựa này. Chúng ta cũng cầu xin sự giúp đỡ từ các vị Hộ pháp.
Trong phạm vi của Tam Bảo, Bảo thứ ba là Tăng đoàn, bao gồm
Tứ Thiên Vương, những người đã thề nguyện giữ gìn Pháp và Tứ Đức, và bảo vệ các
hành giả. Vì lý do này, họ được gọi là “Tứ Thiên Vương”, và khi chúng ta cầu
xin sự giúp đỡ của họ, chúng ta cũng giúp họ giữ lời hứa trong lời nguyện cuối
cùng của mình:
“Tôi sẽ không nghỉ
ngơi cho đến khi mọi chúng sinh được giải thoát khỏi khổ đau.”
Đây cũng là lời hứa của
họ. Họ là Tứ Hộ Môn, Tứ Đức (tứ vô lượng
tâm). Họ đã hứa với Đức Phật cùng một điều: “Ta sẽ không nghỉ ngơi cho đến khi mọi chúng sinh được giải thoát.”
Để đọc bài viết đầy đủ về Tứ Hộ Môn và Tứ Đức, hãy xem .” For
our Full Feature on the Four Kings and the Four Virtues see>> >>
Chúng ta không cầu nguyện với Tứ Thiên Vương như những vị
thần thế tục, mà như những vị hộ pháp đáng kính, chính những vị ấy cũng cúi lạy
Đức Phật — và đã thề nguyện giữ gìn Phật pháp và bảo vệ Tăng đoàn (cùng các tín
đồ).
Bốn Cung Điện của Bốn Vị Vua
Trong truyền thống Phật
giáo, Bốn Cung Điện của Bốn Vị Vua không chỉ nằm ở bốn hướng tượng trưng. Các vị
vua là những người bảo hộ bốn đức hạnh và bốn cung điện của họ là Tứ Vô Lượng
Tâm, nền tảng của Phật giáo
Mỗi vị trong Tứ Vương bảo
hộ một trong những Đức Tính Vĩ Đại, còn được gọi là Phạm Trú (Brahmavihara) —
là sự thể hiện cao cả của Phật giáo Đại thừa. Đó là:
*Từ: lòng từ ái (mettā)
*Bi: lòng bi mẫn, trắc ẩn, thương xót (karuṇā)
*Hỉ: niềm vui đồng cảm (muditā) và
*Xả: sự bình đẳng (upekkhā).
Bốn Tâm Vô Lượng được gọi là Bốn
Cung điện của các Vua Trời. Các ngài không ngự trong những cung điện nạm ngọc,
mà ngự trong lòng từ bi, thương xót, vui sướng và bình đẳng.
Vì lý do này, việc tụng niệm Tứ Vô Lượng Tâm là một việc
làm bắt buộc mỗi khi bạn tỏ lòng tôn kính các vị vua trời. Bằng cách giữ gìn Tứ Vô Lượng Tâm, bạn
giữ gìn Bốn Cung điện của Tứ Thiên Vương – và các vị, đến lượt họ, giúp bạn giữ
gìn Tứ Đức (tứ vô lượng tâm).
Tứ Thiên Vương
Là những người gìn giữ Đức
hạnh, là những người bảo vệ quyền năng, trong hầu hết các miêu tả, các ngài đều
xuất hiện với vẻ nghiêm nghị và gần như giống như những chiến binh, nhưng bản
chất của các ngài chính là tứ đức. Sự hung dữ và vóc dáng chiến binh của họ tượng
trưng cho quyền năng to lớn của các ngài.
Đa
Văn Thiên Vương (Vaiśravaṇa)
“Người Nghe Tất Cả”, vị vua phương Bắc và là người đứng đầu các Thiên Vương, ngự
tại Cung Điện Từ Bi, duy trì đức Karuna hay Bi Mẫn thông qua sự an lành và thịnh
vượng để chúng ta có thể thực hành Phật pháp. Ngài giúp bảo vệ sự thịnh vượng của
chúng ta, để chúng ta có thể giúp đỡ bản thân và người khác, và thực hành Phật
pháp. Ngài là một hóa thân của Hoàng Thần Tài (Jambhala Vàng).
Trì
Quốc Thiên Vương (Dhṛtarāṣṭra) “Người nâng đỡ thế giới” là vị vua ở phương
Đông trong CUNG ĐIỆN NIỀM VUI, nâng đỡ đức hạnh của Hỉ, Niềm vui đồng cảm hay
muditā.
Trì
Quốc Thiên Vương,
"Người Duy Trì Thế Giới", là vị vua phương Đông trong Cung Điện Niềm
Vui, duy trì đức hạnh của Hỉ, Niềm Vui Đồng Cảm hay muditā, đảm bảo sự hài hòa
của thế giới thông qua cảm hứng từ âm nhạc và nghệ thuật. Vua phương Đông, Trì Quốc Thiên Vương, được tôn vinh vì duy trì quốc gia và ngăn chặn sự sai lệch
của Phật pháp. Ngài bảo vệ chúng sinh trong vương quốc của mình, khuyến khích sự
hài hòa, hiểu biết và tôn trọng Phật pháp, trong khi cầm một cây đàn tỳ bà, biểu
tượng cho sự hài hòa mà ngài bảo vệ.
Tăng
Trưởng Thiên Vương (Virūḍhaka),
"Người làm cho mọi sự phát triển", vị vua phương Nam trong Cung Điện
Bình Đẳng, là người gìn giữ đức Xả, Bình Đẳng hay upekkhā và thúc đẩy sự phát
triển và trí tuệ. Vua phương Nam, Tăng
Trưởng Thiên Vương, nổi
tiếng với việc gia tăng lòng tốt, mang theo một thanh kiếm – biểu tượng cho trí
tuệ vượt qua vô minh, thúc đẩy sự phát triển và nuôi dưỡng sự hiểu biết để tất
cả chúng sinh cùng trưởng thành trong Chánh Pháp.
Quảng
Mục Thiên Vương (Virūpāksha) “Người nhìn thấy tất cả”, vị vua phương Tây
trong CUNG ĐIỆN TỪ THIỆN, là người gìn giữ lòng từ bi hay Metta.
Quảng
Mục Thiên Vương, "Người nhìn
thấy tất cả", vị vua phương Tây trong Cung điện Từ ái, là người gìn giữ lòngTừ,
từ ái hay Metta, thông qua sức mạnh của Phật pháp thiêng liêng, được tượng
trưng bởi bảo tháp của ngài. Vua phương Tây, Quảng
Mục Thiên Vương, nhìn thấy tất cả
những gì xảy ra trong cõi giới, phát hiện và ngăn chặn mọi mối đe dọa đối với
Phật pháp. Con rắn và bảo tháp của ngài là biểu tượng cho sự cảnh giác bền bỉ của
ngài.
Trong Phật giáo, Tứ Thiên Vương là những bậc Thủ Hộ trì
gìn giữ Tứ Đức Phật giáo, bảo hộ Pháp và các tín đồ Pháp.
Ngày 29 hàng tháng: Ngày đặc biệt
Đặc biệt là vào các ngày
lễ Hộ pháp, mà chúng ta cử hành trong truyền thống Đại thừa vào ngày 29 hàng
tháng theo lịch âm — cầu xin sự bảo hộ trong tháng âm lịch sắp tới, chúng ta
dâng cúng lễ vật, tán tụng và niệm chú, cầu xin Tứ Thiên Vương giúp đỡ chúng
ta, với tư cách là thành viên Tăng đoàn đã thề nguyện bảo vệ, và cũng tự hứa sẽ
giúp đỡ tất cả chúng sinh.
Hôm nay chúng ta cùng
hân hoan chào đón sản phẩm mới tuyệt đẹp của 3 ngôi Báu, ban đầu là một đĩa đơn
trên nền tảng phát nhạc trực tuyến mang tên “4 Heavenly Kings Puja and
Mantras”, một bài thực hành ngắn gọn 8 phút bằng tiếng Phạn — và sau đó được
phát hành như một phần của mini album với các bản nhạc dài hơn về mật ngôn bốn
vị vua. Lời bài hát của nghi lễ Puja này — mà bất cứ ai cũng có thể thực hiện —
được viết bằng tiếng Phạn kèm chú giải tiếng Anh bên dưới.
Nghi Lễ hiến cúng và mật ngôn 4 vị Thiên Vương
Quy y Tam Bảo
trīṇi ratnāni śaraṇaṃ yāmi bodhāya dehinām |
buddho
dharmo gaṇo yāvat saṃsāraḥ kṣīyate mama || 1 |
Con xin quy y Tam Bảo —
Vì sự giác ngộ của tất cả chúng
sinh,
Nguyện nương tựa nơi Phật, Pháp và Tăng,
Cho đến khi luân hồi của con được đoạn tận.
Cúng Dường Và Nguyện Vọng
dhyātā vastūni bhautāni puṣpadhūpārpitaṃ tathā |
ghṛtadīpāṃśu
gandhānnaṃ gītavādyāni sarvaśaḥ ||
buddhabodhisattvāś
ca catvāro mahārājānaḥ |
gṛhṇantu
kāruṇyayuktaṃ yat kiṃcid upapāditaṃ || 2 ||
Chúng con hành
thiền quán tưởng các vật cúng dường,
Như hoa, hương, cùng các phẩm vật được dâng hiến,
Đèn bơ, hương thơm, thức ăn,
Cùng mọi âm nhạc, ca hát, nhạc cụ.
Chư Phật, chư Bồ Tát,
và Tứ Đại Thiên Vương,
Xin hãy từ bi thọ nhận
Tất cả những gì chúng con
dâng cúng, dù ít ỏi.**
Lời sám hối lỗi lầm của chúng ta: Dòng suối không đứt đoạn
anādikālataḥ pāpaṃ kleśavaśyena yat kṛtaṃ |
daśākuśalavarjitaṃ
sarvaṃ deṣayāmy ahaṃ || 3 ||
Từ vô thủy đến nay, mọi tội lỗi
Do bị phiền não chi phối mà con đã gây tạo,
Tất cả những điều bất thiện (trái với mười thiện),
Con xin sám hối hết thảy.
Tùy Hỉ: Vui mừng trước những công đức: Loại bỏ lòng đố kỵ
śrāvakaiḥ pratyekabuddhaiḥ bodhisattvaiḥ pṛthagjanaiḥ |
triṣu
kāleṣu yaḥ puṇyo ’numode ’ham aśeṣataḥ || 4 ||
Mọi công đức do hàng Thanh văn, Duyên giác, Bồ Tát
Và cả phàm phu tạo nên
Trong ba thời (quá khứ, hiện tại, vị lai),
Con đều tùy hỷ trọn vẹn không sót.
Thỉnh chuyển pháp luân: Xoay chuyển bánh xe Pháp
yathāśayādhāra sattvacittāny anekadharmāya dharmacakram |
pravartaya
tvaṃ karuṇodayena sthiteṣu lokeṣu sadā vibho || 5 ||
Tùy theo căn cơ và tâm ý của chúng sinh,
Vì muôn pháp sai biệt,
Xin Ngài vận chuyển bánh xe Chánh pháp,
Do lòng đại bi khởi lên,
Và luôn hiện hữu giữa thế gian, hỡi bậc Tôn quý.
Lời nguyện Bồ Tát: Lòng từ bi vô song
yāvadākāśaniḥśeṣaṃ na nirvāṇaṃ samāviśaḥ |
duḥkhaughamagnaṃ
satvaṃ taṃ paśya kāruṇyacakṣuṣā || 6 |
Chừng nào hư không còn chưa cùng tận,
Nguyện Ngài chưa nhập Niết-bàn,
Xin hãy dùng con mắt từ bi mà quán sát
Những chúng sinh đang chìm trong biển khổ.
Hồi Hướng Công Đức
yenedaṃ kupuṇyaṃ me tan bodhāyaiva saṃskṛtaṃ |
sarvasattvārtham
eva astu mokṣahetuḥ samāhitaḥ || 7 ||
Nhờ công đức nhỏ bé này của con được tạo tác,
Nguyện tất cả đều hướng về sự giác ngộ,
Vì lợi ích của hết thảy chúng sinh,
Và trở thành nhân duyên đưa đến giải thoát.
Tứ Vô Lượng Tâm (4 cung điện của tâm)
sukhaṃ sukhāya hetuś ca bhaveyuḥ sarvadehinaḥ |
duḥkhāduḥkhāya
hetuś ca na syāt kleśasamudbhavaḥ ||
yad
duḥkhādyam atītaṃ sukhaṃ tat teṣu na viyujyatām |
rāgadveṣavinirmukta
upekṣā samatā mahī || 8 ||
Mong rằng tất cả hữu tình đều được an lạc và nhân duyên của an lạc,
Và không còn khổ đau hay nhân duyên của khổ đau do phiền não sinh ra.
Mọi khổ đau đã qua
nguyện không còn tái hiện,
Và an lạc ấy không rời khỏi họ.
Nguyện đất tâm bình đẳng
rộng lớn,
Không còn tham ái và sân hận, an trú trong xả và bình đẳng
Tóm Tắt 7 Điều Quán Nguyện
iti vandanapūjā ca deśanānumodanā |
bodhicittadvayaṃ
puṇyaṃ samudīritam āditaḥ || 9 ||
Như vậy, lễ bái, cúng dường, sám hối và tùy hỷ,
Cùng hai loại tâm Bồ-đề,
Được tuyên thuyết là công đức (thiện hạnh)
Ngay từ khởi đầu.
Hoạt động tập hợp trí tuệ
caturmahārājakīrtanān mayā saṃcīyate jñānaṃ dayākriyā |
dhanaṃ
puṇyaṃ samāhitaṃ mantrarājair udīritaiḥ || 10 ||
Do sự xưng tán Tứ Đại Thiên Vương,
Con tích tập được trí tuệ, lòng từ bi và hành động thiện lành,
Cùng tài sản công đức được gom tụ trong tâm chánh niệm,
Nhờ các minh chú (mantra) vương được trì tụng.
Nguyện Cầu Bắc
namo vaiśravaṇāya kṣitipāla uttarasyāṃ diśi |
śṛṇvato
lokakāruṇyā puṇyavṛddhi namo ’stu te ||
Nam mô Đa Văn Thiên Vương, vị hộ trì giữ gìn phương Bắc,
Ngài lắng nghe với lòng từ bi đối với thế gian,
Xin kính lễ Ngài, đấng làm tăng trưởng công đức.
Mật Ngôn Bắc
oṃ vaiśravaṇa ye svāhā. (3 lần)
Nguyện Cầu Đông
pūrvasyāṃ dhṛtarāṣṭrāya jagaddhātre mudānvite |
kalāśilpaikagītāya
namaḥ puṣṭyai namo ’stu te ||
Kính lễ Ngài Trì Quốc Thiên Vương, vị hộ trì
phương Đông,
Đấng nâng đỡ thế gian, luôn hoan hỷ,
Bậc tinh thông âm nhạc và nghệ thuật,
Xin kính lễ Ngài, đấng ban sự sung mãn, phồn thịnh.
Mật Ngôn Đông
oṃ dhṛtarāṣṭra ralā pravādha na svāha (3 lần)
Nguyện Cầu Nam
dakṣiṇasyāṃ virūḍhākṣa upekṣādharmadhāriṇe |
vṛddhikāraka
mahārāja namaste ’stu namo namaḥ ||
Kính lễ Ngài Tăng Trưởng Thiên Vương, vị hộ trì
phương Nam,
Đấng giữ gìn chánh pháp với tâm xả (upekṣā),
Bậc Đại vương làm tăng trưởng và phát triển,
Xin đảnh lễ Ngài, thành tâm kính
lễ.
Mật Ngôn Nam
oṃ virūḍhaka kuṃ bhāṃ ḍādhipata ye svāhā (3 lần)
Nguyện Cầu Tây
paścimāyāṃ virūpākṣa maitrīdharma virājin |
sarvalokasya
rakṣāya sadā jāgarti te namaḥ ||
Kính lễ Ngài Quảng Mục Thiên
Vương, vị hộ trì phương Tây,
Đấng rực sáng với chánh pháp của lòng từ (maitrī),
Vì sự bảo hộ của tất cả thế gian,
Ngài luôn tỉnh thức canh giữ — xin kính lễ Ngài.
Mật Ngôn Tây
oṃ virūpākṣha nāgā dhipata ye svāhā. (3 lần)
Hồi Hướng Công Đức Cho Tất Cả Chúng Sinh
ratnatrayaguṇenaiva caturrājaprasādataḥ |
yatra
yatra vayaṃ sarve rogadāridryakalahāḥ ||
śāmyantu
duritā ghoraḥ sadā dharmodayaṃ bhavet |
maṅgalaṃ
ca samṛddhaṃ syāt sarvasattvārthabodhaye || 11 ||
sarvasattvānukampārthaṃ
bodhim eva prāpnuyām || 12 ||
Nhờ công đức của Tam Bảo và ân đức của Tứ Đại Thiên
Vương,
Ở bất cứ nơi nào chúng con hiện hữu,
Mọi bệnh tật, nghèo khổ và tranh chấp
Xin đều được lắng dịu.
Mọi ác nghiệp và khổ nạn dữ dội
Nguyện tiêu trừ, và Chánh pháp luôn được hưng khởi,
Mọi điềm lành và thịnh vượng được viên mãn,
Vì lợi ích giác ngộ của tất cả chúng sinh.
Vì lòng thương xót tất cả hữu tình,
Con nguyện chỉ đạt đến giác ngộ tối thượng.**
***
Luận Giải Cho Nghi Lễ Hiến Cúng Tứ Thiên Vương
Lời quy y đầu tiên: Tam
Bảo (Câu 1)
Chúng ta bắt đầu, không
phải bằng cách chạy đến Tứ Thiên Vương, mà bằng cách thiết lập nền tảng quy y
Tam Bảo. Chúng ta quy y Tam Bảo – Phật, Pháp và Tăng. Chúng ta không cầu nguyện
các vị Thiên Vương như những vị thần của thế gian, mà như những bậc hộ pháp
đáng kính, những người cũng cúi lạy Phật. Sự quy y này được thúc đẩy bởi ước
nguyện giác ngộ (bodhāya) cho tất cả chúng sinh có thân (dehinām). Chừng nào
luân hồi còn tồn tại, sự quy y của chúng ta vẫn không bị gián đoạn.
Cúng dường & Nguyện vọng (Đoạn 2)
Ở đây, chúng ta hình
dung những lễ vật bên ngoài và bên trong: hoa, hương, đèn bơ, nước hoa, thức
ăn, âm nhạc. Nhưng lễ vật đích thực là sự nhập định (dhyātā) của chúng ta.
Chúng ta không chỉ mời gọi Tứ Đại Vương mà còn tất cả chư Phật và Bồ Tát. Chúng
ta nói: “Bất cứ thứ gì đã được tạo ra—dù đơn giản đến đâu—hãy đón nhận nó với
lòng từ bi của Ngài.” Các vị vua không cần lễ vật vật chất của chúng ta; họ cần
sự thực hành chân thành của chúng ta. Lễ vật là tấm gương phản chiếu sự cam kết
của chúng ta.
Sám hối: Dòng suối không đứt đoạn (Câu 3)
Đêm trước Ngày Bảo Vệ là
thời gian thanh tẩy. Không xấu hổ, không che giấu, chúng ta thú nhận: “Từ thuở
vô thủy, dưới quyền lực của những phiền não (kleshas), con đã từ bỏ mười con đường
đức hạnh.” Chúng ta không thú nhận với các vị vua với tư cách là thẩm phán, mà
với tư cách là những bậc trưởng lão khôn ngoan, những người nhìn thấy sự đấu
tranh của chúng ta. Lời thú nhận làm trong sạch bầu không khí để sự bảo vệ có
thể thâm nhập.
Tùy hỉ, Vui mừng: Phá bỏ lòng đố kỵ (Câu 4)
Vui mừng trước công đức
của người khác—những bậc thanh văn (śrāvakaiḥ), những vị độc giác (pratyekabuddhaiḥ),
các bồ tát và chúng sinh bình thường (pṛthagjanaiḥ)—là chặt đứt gốc rễ của lòng
đố kỵ, vốn là chướng ngại chính đối với sự bảo hộ. Các vị vua bảo hộ những người
có tâm rộng mở với niềm vui mừng dành cho người khác.
Chuyển pháp luân: Xoay bánh xe Pháp (Câu 5)
Đây là lời nhắn nhủ trực
tiếp đến tâm giác ngộ bên trong: “Hỡi bậc toàn năng (Vibho), dựa trên các trạng
thái của chúng sinh, hãy xoay bánh xe Pháp của nhiều con đường.” Chúng ta cầu
xin rằng lễ cúng dường của chúng ta không chỉ là một nghi thức, mà trở thành một
sự xoay chuyển sống động của giáo pháp. Các vị vua canh giữ mặt đất để bánh xe
có thể quay.
Lời nguyện Đại Bi (Câu 6)
Một lời nguyện mãnh liệt:
“ Ta sẽ không nhập Niết bàn cuối cùng, Cho đến khi chính không gian cạn kiệt.”
Hãy nhìn bằng con mắt từ bi (kāruṇyacakṣuṣā) vào những chúng sinh đang chìm
trong dòng lũ khổ đau (duḥkhaugha). Các vị vua là những người bảo hộ vì họ đã lập
lời nguyện này. Chúng ta tụng niệm lời nguyện này để hòa hợp trái tim mình với
trái tim của các ngài.
Hồi hương công đức (Câu 7)
Bất cứ công đức nhỏ (ku)
hay dường như chưa hoàn chỉnh nào được tích lũy ở đây, chúng ta chỉ hồi hương
nó cho sự giác ngộ (bodhāyaiva). Và không chỉ cho bản thân mình: “Nguyện cho nó
vì lợi ích của tất cả chúng sinh, một nguyên nhân giải thoát hoàn toàn.” Các vị
vua đáp lại công đức được hồi hương vượt lên trên bản ngã.
Bốn Tâm Vô Lượng (Câu 8)
Đây là cốt lõi của ý
nghĩa sâu xa của nghi lễ. Bốn Điều Vô Lượng là cung điện của Bốn Vị Vua. Điều
đó có nghĩa là khi tâm an trú trong Lòng Từ Bi, Lòng Yêu Thương, Sự Bình Đẳng
và Niềm Vui, chúng ta đã đạt được cung điện an toàn của Bốn Vị Vua. Trong lời
tán tụng và cầu nguyện này, nó được dịch như sau:
-Cầu mong tất cả chúng
sinh được hạnh phúc và có được những nguyên nhân của hạnh phúc.
-Cầu mong khổ đau và những nguyên nhân của khổ đau không phát sinh.
-Cầu mong khổ đau trong quá khứ không chia lìa chúng sinh khỏi niềm vui trong
tương lai.
-Cầu mong tất cả chúng sinh được giải thoát khỏi chấp trước và ác cảm, cầu mong
sự bình đẳng (upekṣā) và sự công bằng (samatā) là trái đất vĩ đại.
Bốn Vị Vua canh giữ bốn
phương, nhưng tâm an trú trong Bốn Điều Vô Lượng chính là cung điện của họ.
Tóm tắt các Thực hành Sơ bộ (Câu 9)
Giờ đây, chúng ta tóm tắt
7 phần đã hoàn thành trong câu cuối của phần thực hành sơ bộ. Chúng ta đã tán tụng
(vandanā), cúng dường (pūjā), sám hối (deśanā), hoan hỷ (anumodanā), và phát
sinh hai bồ đề tâm (tương đối và tuyệt đối). Đây là động lực hoàn chỉnh của
nghi lễ cúng dường.
Sự Tích Tụ Trí Tuệ & Hành Động (Câu 10)
“Nhờ sự tụng niệm Tứ Đại
Thiên Vương này, cầu mong trí tuệ, lòng từ bi (dayākriyā), của cải và công đức
được tích lũy.” Những lời niệm chú của các vị vua (mantrarājair udīritaiḥ)
không phải là những câu thần chú ép buộc; chúng là những tần số cộng hưởng với
lời thề nguyện cổ xưa của các vị vua.
BỐN Vị VUA TRỜI– LỜI BÌNH LUẬN ĐỊNH HƯỚNG
Phương Bắc – Đa
Văn Thiên Vương -
Vaiśravaṇa (Thần Tài, Đấng Lắng Nghe)
Đa Văn Thiên Vương, tên có nghĩa là “Người Nghe Thấy Mọi Điều”, là thủ lĩnh
của Tứ Vương. Ngài ngự trên sườn phía bắc của núi Meru. Ngài cầm một lá cờ chiến
thắng (chiến thắng sự kiêu ngạo) và một con cầy mangut phát ra ngọc (sự hào
phóng chiến thắng nghèo khó). Khi chúng ta niệm “oṃ vaiśravaṇa ye svāhā”, chúng
ta không phải đang cầu xin tiền bạc. Chúng ta đang cầu xin được nghe Pháp một
cách đúng đắn và có được nguồn lực để thực hành mà không bị cản trở. “Ye” là một
tiểu từ gọi. “Svāhā” có nghĩa là “cầu mong điều đó được dâng lên”. Sự bảo hộ của
Ngài là: khi bạn lắng nghe nhiều hơn nói, hoặc suy ngẫm hơn là hành động liều
lĩnh, thì của cải sẽ phát sinh.
Phương Đông – Trì
Quốc Thiên Vương - Dhṛtarāṣṭra
(Người bảo hộ sự sống và kỹ năng)
Trì Quốc Thiên Vương, “Người duy trì vương quốc,” chơi đàn tỳ bà. Ngài đại diện
cho sự hòa hợp giữa Phật pháp với cuộc sống thường nhật – nghệ thuật, kỹ năng,
âm nhạc, sinh kế. Câu thần chú của Ngài: “oṃ dhṛtarāṣṭra ralā pravādha na
svāha.” “Ralā” là hạt giống của lửa nguyên tố và sự thanh lọc. “Pravādha” có
nghĩa là “âm thanh thức tỉnh.” Ngài bảo vệ những người mang chánh niệm vào nghề
nghiệp của mình. Sự bảo hộ của Ngài là: công việc của bạn trở thành thực hành của
bạn; không có sự phân chia giữa thiêng liêng và trần tục.
Phương Nam – Tăng Trưởng Thiên Vương - Virūḍhaka (Người bảo hộ đạo đức và sự phát triển)
Tăng Trưởng Thiên Vương, “Người phát triển”, cầm một thanh kiếm. Nhưng thanh kiếm
không chém kẻ thù – nó chém vào gốc rễ của hành động bất thiện. Tên của Ngài
hàm ý sự gia tăng (vṛddhi), nhưng chỉ là sự gia tăng về mặt đạo đức. “oṃ virūḍhaka
kuṃ bhāṃ ḍādhipata ye svāhā.” “Kuṃ” là đất, sự ổn định. “Bhāṃ” là ánh sáng, trí
tuệ. Ngài là chúa tể (ādhipata) của các kumbhāṇḍas (các linh hồn lùn của sự che
khuất). Sự bảo hộ của Ngài là: hành vi đạo đức không phải là sự hạn chế; nó là
mảnh đất mà trên đó tất cả các phẩm chất tốt đẹp đều phát triển.
Phương Tây – Quảng Mục Thiên Vương - Virūpākṣa (Người bảo hộ Thị giác & Rắn)
Quảng Mục Thiên Vương, “Người nhìn thấy tất cả” (thường được miêu tả với con mắt
thứ ba hoặc ánh nhìn dữ tợn), cầm một bảo tháp hoặc một dây thòng lọng hình rắn
(naga). Ngài nhìn thấy những gì mắt thường không thể thấy – những chuyển động
tinh tế của nghiệp và nāgas (các linh thức liên kết với môi trường và tâm trí).
“oṃ virūpākṣha nāgā dhipata ye svāhā.” Ngài là chúa tể (ādhipata) của các
nāgas. Sự bảo hộ của Ngài là: cái nhìn rõ ràng không bị méo mó. Khi cái nhìn của
bạn chính xác, những năng lượng hỗn loạn của tâm trí sẽ trở thành đồng minh, chứ
không phải là chất độc.
Lời đề tặng kết thúc (Câu 11-12)
Nhờ công đức (guṇenaiva)
của Tam Bảo và phước lành (prasādataḥ) của Tứ Vương:
Dù chúng ta ở đâu (yatra
yatra), nguyện cho bệnh tật, nghèo đói và xung đột chấm dứt.
Nguyện cho những tai họa
khủng khiếp (duritā ghoraḥ) được hóa giải.
Nguyện cho Chánh pháp
luôn luôn phát huy (dharmodayaṃ bhavet).
Nguyện cho tất cả những
gì tốt lành (maṅgalaṃ) và thịnh vượng (samṛddhaṃ) xảy ra – không phải vì danh
tiếng của chúng ta, mà vì sự giác ngộ của tất cả chúng sinh.
Dòng cuối:
“sarvasattvānukampārthaṃ bodhim eva prāpnuyām”
“Vì lòng từ bi đối với tất
cả chúng sinh, nguyện cho chúng con đạt được giác ngộ – không gì khác hơn.”
Các vị vua không bảo vệ
một lãnh thổ. Họ bảo vệ một trái tim đã nói rằng: “Tôi sẽ không nghỉ ngơi cho đến
khi mọi chúng sinh được giải thoát khỏi khổ đau.”/.






Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét