trích từ Thánh Pháp: Ba Phần của Đại Viên Mãn, được khai phá bởi Chokgyur Dechen Lingpa và được biên tập bởi Jamyang Khyentse Wangpo”
Practice Manual for
the Generation Phase of the Yidam Deity of the Innermost
Cycle
from the
Sacred Dharma, The Three Sections of the Great Perfection
revealed by Terchen Chokgyur Dechen Lingpa and arranged by Jamyang
Khyentse Wangpo
Namo guru!
“Trong pháp tu phẫn nộ thuộc chu kỳ mật của
bổn tôn Yidam:
Chương
mở đầu – về các phần chuẩn bị
Quy
y Tam Bảo”
Trong Đức Phật hoàn hảo, không gian căn bản
thuần tịnh,
Trong Pháp thiêng liêng, sự tỉnh thức hiện tiền tự nhiên,
Và trong Tăng đoàn tối thượng, sự bất khả phân của không gian căn bản và tỉnh
thức,
Thanh tịnh từ vô thủy, con xin quy y.
Phát
khởi Bồ-đề tâm
Emaho! Vì để giải thoát tất cả chúng sinh mê
lầm,
Những ai chưa chứng ngộ
Bồ-đề tâm của tỉnh giác tự nhiên, và đưa họ đến trạng thái bất nhị,
Con phát khởi Bồ-đề tâm của quang minh tự sinh, tự nhiên.
Cúng
dường Bảy Phần
Trong đại quang minh,
Con đảnh lễ chư Thiện Thệ như
hư không.
Trong trạng thái tỉnh giác, con dâng cúng dường.
Trong pháp giới không gián đoạn, con sám hối.
Trong trạng thái
thường hằng, vượt ngoài mọi che chướng, con hoan hỷ.
Con thỉnh cầu chuyển Pháp luân vượt ngoài có và không.
Con khẩn cầu chư bậc giác ngộ an trụ.
Nguyện chúng con thành tựu ý nghĩa chân thật tối thượng của thực tại.
Đây
là những phần chuẩn bị thiết yếu của giáo pháp tinh túy.
Samaya, ấn, ấn.
Phẩm
Thanh Tịnh Hóa Các Che Chướng
Thân phàm phu của con, do mê lầm ngẫu khởi mà
thành,
Chính là thân quang minh nguyên sơ thanh tịnh
Của Kim
Cang Tát Đỏa, an trụ một cách tự
nhiên không dụng công.
Trong quang minh rực rỡ của Ngài, con quán tưởng thân tướng sáng tỏ và viên mãn
của Ngài.
ཨཱོྃ་བཛྲ་སཏྭ་ཨཱ༔
om benza sato a
oṃ vajrasattva āḥ
Đây
là sự thanh tịnh tuyệt đối của các che chướng như được trình bày trong giáo
pháp tinh túy.
Samaya, ấn, ấn.
Phẩm Tích Lũy Công Đức và Trí Tuệ
Trong chính không gian của tánh Không,
Con bày biện những tích tụ của tỉnh giác, để nguyên như nó là.
Mạn-đà-la của sự bất khả phân giữa không gian căn bản và tỉnh giác này,
Con dâng cúng lên chư Thiện Thệ của bản tịnh nguyên
sơ.
གུ་རུ་མཎྜ་ལ་པཱུ་ཛ་ཧོ༔
guru mandala pudza ho
guru-maṇḍala pūja hoḥ
Đây là sự tích lũy tuyệt đối của công đức và trí tuệ theo giáo
pháp tinh túy.
Samaya, ấn, ấn.
Phẩm Gia Trì
ཨཱོྃ་ཨཱཿཧཱུྃ།
om ah hung
oṃ āḥ hūṃ
Đến đạo sư hóa thân (nirmāṇakāya) của lòng từ bi,
Con khẩn nguyện với lòng sùng mộ mãnh liệt, không khái niệm:
Xin ban quán đảnh bình lên thân con,
Và gia trì để con chứng ngộ hiện tướng rỗng không.
Đến đạo sư báo
thân (saṃbhogakāya) của bản tánh bẩm sinh,
Con khẩn nguyện từ trong trạng thái đơn giản, tự nhiên:
Xin ban quán đảnh bí mật lên lời nói (ngữ) của con,
Và gia trì để con chứng ngộ quang minh rỗng không.
Đến đạo sư pháp
thân (dharmakāya) của bản thể,
Con đảnh lễ từ trong trạng thái hoàn toàn đơn giản:
Xin ban quán đảnh thứ ba lên tâm con,
Và gia trì để con chứng ngộ đại lạc rỗng không.
Đến đạo sư của
các thân (kāya) bất khả phân,
Con đảnh lễ từ trong trạng thái đơn giản tuyệt đối:
Xin ban quán đảnh thứ tư lên thân, khẩu và ý con,
Và gia trì để con chứng ngộ tỉnh giác rỗng không.
Đây là sự gia trì tuyệt đối của giáo pháp tinh túy.
Samaya, ấn, ấn.
The Chapter on Blessing the Offerings
རཾ་ཡཾ་ཁཾ།
ram yam kham
Raṃ yaṃ khaṃ.
Từ trí tuệ của chỉ (śamatha) và quán
(vipaśyanā),
Raṃ, yaṃ và khaṃ phóng ra, tịnh hóa sự chấp chặt xem các pháp là có thật.
Torma vĩ đại của pháp giới và tỉnh giác bất nhị,
Cam lồ vĩ đại mang bản tánh của năm không gian bao la,
Huyết dịch giải thoát mê lầm của tâm,
Tất cả tụ hội thành những đám mây cúng dường cuồn cuộn của trí tuệ quang minh.
Những đám mây cúng dường ngoại vi—sự chứng ngộ
rằng hiện tướng như huyễn—
Vượt ngoài mọi tưởng tượng.
Những đám mây cúng dường nội tại—đại quang minh của tự tánh rỗng sáng—
Tụ hội vượt ngoài mọi giới hạn.
Cúng dường bí mật—đại hỷ lạc vốn có bản chất là an lạc—
Hiện diện một cách tự nhiên, không tạo tác.
ཨཱོྃ་མ་ཧཱ་བ་ལིནྟ་ཨཱཿཧཱུྃ༔
om maha balinta ah hung
oṃ mahā-baliṅte āḥ hūṃ
ཨཱོྃ་སརྦ་པཉྩ་ཨ་མྲྀཏ་ཨཱཿཧཱུྃ༔
om sarva pentsa amrita ah hung
oṃ sarva-pañcāmṛta āḥ hūṃ
ཨཱོྃ་མ་ཧཱ་རཀྟ་ཨཱཿཧཱུྃ༔
om maha rakta ah hung
oṃ mahā-rakta āḥ hūṃ
ཨཱོྃ་བཛྲ་ཨརྒྷཾ་ཨཱཿཧཱུྃ༔
om benza argham ah hung
oṃ vajra-arghaṃ āḥ hūṃ
ཨཱོྃ་བཛྲ་པཱ་དྱཾ་ཨཱཿཧཱུྃ༔
om benza padyam ah hung
oṃ vajra-pādyaṃ āḥ hūṃ
ཨཱོྃ་བཛྲ་པུཥྤེ་ཨཱཿཧཱུྃ༔
om benza pupé ah hung
oṃ vajra-puṣpe āḥ hūṃ
ཨཱོྃ་བཛྲ་དྷཱུ་པེ་ཨཱཿཧཱུྃ༔
om benza dhupé ah hung
oṃ vajra-dhūpe āḥ hūṃ
ཨཱོྃ་བཛྲ་ཨཱ་ལོ་ཀེ་ཨཱཿཧཱུྃ༔
om benza aloké ah hung
oṃ vajra-āloke āḥ hūṃ
ཨཱོྃ་བཛྲ་གནྡྷེ་ཨཱཿཧཱུྃ༔
om benza gendhé ah hung
oṃ vajra-gandhe āḥ hūṃ
ཨཱོྃ་བཛྲ་ནཻ་བིདྱཱ་ཨཱཿཧཱུྃ༔
om benza naiwidya ah hung
oṃ vajra-naivedye āḥ hūṃ
ཨཱོྃ་བཛྲ་ཤབྡ་ཨཱཿཧཱུྃ༔
om benza shabda ah hung
oṃ vajra-śabda āḥ hūṃ
ཨཱོྃ་ཨཱཿཧཱུྃ་རཱུ་པ་ཤབྡ་གནྡྷེ་ར་ས་སྤརྴེ་ཨཱཿཧཱུྃ༔
om ah hung rupa shabda gendhé rasa parshé ah
hung
oṃ āḥ hūṃ rūpa śabda gandhe rāsa sparśa āḥ hūṃ
ཨཱོྃ་ཨཱཿཧཱུྃ་བོ་དྷི་ཙིཏྟ་ཨཱཿཧཱུྃ༔
om ah hung bodhitsitta ah hung
oṃ āḥ hūṃ bodhicitta āḥ hūṃ
Đây là sự gia trì từ những phẩm vật
cúng dường tuyệt đối của ba bộ. Samaya. Ấn, ấn.
Phẩm Phần Chính của việc Khởi Tạo Nền Tảng Hỗ Trợ
Hūṃ. Tàng thức nền tảng, vượt ngoài mọi đối tượng tập trung, là tánh Không.
Āḥ. Quang minh tự nhiên thấm nhuần khắp tất cả.
Oṃ. Lòng bi mẫn khởi hiện thành nhiều hình tướng hóa thân (nirmāṇakāya).
Ánh sáng của lòng bi mẫn tịnh hóa môi trường và chúng sinh.
Trong không gian của pháp giới (dharmadhātu) là năm đại.
Trên đó là cung điện, sự thanh tịnh của môi trường và chúng sinh.
Bên trong, cung điện được phân chia thành chín khu vực.
Ở trung tâm, trên một bảo tọa làm từ những loài thú dữ,
Là Đấng Uy Nghiêm, Đại Thắng Hắc Lỗ Ca (Mahottara Heruka),¹
Màu nâu sẫm, với hai mươi mốt đầu.
Ngoài đầu chính, tất cả các đầu ở bên phải của Ngài đều màu trắng,
Các đầu ở bên trái màu đỏ, và các đầu trung tâm màu xanh lam, tất cả đều mang tướng phẫn nộ.
Ngài có bốn mươi hai cánh tay,
vốn cầm giữ bốn mươi hai vị bổn tôn an hòa.
Tám chân của Ngài dang rộng, hàng phục cả luân hồi và niết-bàn.
Đôi cánh kim cang của Ngài xòe rộng, và Ngài được trang nghiêm trong vẻ oai nghi rực rỡ.
Thân phối ngẫu của Ngài là Mẹ Hư Không Diện (Sky-Faced Mother),²
màu xanh đậm, với chín đầu và mười tám tay.
Bà ôm giữ trong vòng tay mình các ḍākinī của những thánh địa và nơi chốn thiêng liêng.
Hai bàn tay chính của bà cầm chày kim cang và một bát sọ đầy máu,
và bà hiển hiện trong thân tướng của lạc và không bất khả phân.
Quyến thuộc của họ được dẫn đầu bởi các takrita³ của bốn bộ tộc,
và tám con chó rừng.
ཨཱོྃ་བཛྲ་ཀྲོ་དྷ་མ་ཧཱ་ཤྲཱི་ཧེ་རུ་ཀཿཧཱུྃ་ཕཊ༔
om benza krodha maha shri heruka hung pé
oṃ vajra-mahā-krodha mahā śrī-heruka hūṃ phaṭ
Ở phương Đông là Dương Đắc Hắc Lỗ Ca (Yangdak Heruka),
màu xanh đen, với ba đầu, sáu tay,
và các pháp khí, trang sức và y phục của Ngài đều đầy đủ và viên mãn.
Ngài ôm ấp phối ngẫu Kim
Cang Phẫn Nộ Mẫu (Vajrakrodhī).⁴
Quyến thuộc hóa hiện của Ngài được dẫn đầu bởi
bốn bộ tộc, các Gaurī, Siṃhā và Īśvarī.
ཨཱོྃ་རུ་ལུ་རུ་ལུ་ཧཱུྃ་བྷྱོ་ཧཱུྃ༔
om rulu rulu hung jo hung
oṁ rulu rulu hūṃ bhyoḥ hūṃ
Ở phương Nam là Đại Oai Đức Kim Cang (Mañjuśrī-Yamāntaka),
màu vàng sẫm, với ba đầu, sáu tay,
và các dấu hiệu, pháp khí và y phục nơi mộ địa đều rõ ràng và đầy đủ.
Phối ngẫu của Ngài là
mamo Thánh Mẫu Mắt Máu.⁵
Quyến thuộc của họ được dẫn đầu bởi bốn đao phủ vĩ đại cùng các phối ngẫu của
sự hợp nhất và giải thoát,
và bởi các yama, kiṃkara, māra và gaṇaka,
tất cả đều cũng có các phối ngẫu đi kèm.
ཨཱོྃ་ཨ་ཀྲོ་ཏེ་ཀ་ཡ་མཱནྟ་ཀ་ཧ་ན་མ་ཐ་བྷཉྫ་ཧཱུྃ་ཕཊ༔
om akroté ka yamantaka hana mata bhandza hung
pé
oṁ akroteka yamāntaka hana mata
bhañja hūṃ phaṭ
Ở phương Tây là Mã Đầu Minh Vương (Hayagrīva) hùng mạnh,
màu đỏ, với ba đầu và tiếng hí vang như sấm.
Ngài có sáu tay, bốn chân dang rộng,
các dấu hiệu và pháp khí đặc thù, và mặc y phục nơi mộ địa.
Phối ngẫu của Ngài là nương nương Hoa Sen Rực Rỡ.
Quyến thuộc của họ được dẫn đầu bởi các loài lai tạp,⁶ những kẻ hàng phục bốn
bộ tộc,
các khamgya, mülong, chó và sói,
tất cả đều có phối ngẫu đi kèm.
ཨཱོྃ་པདྨཱནྟ་ཀྲྀཏ་བཛྲ་ཀྲོ་དྷ་ཧ་ཡ་གྲཱི་ཝ་ཧཱུྃ་ཕཊ༔
om padmanta krita benza krodha hayagriwa hung
pé
oṃ padmānta-kṛta vajra-krodha hayagrīva hūṃ
phaṭ
Ở phương Bắc là Kim Cang Đồng Tử (Vajrakumāra),
màu xanh lục sẫm, với ba đầu và sáu tay,
và các pháp khí cùng y phục nơi bãi tha ma đều đầy đủ viên mãn.
Ngài ôm ấp phối ngẫu Diệu Quang Luân Mẫu (Dīptacakrā).
Quyến thuộc của họ được dẫn đầu bởi bốn người con, mười vị vua phẫn nộ, và các
đạo quân hộ pháp
phổ ba (kīla),
tất cả đều đi kèm với các phối ngẫu của mình.
ཨཱོྃ་བཛྲ་ཀཱི་ལི་ཀཱི་ལ་ཡ་སརྦ་བིགྷྣཱན་བཾ་ཧཱུྃ་ཕཊ༔
om benza kili kilaya sarva bighanen bam hung
pé
oṃ vajrakīli kīlaya sarva-vighnān baṃ hūṃ phaṭ
Ở phương Đông Nam là Vô Thượng Hắc Lỗ Ca (Unsurpassed Heruka),⁷
màu nâu sẫm, với ba đầu, sáu tay,
và các pháp khí cùng y phục nơi bãi tha ma đều đầy đủ viên mãn.
Ngài ôm ấp phối ngẫu Mục-kha-lê Mẫu
(Mukhale) an tĩnh,
vị có năm đầu và thân tướng mang nhiều màu sắc khác nhau.
Quyến thuộc của họ được dẫn đầu bởi nữ tôn đáng kính, Ma Mẫu Triệu Khiển (Mamo Bötong) của Không Gian,⁸
cùng các đoàn thể menmo, mamo và ḍākinī,
tất cả đều đi kèm với các phối ngẫu của mình.
ཨཱོྃ་གུ་ཧྱ་ཛྙཱ་ན་ཤྲཱི་ཧེ་རུ་ཀཿགུ་ཧྱ་ཛྙཱ་ན་ཀྲོ་དྷཱི་ཤྭ་རཱི་སཏྭཾ་མ་མ་ཡོ་གི་ནཱི་རུ་ལུ་རུ་ལུ་ཧཱུྃ་བྷྱོ་ཧཱུྃ་ཕཊ༔
om guhya jnana shri heruka guhya jnana krodhi
shori satom mama yogini rulu rulu hung jo hung pé
oṁ guhya-jñāna-śrī-heruka guhyajñāna-krodhīśvarī
stvaṃ mama yoginī rulu rulu hūṃ bhyo hūṃ phaṭ
"Ở phương Tây Nam
là Trì Minh Vương Đại Lực Trì Thủ
Cốt,
Ngài có thân màu trắng rạng rỡ, tay cầm Kim cương chùy và Chuông pháp.
Phối ngẫu của Ngài là Không Hành Nữ Karmendrāṇī (Yết-ma Tự Tại Mẫu).
Quyến thuộc của các Ngài dẫn đầu bởi bốn vị Đạo sư và bốn
dòng họ đạo sư,
Tất cả đều có các đoàn quân Vīra (Dũng
sĩ) và Ḍākinī (Không
Hành Nữ) tháp tùng."
ཨཱོྃ་བཛྲ་མ་ཧཱ་གུ་རུ་སརྦ་སིདྡྷི་ཧཱུྃ་ཕཊ༔
om benza maha guru sarva siddhi hung pé
oṃ vajra-māha-guru sarva-siddhi hūṃ phaṭ
Ở phía tây bắc là “Bậc thuần phục kẻ ngạo mạn” (Drekpa Kündul),10
Màu xanh đậm, có ba đầu, sáu tay,
Mang các biểu tượng và pháp khí riêng biệt, và y phục từ mộ địa.
Ngài ôm lấy phối ngẫu
của mình – “Bậc Thuần Phục Phổ Quát của Ba Cõi Tồn Tại” - Hàng Tam Thế Minh Vương .11
Đoàn tùy tùng của họ do các nữ thần īśvarī dẫn đầu cùng với các phối ngẫu và
các thủ lĩnh,
và những đoàn linh thức kiêu mạn từ khắp toàn thể vũ trụ.
ཨཱོྃ་བཛྲ་ཙཎྜ་སརྦ་དུཥྚཱན་ཧཱུྃ་ཕཊ༔
om benza tsenda sarva dushten hung pé
oṃ vajra-caṇḍa-sarva-ḍuṣtān hūṃ phaṭ
Ở phía đông bắc là Mahābala (Đại Lực)12,
màu vàng sẫm, có ba đầu, sáu tay,
mang các biểu tượng và pháp khí riêng biệt, và y phục nơi bãi tha ma.
Ngài ôm lấy phối ngẫu của mình – “Mẹ của Ngũ
Đại” (năm yếu tố)13.
Đoàn tùy tùng của họ do các chúa tể và phu nhân kiêu mạn, những bậc chủ tể của
mật chú dẫn đầu,
cùng với tám bộ loại linh thức kiêu mạn.
ཨཱོྃ་བཛྲ་སརྦ་དུཥྚཱན་ཧཱུྃ་ཕཊ༔
om benza sarva dushten hung pé
oṃ vajra-sarva-ḍuṣtān hūṃ phaṭ
Bên ngoài, trong các sân và khu vực xung
quanh,
là hai mươi tám mamo, các kiṃkara, rākṣasa,
các nữ thần rực lửa, các ḍākinī, và những nữ hành giả hành động mau lẹ.
Tóm lại, hãy quán tưởng các đoàn tùy tùng của
những Bậc Uy Nghiêm, cả thế gian lẫn siêu thế,
vượt ngoài mọi khả năng tưởng tượng.
ཨཱོྃ་བཛྲ་སརྦ་ཡཀྵ་ས་མ་ཡ་ཧཱུྃ་ཕཊ༔
om benza sarva yaksha samaya hung pé
oṃ vajra-yakṣa samaya hūṃ phaṭ
Heruka, vị vua của tỉnh thức tự nhiên,
được viên mãn trong chín không gian của trí tuệ.
Ngài được hộ tống bởi đoàn tùy tùng của mình,
sống động và rõ ràng.
Hãy thiền định về không gian nền tảng và sự nhận biết trong tính bất nhị.
Samaya,
ấn, ấn.
Chương
về Quán đảnh, Mời thỉnh và Hóa giải
Ba độc, vốn thanh tịnh từ nguyên sơ,
được gia trì thành ba kim cang tự nhiên viên mãn.
Vì năm độc thanh tịnh
chính là năm trí tuệ,
nên sự quán đảnh của năm thân (kāya) vốn hoàn thiện từ nguyên sơ được ban
truyền.
ཨཱོྃ་ཨཱཿཧཱུྃ༔
om ah hung
oṃ āḥ hūṃ
ཨཱོྃ་ཧཱུྃ་ཏྲཱཾ་ཧྲཱིཿཨཱ༔
om hung tram hrih a
oṃ hūṃ trāṃ hrīḥ āḥ
Hūṃ. Từ cõi thanh tịnh của không gian
nền tảng không hiển lộ,
các đoàn đạo
sư trì minh (guru vidyādhara), các đức Thiện Thệ,
các vị bổn tôn tâm thể,
anh hùng và ḍākinī,
tất cả đều được thỉnh mời—xin hãy đến nơi này ngay bây giờ!
Từ cõi thanh tịnh của tạng nền nguyên sơ
trong sáng,
xin hiển lộ trong các báo thân (saṃbhogakāya) rực rỡ của các ngài,
được hộ trì bởi đoàn tùy tùng hóa thân (nirmāṇakāya) đầy từ bi.
Trong đại tính bất khả
phân, xin hãy quang lâm!
Pháp thân (dharmakāya) hội tụ, vốn không gì
khác ngoài không gian nền tảng,
Báo thân (saṃbhogakāya), thọ hưởng đại lạc,
và các hóa hiện đa dạng của Hóa thân (nirmāṇakāya)—
Tất cả các ngài, cùng
toàn bộ tùy tùng, xin hãy quang lâm!
Xin giải thoát vào không gian nền tảng sự chấp
thủ của con đối với các đối tượng hiện tướng,
xin gia trì các căn của con thành năm thân (kāya),
xin chuyển hóa thức của con thành đại trí tuệ,
và hòa tan nó vào tạng thức nền tảng (all-ground).
ཨེ་ཧྱེ་ཧི་མ་ཧཱ་ཀ་རུ་ཎི་ཀ་དྲྀ་ཤྱ་ཧོ༔
é hyé hi maha karunika drishya ho
ehye hi mahā-kāruṇika dṛśya hoḥ
ས་མ་ཡ་ཧོ༔
samaya ho
samaya hoḥ
ས་མ་ཡ་སཏྭཾ༔
samaya satam
samaya sattvaṃ
ཛཿཧཱུྃ་བཾ་ཧོ༔
dza hung bam ho
jaḥ hūṃ baṃ hoḥ
Đây là chương về quán đảnh, mời thỉnh và tan hòa.
Samaya, ấn, ấn.
Chương về Thỉnh Trụ, cùng Lễ Kính, Cúng Dường và Tán Thán.
Hūṃ. Đối với Đức
Phổ Hiền, vốn thanh tịnh từ nguyên sơ,
Không có khái niệm về đến hay ở lại.
Thoát khỏi thiên kiến và phân biệt, tất cả đều viên mãn.
Xin an trụ trong trạng thái vốn bất nhị từ thuở ban đầu.
ས་མ་ཡ་ཏིཥྛ་ལྷན༔
samaya tishta lhen
samaya tiṣṭha lhan
Hūṃ. Bồ-đề tâm chưa từng trải qua mê
lầm.
Thật kỳ diệu! Các đức Thiện Thệ (sugata)
Thấm nhuần khắp mọi chúng sinh.
Không vướng mắc vào
chấp nhị nguyên, con xin đảnh lễ!
ཨ་ཏི་པཱུ་ཧོ༔
ati pu ho
atipu hoḥ
པྲ་ཏཱིཙྪ་ཧོ༔
pratitsa ho
pratīccha hoḥ
Emaho! Từ trong pháp giới không gian vốn
thanh tịnh nguyên sơ,
những đám mây như ý, dày đặc và cuộn trào xuất hiện,
từ đó tuôn tràn các nữ thần cúng dường được hóa hiện.
Tất cả các ngài, chư
vị chiến thắng, xin hãy thọ hưởng và hoan hỷ!
ཨཱོྃ་བཛྲ་ཨརྒྷཾ་པཱ་དྱཾ་པུཥྤེ་དྷཱུ་པེ་ཨཱ་ལོ་ཀེ་གནྡྷེ་ནཻ་བིདྱཱ་ཤབྡ་པྲ་ཏཱིཙྪ་སྭཱ་ཧཱ༔
om benza argham padyam pupé dhupé aloké gendhé
naiwidya shabda pratitsa soha
oṃ vajra-arghaṃ pādyaṃ puṣpe dhūpe āloke
gandhe naivedye śabda pratīccha svāhā
Khi tâm, đối tượng và căn gặp nhau,
những hỉ lạc của các giác quan vượt ngoài tưởng tượng.
Chính bản tánh này,
vốn không dính mắc,
con dâng hiến như một trang nghiêm của pháp thân (dharmakāya).
ཨཱོྃ་རཱུ་པ་ཤབྡ་གནྡྷེ་ར་ས་སྤརྴེ་ཨཱཿཧཱུྃ༔
om rupa shabda gendhé rasa parshé ah hung
oṃ rūpa śabda gandhe rāsa sparśa āḥ hūṃ
Khi sự sáng rõ, bản tính của phương tiện
thiện xảo,
Được hợp nhất với trí tuệ vô niệm,
Đại lạc thấm khắp mọi nơi.
Điều này, chúng con
dâng cúng từ trong trạng thái bất khả phân.
བོ་དྷི་ཙིཏྟ་མ་ཧཱ་སུ་ཁ་ཧོ༔
bodhitsitta maha sukha ho
bodhicitta-mahā-sukha hoḥ
Torma của không gian nền tảng, được
trang nghiêm đầy đủ,
Năm cam lộ của trí tuệ giác tính,
Và đại huyết của tính bất khả phân giữa không gian nền tảng và tỉnh thức—
Những điều này chúng
con dâng cúng, không cần nỗ lực hay gắng sức.
ཨཱོྃ་སརྦ་པཉྩ་ཨ་མྲྀཏ་མ་ཧཱ་བ་ལིནྟ་མ་ཧཱ་རཀྟ་ཁ་རཾ་ཁཱ་ཧི༔
om sarva pentsa amrita maha balinta maha rakta
kha ram khahi
oṃ sarva-pañcāmṛta mahā-baliṅta mahā-rakta
kharaṃ khāhi
Emaho! Thân người kỳ diệu, không thể tin
này
Là lòng từ bi của tất cả chư Phật ba thời,
Một kỳ quan vĩ đại, không thể nghĩ bàn.
Với các phân biệt khái
niệm, nó chính là hóa thân tối thượng (nirmāṇakāya).
Không còn các phân biệt khái niệm, đó là
báo thân (saṃbhogakāya).
Hoàn toàn thanh tịnh, đó là pháp thân (dharmakāya).
An nhiên viên mãn, đó là tự tính thân (svabhāvikakāya).
Đối với Ngài, hiện
thân của bốn thân (kāya), con xin dâng lời tán thán!
Emaho! Lời nói kỳ diệu, không thể tin
này
Được trang bị sáu mươi nhánh của âm thanh du dương,
Vang vọng khắp không gian,
Chiếu rọi mọi nơi như mặt trời và mặt trăng.
Như đại dương, chiều sâu của nó không thể dò
lường.
Như cầu vồng, nó hiển hiện rõ ràng.
Như bảo châu, nó thỏa mãn mọi ước nguyện.
Con xin đảnh lễ và tán
thán lời nói của năm pháp giới (năm không gian mở rộng)!
Emaho! Tâm thức kỳ diệu, không thể tin của
tạng thức nền tảng (all-ground)
vốn thoát khỏi mọi nỗ lực và tạo tác.
Nó không thể bị quan
sát, nhưng lại có thể hiện ra thành mọi hình tướng.
Tâm sáng tỏ này trong suốt và thấm nhuần khắp tất cả.
Tự tánh bất sinh
Hiển lộ không gián đoạn đối với các căn.
Khi các đối tượng hiện
ra, chúng vốn không có thực thể.
Đối với bản tánh của tâm tự giải thoát ngay khi khởi hiện, con xin tán thán!
Đây là chương về thỉnh trụ, cùng lễ kính, cúng dường và tán
thán.
Samaya, ấn, ấn.
Thành tựu Bổn tôn tâm thể (Yidam).
Hūṃ. Toàn bộ đại
thiên thế giới ba nghìn
hiển hiện từ quang minh rực cháy thành vô vàn hình tướng,
giống như cầu vồng xuất hiện trong bầu trời.
Sự phóng xuất và thu nhiếp của việc trì tụng mật
ngôn diễn ra hoàn toàn tự nhiên,
Hiển lộ sống động, không gián đoạn, bất cứ điều gì cũng có thể xuất hiện.
Không bị biến đổi và
vốn viên mãn từ nguyên sơ, mọi hiện tướng và sự tồn tại…
Được viên mãn như thân, khẩu và ý giác ngộ của Bậc Uy Nghiêm.
Hãy thiền định về bản tánh tự nhiên hiện hữu này.
ཨཱོྃ་བོ་དྷི་ཙིཏྟ་མ་ཧཱ་སུ་ཁ་ཛྙཱ་ན་དྷཱ་ཏུ་ཨཱ༔
om bodhitsitta maha sukha jnana dhatu a
oṃ bodhicitta-mahāsukha jñāna-dhātu āḥ
ཨཱོྃ་བཛྲ་ཙཎྜ་སརྦ་དུཥྚཱན་ཏ་ཀ་ཧ་ན་ད་ཧ་པ་ཙ་ཧཱུྃ་ཕཊ༔
om benza tsenda sarva dushtentaka hana daha
patsa hung pé
oṃ vajra-caṇḍa-sarva-ḍuṣtān taka hana daha
paca hūṃ phaṭ
ཨཱོྃ་བཛྲ་མ་ཧཱ་ཀྲོ་དྷ་པདྨ་ཀྲོ་དྷཱི་ཤྭ་རཱི་བཛྲ་ཀཱི་ལི་ཀཱི་ལ་ཡ་མ་ཧཱ་ཡཀྵ་ཀཱ་ལ་རཱུ་པ་ཀརྨཱ་རཾ་རཾ་ཛྭ་ལ་རཾ་ཧཱུྃ་ཕཊ༔
om benza maha krodha pema krodhi shori benza
kili kilaya maha yaksha kala rupa kama ram ram dzala ram hung pé
oṃ vajra-mahā-krodha padma-krodhīśvari
vajra-kīli kīlaya mahā-yakṣa kāla-rūpa karma raṃ raṃ jvala raṃ hūṃ phaṭ
Chu trình Bí Mật của Bổn tôn Yidam nay đã hoàn tất.
Samaya, ấn, ấn.
Chương
về Cúng Dường Tiệc Hội
Gia
trì
Hūṃ. Tất cả những vọng tưởng mê lầm chấp các
pháp là thật
Về bản tánh vốn là hiện tướng rỗng không, nhận biết rỗng không và cảm thọ rỗng
không—
Đều là thanh tịnh nguyên sơ.
Tất cả những hiện
tướng khởi sinh này
chuyển hóa thành pháp khí của đại trí tuệ,
được đầy tràn bởi torma tiệc hội của bốn hỷ lạc.
Những đám mây cúng
dường tối thượng,
được trang nghiêm bởi năm hỉ lạc của các giác quan,
tụ hội và lấp đầy bầu trời.
om ah hung
oṃ āḥ hūṃ
Thỉnh
mời
Hūṃ. Từ không gian nền tảng, thoát khỏi mọi
cực đoan của luân hồi và niết-bàn,
cõi thanh tịnh của thân bình trẻ trung,
các đoàn chư tôn báo thân (saṃbhogakāya) hiển hiện.
Xin hãy quang lâm nơi
đây, thọ hưởng các phẩm cúng dường!
é hyé hi benza samadza
ehye hi vajra-samājaḥ
Phần
cúng đầu tiên
Hūṃ. Bát sọ của không gian nền tảng nguyên sơ
Được làm đầy bởi các hỉ lạc giác quan của đại trí tuệ an lạc.
Pháp hội cúng dường
này của không gian nền tảng và nhận biết bất khả phân
Chúng con dâng lên chư tôn của Đại Viên Mãn.
Đại Trí Tuệ Luân Phiên
Cúng Dường
mahā-jñāna-gaṇacakra-pūja
Phần
viên mãn (Fulfilment)
Trong trạng thái sáng rõ, chúng con sám hối sự
chấp thủ,
Và sửa đổi bằng việc sám hối rằng vô niệm không phải là hư vô.
Xin ban cho chúng con
sự thành tựu của đại lạc!
Trong trạng thái bất khả phân, nguyện mọi sự được tự nhiên thành tựu!
samaya shuddhé a
samaya śuddhe a
Giải
thoát (Liberation)
Ma chướng là mạng lưới và sự đan xen của các
đối tượng
được hội tụ lại, cùng với mạng
lưới của các căn,
được giải thoát bằng lưỡi kiếm của trí tuệ nguyên sơ,
và được dâng vào miệng của pháp giới nền tảng (all-ground).
maraya pé
māraya phaṭ
Thọ
hưởng Pháp hội
Tất cả các hiện tượng của vũ trụ này
được thọ dụng như pháp hội của đại lạc.
Khi chính tâm được thanh
tịnh,
nguyện chúng con chứng ngộ sự hợp nhất giữa không gian nền tảng và tỉnh giác!
a la la ho
a la la hoḥ
Phần
còn lại
Hūṃ. Những vị có quyền thọ hưởng phần dư của
các niệm tưởng thanh tịnh,
xin nhận phần torma còn lại của quang minh tự nhiên, không còn chấp thủ!
Xin hãy trừ diệt các chướng ngại của những tư
tưởng và tri nhận mới phát sinh14,
và trong pháp giới của tự giải thoát, hãy viên thành các hoạt động giác ngộ!
Hãy thụ nhận/ăn phần thực phẩm còn lại
này của các vị
ucchiṣṭa
baliṃ te khāhi
Phát
nguyện
Trong pháp giới rộng lớn của sự hợp nhất giữa
tánh Không và quang minh cùng đại lạc,
Bất nhị giữa tâm và hiện tướng,
chúng con dâng cúng pháp hội của nền tảng thanh tịnh của đối tượng, căn và
thức.
Nguyện chúng con chứng
ngộ sự hợp nhất giữa không gian nền tảng và nhận biết!
Đây là chương về pháp hội cúng dường.
Samaya, ấn, ấn.
Chương
về các hoạt động kết thúc
Các đoàn chư tôn khởi hiện từ không gian nền
tảng
tan hòa vào không gian của tỉnh giác.
Như vậy, Đại Viên
Mãn—sự hợp nhất giữa không gian nền tảng và trí tuệ—
được hoàn hảo như tính bất khả phân
giữa luân hồi và niết-bàn.
ཨ་ཨ་ཨ༔
a a a
a a a
Hồi
hướng
Viễn kiến là sự thanh tịnh nguyên sơ của pháp tánh
(dharmatā).
Thiền là trạng thái vượt ngoài tâm thức thông thường.
Hạnh nguyện là sự tích lũy công đức không thể nghĩ bàn.
Tất cả những điều này
chúng con hồi hướng, nguyện đạt được quả vị—ba thân (kāya)!
Nguyện
cát tường
Nguyện tất cả đều cát tường, để chúng con
chứng ngộ viễn kiến không thể nghĩ bàn,
để chúng con kinh nghiệm thiền vượt ngoài lời diễn tả,
Và thực hiện hạnh
nguyện vượt khỏi mọi sự lấy và bỏ
Nguyện tất cả đều cát
tường, để quả vị được tự nhiên thành tựu!
Đây
là chương về các hoạt động kết thúc.
Samaya,
ấn, ấn.
Đại Terton vĩ đại Chokgyur Dechen
Lingpa, hóa hiện của hoàng tử Murub Tsenpo, đã khai mở bản kiểm kê ban đầu cho
thực hành này từ thánh địa tối thượng Namkha Dzö. Sau khi nhận được thêm những
chỉ dẫn và lời tiên tri từ Bậc Thầy Tôn Quý và phối ngẫu của ngài, chúng tôi
tiến về phía đông từ địa điểm cát tường và đến Meshö Dzamnang, nằm trong lãnh
địa rộng lớn của Tây Tạng và gần Cung điện của Đại Vương Dergé.
Hai mươi lăm người đã tụ hội tại Hang Pha Lê
Liên Hoa, nơi vị đạo sư quý báu của Uḍḍiyāna từng tu hành. Tại đó, khi mặt trời
mọc vào ngày thứ ba của tháng Puṣya (tháng 12) trong năm Rồng Lửa, chúng tôi đã
chứng kiến sự xuất hiện của kho tàng từ nội thất của hang động.
Sau đó, thêm hai trăm người hữu duyên nữa đã
đến, nhận được gia trì truyền từ quyển ngọc mã não vừa được khai mở, nhờ đó
nuôi dưỡng niềm tin kiên định không lay chuyển.
Vị xuất gia Jamyang Khyentse Wangpo Künga
Tenpé Gyaltsen Palzangpo sau đó đã ghi chép chính xác nội dung trên cuộn văn và
sắp xếp thành một bản nghi quỹ.
Nhờ công đức này, nguyện cho đôi chân sen của
các bậc trì giữ giáo pháp tối thượng trụ thế hàng trăm kiếp, và nguyện giáo
pháp của kho tàng thâm diệu này được hưng thịnh, lan tỏa khắp mọi phương, mọi
thời, để tồn tại lâu dài trong tương lai!
| Translated by Han Kop in 2023 during the Kagye Deshek Düpa Drupchen at
Mount Malaya. Reviewed and edited by Samye Translations, 2024 (Stefan Mang and Libby Hogg). Many thanks to Pema Wangchuk Rinpoche
from Tibet and Chöying Palden from Chokling Monastery in Bir for kindly
providing suggestions and clarifications.
Source:
mChog gyur gling pa. "dam chos rdzogs pa chen po sde gsum
las / sang skor yi dam bskyed rim dang byang bu khrigs su bsdebs pa",
in rin chen gter mdzod chen mo. New Delhi: Shechen Publications, 2007.
Vol. 62: 341–353.
Version: 1.0-20240717
1.
↑ Tib. Chemchok (che mchog).
2.
↑ Tib. Namshalma (gnam zhal ma); Skt. Dhātviśvarī: "Nữ Chúa của các Giới" hoặc
"Nữ Vương của Pháp giới", thường được gọi là Hư
Không Nhãn hoặc Pháp
Giới Tự Tại Mẫu.
3.
↑ Also called henchmen (mthar byed pa) in Tibetan, possibly
Antakṛta in Sanskrit.
4.
↑ Also called Krodhīśvarī, Kim Cang Phẫn Nộ Mẫu
5.
↑ This may be an epithet for either Vetalī (Khởi Thi Phật Mẫu) or Ekajaṭī (Nhất Kế Phật Mẫu)
6.
↑ Tib. tramen (phra men). Những vị tinh linh này có thân người và đầu thú, chủ yếu là đầu các loài
chim.
7.
↑ I.e., Mamo Bötong.
8.
↑ Ekajaṭī.
9.
↑ Tib. Töpa Tsal (thod pa rtsal). vidyādhara Mighty
Skull Bearer
10.
↑ Tib. Drekpa Kündul (dregs pa kun 'dul). là vị Tôn chủ yếu
(Chief Deity) trong đàn tràng Jikten Chötö (còn gọi
là Lokastotrapūjā hay "Cúng dường các vị Thần thế
gian").
11.
↑ Skt. Trailokyavijayā.
12.
↑ Tib. Tobden Nakpo (stobs ldan nag po). "Đại Lực"
(sức mạnh vô biên
13.
↑ Tib. Jung-ngé Dakmo (‘byung lnga’i bdag mo).
14.
↑ Ở đây, bất kỳ những niệm tưởng mới khởi sinh nào cũng có
thể trở thành chướng ngại.
15.
↑ 28 January 1857.
https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/jamyang-khyentse-wangpo/chokling-kagye-sadhana










Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét