Thứ Ba, 26 tháng 5, 2026

GIÁO HUẤN VỀ NHƯ LAI TẠNG

 Tác giả: Karmapa thứ Ba, Rangjung Dorje
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tâp: Tuệ Uyển


***

Giáo Huấn về Tinh Yếu của các Đấng Như Lai

Tác phẩm "Giáo Huấn về Tinh Yếu của các Đấng Như Lai (Như Lai Tạng)" là một chính văn quan trọng được viết bởi Đức Karmapa thứ Ba, Rangjung Dorje, bậc thầy vĩ đại thuộc dòng Kagyu. Luận thư này tập trung giảng giải về Phật tánh sẵn có (Như Lai Tạng) trong mỗi chúng sinh, kết hợp tinh hoa của Đại Thủ Ấn và Đại Viên Mãn.

Chuyển dịch bởi Peter Roberts
Tại Sonada Monastery gần Darjeeling in June 1990,
Từ một bản khắc gỗ năm tờ được in tại Tu viện Rumtek, Sikkim
Việc phân chia câu kệ và bản dịch dựa trên
Chú giải của Jamgon Kongrtrul Lodro Thaye về văn bản này, một bản khắc gỗ bốn mươi mốt tờ được thực hiện tại Tu viện Rumtek, Sikkim, có tựa đề:

“Một sự soi sáng cho ‘Luận thuyết dạy về Phật tánh’ –

De-bzhin-gshegs-pa’i-snying-po-tsan-pa’o-bstan-bcos-kyi-rnam-‘grel-

rang-byung-dgong-gsal-ces-bya-ba-bzhugs-so”

 

 Con Kính Lễ Tất Cả Chư Phật Và Bồ Tát

Dù không có điểm bắt đầu, nhưng nó lại có điểm kết thúc.
Bản chất của nó hoàn toàn thanh tịnh và trường tồn vĩnh cửu.
Chúng ta không nhìn thấy được nó là vì nó bị che lấp bởi một lớp màng bọc cũng vốn không có điểm bắt đầu.
Điều này giống như một bức tượng vàng ròng đang bị bụi bẩn, đất cát bọc kín bên ngoài vậy.
(
Đây là lời Phật dạy.)

"Bản thể vốn có từ vô thủy
Là chỗ nương tựa của tất cả các pháp.
Do có bản thể này, mới có mọi chúng sinh
Vào đạo Phật gọi là Như Lai Tạng (Tathāgatagarbha) hoặc Phật tánh.

(
Đây là lời Phật dạy.)

 Tất cả chúng sinh vốn dĩ là Phật,
Nhưng bị che mờ bởi những cấu uế nhất thời.
Khi những vết ô uế ấy được tẩy sạch, Phật tính liền hiển bày.

Đó là một câu trích dẫn từ kinh Mật tông

"Bản thể" tự hữu, không do tạo hóa sinh ra
Nhưng nó được đặt tên như vậy vì nó giữ nguyên các đặc tính của riêng mình.
"Vô thủy" (không có bắt đầu) nghĩa là không có cái gì tồn tại trước nó.
"Thời gian" ở đây chính là sát-na (khoảnh khắc) hiện tại này.
Nó không phải đến từ một nơi nào khác.

"Các pháp" (hiện tượng) được giải thích là Sinh tử và Niết-bàn hiện lên dưới dạng đối đãi hai mặt.
Điều này được gọi là "nền tảng của các tập khí vô minh âm thầm"
Sự vận động của các tâm sở, suy nghĩ đúng đắn và suy nghĩ sai lầm là nguyên nhân làm khởi phát sự sinh khởi đó (của sinh tử và niết-bàn).

 "Hiện tượng" được giải thích chính là:
Luân hồi và niết bàn hiển hiện như một cặp nhị nguyên.
Điều này được gọi là "căn bản của tập khí vô minh".
Sự chuyển dịch của tâm sở, các niệm tưởng đúng
Và các niệm tưởng sai là nguyên nhân sinh khởi điều đó (luân hồi và niết bàn).

Duyên cho các nguyên nhân của chúng được dạy chính là A-lại-da (tạng thức/nền tảng phổ quát).

 "Nơi nương tựa" (chốn chứa đựng) ở đây chính là Phật tánh.
Những suy nghĩ sai lầm (vọng tưởng) thực chất lại nằm hoàn toàn bên trong bản tính thanh tịnh của tâm.
Bản tính thanh tịnh vốn luôn hiện hữu như thế, nhưng ta không nhìn thấy được là do bị những suy nghĩ mê lầm che lấp.
Chính vì lẽ đó mà có sinh tử luân hồi.
Nếu xua tan được những mê lầm ấy thì Niết-bàn hiện tiền, và đây được gọi là "điểm kết thúc" (kết thúc sự mê lầm).

 "Bắt đầu" và "kết thúc" thực chất đều phụ thuộc vào sự suy nghĩ, phân biệt của tâm trí.

 Các hoạt động của tâm (tâm sở) giống như những cơn gió,
thổi bùng lên nghiệp lực và phiền não.
Chính (nghiệp và phiền não) này làm hiển lộ ra năm uẩn (skandhas), mười tám giới (dhatus),
mười hai xứ (ayatanas) và tất cả các hiện tượng mang tính đối đãi hai mặt.

Người nào cố gắng mong cầu hay ruồng bỏ những (hiện tượng) này thì đều là mê lầm.
Bạn có thể phủ nhận hay tống khứ được điều gì khi cố từ bỏ những ảo tưởng do chính tâm mình phóng chiếu ra?
Bạn có thể đạt được hay nắm giữ được gì khi cố thu nhặt những ảo tưởng do chính tâm mình phóng chiếu ra?
Chẳng phải việc tin vào sự đối đãi hai mặt (đúng - sai, có - không, lấy - bỏ) này là một sự tự lừa dối chính mình sao?

Dù hiểu biết này được dạy như phương thuốc trị bệnh,
Hiểu biết về bất nhị vốn chẳng phải chân lý tối hậu.
Nó không phải là việc dùng ý niệm để hình dung cái vô niệm.
Thứ hiểu biết về tánh Không có được nhờ đánh
tan các sắc tướng,
Chẳng phải chính nó cũng là một sự lầm tưởng sao?
Nhưng nó được dạy là để tâm bám chấp vào thực tại phải chấm dứt.

 Chẳng có gì là chân thật, cũng chẳng có gì là hư ngụy.
Bậc trí giả dạy rằng vạn vật như bóng trăng đáy nước.
Chính cái "tâm bình thường" này được gọi là
"Pháp giới" và "Phật tánh".

Bậc giác ngộ không thể làm nó tốt hơn.
Kẻ mê muội chẳng thể làm nó ô nhiễm.
Nó được gọi bằng rất nhiều tên khác nhau,
Nhưng ý nghĩa thật sự không thể hiểu qua lời nói.

Đó là sự hiển lộ không bao giờ dứt.
(Nó được dạy) là có sáu mươi tư công đức[1].
Dù đây (chỉ) là một mô tả đơn giản hóa,
Nhưng người ta nói rằng mỗi một trong sáu mươi tư điều đó lại chứa đựng cả hàng triệu công đức khác.

 Có mười năng lực trí tuệ (Thập lực):

1- Tri thị xứ phi xứ trí lực: Trí tuệ thấu suốt hành động nào là đúng đắn (hợp lý) và hành động nào là sai lầm (vô lý).
2-
Tri nghiệp báo trí lực: Trí tuệ thấu suốt sự chín muồi của nghiệp (nhân quả).
3-
Tri chư căn thắng liệt trí lực: Trí tuệ thấu suốt căn tính, bản chất của chúng sinh.
4-
Tri chủng chủng giải trí lực: Trí tuệ thấu suốt khuynh hướng, năng lực bẩm sinh của chúng sinh.
5-
Tri chủng chủng giới trí lực: Trí tuệ thấu suốt chí hướng, nguyện vọng của chúng sinh.
6-
Tri nhất thiết sở thú đạo trí lực: Trí tuệ thấu suốt điểm đến của mọi con đường tu tập (biết rõ hành vi nào dẫn đến cõi nào, quả vị nào).
7-
Tri thiền định giải thoát tam muội trí lực: Thấu suốt và làm chủ các tầng thiền định (Dhyana), giải thoát và định cảnh.
8-
Túc mạng trí lực: Trí tuệ nhớ rõ các tiền kiếp (nhớ về các đời sống quá khứ).
9-
Thiên nhãn trí lực: Trí tuệ về thiên nhãn (thấy rõ sự sinh tử, luân hồi của tất cả chúng sinh).
10-
Lậu tận trí lực: Trí tuệ tịch tĩnh, dứt sạch mọi phiền não lậu hoặc, đạt đến sự an lạc tối hậu.

Nhờ có (mười năng lực trí tuệ) đó, liền có bốn sự vô sở úy (Tứ vô sở úy):

1-Nhất thiết trí vô sở úy: Tự tại tuyên thuyết rằng Ngài đã an trụ trong sự giác ngộ hoàn toàn, thấu suốt bản chất của tất cả các pháp (hiện tượng).
2-
Lậu tận vô sở úy: Tự tại tuyên thuyết về con đường tu tập đưa đến đoạn trừ tận gốc mọi phiền não lậu hoặc.
3-
Thuyết chướng đạo vô sở úy: Tự tại tuyên thuyết về những chướng ngại, những pháp gây ngăn cản con đường đi đến sự tịch diệt (chấm dứt khổ đau).
4-
Thuyết khổ tận đạo vô sở úy: Vượt lên trên mọi sự tranh luận hay bác bỏ từ người khác (luôn tự tin vì giáo pháp Ngài chỉ ra chắc chắn dẫn đến diệt khổ).

Do những nhân duyên đó, liền có mười tám phẩm tính đặc biệt này (Mười tám pháp bất cộng):

1-Thân vô thất: Hành động của thân không bao giờ có sai lầm.
2-
Khẩu vô thất: Lời nói không bao giờ có lỗi (không nói lời vô ích, trống rỗng).
3-
Niệm vô thất: Tâm niệm không bao giờ có sự quên sót hay bất cẩn.
4-
Vô dị tưởng: Luôn an trụ trong thiền định liên tục (không có tư tưởng phân tán).
5-
Vô bất định tâm: Không có sự phân biệt hay bám chấp vào các dạng danh tính khác nhau (luôn bình đẳng).
6-
Vô bất tri dĩ xả tâm: Không có sự buông xả một cách vô tri, thụ động (luôn tỉnh giác trong sự trung lập).
7-
Dục vô giảm: Lòng khát vọng độ sinh (nguyện lực) không bao giờ suy giảm.
8-
Tinh tấn vô giảm: Sự siêng năng, tinh tấn không bao giờ vơi bớt.
9-
Niệm vô giảm: Chánh niệm luôn trọn vẹn, không bao giờ suy giảm.
10-
Định vô giảm: Định lực (Samadhi) luôn kiên cố, không bao giờ suy giảm.
11-
Tuệ vô giảm: Trí tuệ (Prajna) thấu suốt luôn rực sáng, không bao giờ suy giảm.|
12-
Giải thoát tri kiến vô giảm: Trí tuệ thấy rõ sự giải thoát hoàn toàn không bao giờ suy giảm.
13/14/15-
Nhất thiết thân/khẩu/ý nghiệp tùy trí tuệ hành: Mọi hành động của Thân (13), Khẩu (14), và Ý (15) đều được dẫn dắt và đi tiên phong bởi trí tuệ.
15/17/18-
Trí tuệ tri quá khứ/hiện tại/vị lai thế vô trước vô ngại: Thời gian không thể làm lu mờ; Trí tuệ thấu suốt trọn vẹn cả Ba đời: Quá khứ (16), Hiện tại (17), và Vị lai (18) một cách tự tại, không bị ngăn che.

"Nếu hội đủ ba mươi hai (công đức) đó, thì chính là Pháp thân (Dharmakaya)."

 "Trong trạng thái hiện tại của chúng ta, chúng ta thường phủ nhận sự hiện hữu (của Phật tánh) cùng những phẩm tính công đức này."

Không có sự thấu hiểu về thực tại như nó vốn là.
Những "vọng tưởng" vốn không thật có lại được chấp là thật.
Cái "chân thật vẹn toàn" thì lại chẳng hề hay biết.
Cứ thế, chúng ta tự tạo ra nỗi thống khổ cho chính mình.
Ôi! Thấu hiểu những công đức này của Pháp thân
Là chân thật – đó mới chính là tri kiến về sự thật,
Nhưng trong trạng thái hiện thời, chúng sinh với căn cơ thấp kém
Lại khước từ tri kiến chân thật và thêu dệt nên điều hư ngụy,
Để rồi bị cuốn phao đi bởi sự loạn động theo sau nó.

Nhờ tri kiến về (Phật tánh) đúng như thật,
Người ta sẽ tựu thành những năng lực của nó.
Chẳng có bất cứ điều gì cần phải đoạn trừ;
Cũng chẳng có một mảy may nào cần phải thêm vào.
Chân lý phải được nhìn thấy một cách chân thật.
Nếu chân lý được nhìn thấy, ấy chính là sự giải thoát hoàn toàn.
"Bản thể" ấy vốn vắng bóng những cấu nhiễm ngẫu nhiên,
Những thứ mang đặc tính tách biệt (với bản tâm).
Nhưng nó không hề vắng bóng những công đức tối thượng,
Những thứ mang đặc tính không thể tách rời.

 Trong (Phật tánh) vốn sẵn có các công đức của hai Sắc thân:
Ba mươi hai tướng tốt và (tám mươi) vẻ đẹp phụ.
Những phẩm tính chứng đắc đó chính là thân thể của chính mình.

 Thân này không phải do Tự ngã, thần Phwya[2], thần Shiva, Phạm Thiên, các vi phân tử vật chất bên ngoài,
Hay do các yếu tố nằm ngoài kinh nghiệm thực chứng tạo ra.
Khi sự phát triển bất tịnh của năm giác quan,
Và khi cấu trúc (nhị nguyên) giữa chủ thể nhận thức và đối tượng bị nhận thức
Được thanh tịnh hóa, thì trạng thái đó được gọi là "sự chứng đắc".

Vì vậy, các kinh mạch (nadis), khí (vayus), và minh điểm (bindus) khi được thanh tịnh hóa chính là các Sắc thân thanh tịnh.
Khi chưa được thanh tịnh hóa, chúng là các Sắc thân bất tịnh.
Ví dụ, các đặc tính quý báu của một viên ngọc beryl bị bao phủ bởi lớp đất đá sẽ không được hiển lộ.
Khi nó được lau chùi bằng vải lông bò yak và nước muối,
Rồi được làm sạch bằng giấm và vải len,
Được tịnh hóa hoàn toàn, nó trở thành viên ngọc như ý đáp ứng mọi nhu cầu và ước nguyện.

Cũng như thế, nhằm mục đích gột rửa sạch
Ba lớp vỏ bọc phiền não, sở tri và thiền định
Khỏi viên ngọc hải lam bảo (aquamarine) của tâm,
Sẽ có một sự diệt tận hoàn toàn của chúng thông qua Tư Lương Đạo và Gia Hạnh Đạo,
Bảy địa bất tịnh[3] và các địa thanh tịnh của Bồ Tát.

Khi ý niệm sai lầm (vọng tưởng)
Chạm trán với ý niệm đúng đắn (chánh niệm/phương tiện),
Giống như cả hai thanh củi mồi đều bị thiêu rụi bởi ngọn lửa, liền có sự giải thoát khỏi cả hai ý niệm ấy.
Bấy giờ, ta vượt thoát khỏi cả khái niệm về sự đoạn trừ,
Về phương thuốc chữa trị, về chân như, và cả ý niệm về một quả vị chứng đắc.

Bấy giờ, những đóa hoa thân tướng tốt đẹp liền đua nở
Ngay nơi bậc đã chứng đắc thân như hư không.

 Ba giai đoạn gồm: bất tịnh, vừa tịnh vừa bất tịnh,
Và hoàn toàn thanh tịnh lần lượt là:
(Các giai đoạn) của chúng sinh, Bồ Tát, và chư Như Lai.
Dù được nói như vậy, nhưng Phật quả không phải là thứ mới được tạo ra.
Trước kia như thế nào, thì sau này cũng y như thế.
Đó chính là Phật tánh bất biến.
Sự "thay đổi" ở đây chỉ là việc giải thoát khỏi các cấu nhiễm mà thôi.

Nếu ai đó ôm giữ quan kiến tiêu cực (tà kiến) rằng:
Các công đức của Phật vốn không có nhân,
Hoặc hình dung rằng chúng không hề có sẵn bên trong chính mình,
Mà lại do các nhân duyên bên ngoài tạo tác nên,
Thì điều đó có khác gì với thường kiến và đoạn kiến của ngoại đạo?

Sự sinh và diệt có vẻ như trong từng sát-na của các "tâm sở" (nơi chư Phật)
Tương ứng với các tâm sở bất tịnh (của chúng sinh).
Nếu (các tâm sở của chư Phật) không diễn ra như thế,
Thì mọi hoạt động của các Sắc thân sẽ bị chấm dứt.
Tuy nhiên, chúng không được gọi bằng cái tên "tâm sở",
Mà (được gọi) là "Diệu quan sát trí" (Trí tuệ phân biệt sâu sắc).

Bản chất của các yếu tố vật chất
(Hoặc) bị đi kèm bởi sự bám chấp, (hoặc) hiển lộ phần tinh túy năng lượng mạnh mẽ của chúng.
Hoàn toàn không có bất kỳ sự khác biệt nào về mặt hiện tượng bên ngoài
Đối với người mê muội và người tỉnh thức.
Sự khác biệt (duy nhất) chính là có hay không có sự bám chấp vào tính nhị nguyên.
Nếu điều đó không như vậy,
Thì chư Phật làm sao có thể vận hành các hoạt động độ sinh của Ngài?

Các ví dụ về viên ngọc như ý và những thứ tương tự
Được giải thích để biểu thị cho sự hiển lộ của năng lực vô niệm.
Tuy nhiên, năng lực này không phải chỉ tồn tại bên trong tâm thức của người khác.
Nếu như vậy, nó sẽ là trí tuệ của người khác mất rồi.
Và nếu quả thật như vậy, thì trí tuệ đó cũng chỉ là ảo tưởng mà thôi.

Nếu ai đó quả quyết rằng (trí tuệ) có sự bám chấp vào những biểu hiện của chính nó,
Thì một tấm gương soi khi có các hình ảnh hiển thị bên trong
Cũng sẽ có những suy nghĩ bám chấp (vào các hình ảnh đó).

Tất cả những ảo tưởng, mê lầm của chúng sinh
Đều hiển hiện rõ ràng nơi trí tuệ (của chư Phật).
Thế nhưng, trí tuệ ấy lại không hề bị ô nhiễm bởi những ảo tưởng đó.
Ví như, mặc dù các yếu tố vật chất
Có vẻ như sinh ra và diệt đi ở trong không gian,
Nhưng không gian ấy vẫn không bị ô nhiễm, vốn chẳng có sinh cũng chẳng có diệt.

Cũng theo cách ấy, mặc dù trí tuệ của chư Phật
Đi vào trong tâm thức của chúng sinh, nhưng Ngài không hề bị ô nhiễm.
Trí tuệ ấy tuyệt đối không bị gọi là "ảo tưởng".
Mà nó được gọi là "Thành sở tác trí" (Trí tuệ viên mãn mọi hành động).

Tâm thức đã vắng bóng ba thứ che lấp (tam chướng)
Chính là "Bình đẳng tánh trí" và đó là sự "tịch tĩnh".
Do sở hữu lòng đại từ và đại bi (đối với chúng sinh)
Nên Báo thân (Sambhogakaya) và các hóa thân khác liền hiện ra trước họ.
Điều này được tuyên thuyết nhằm bác bỏ quan điểm của những ai cho rằng
Việc chứng đắc Phật quả cũng giống như quả vị của Hàng Nhị thừa (Hinayana).

 Trí tuệ chính là ba thứ thường hằng:
Thường hằng về bản tánh chính là Pháp thân (Dharmakaya);
Thường hằng về sự liên tục chính là Báo thân (Sambhogakaya);
Không bao giờ gián đoạn chính là Hóa thân (Nirmanakaya).

Có ba thứ vô thường:
Tánh Không do tâm thức thêu dệt (chấp Không) là vô thường;
Tâm thức của các niệm đầu loạn động là vô thường;
Sự hợp thành của sáu thức là vô thường.

Thế nhưng, ba thứ thường hằng ấy luôn hiện hữu.
Ba thứ vô thường kia chỉ là cấu nhiễm.
Ba thứ thường hằng chính là trí tuệ.

Điều này không giống với "Tự ngã" của ngoại đạo (Tirthika),
Bởi vì Tự ngã đó là sự thêu dệt của tâm thức, còn (Phật tánh) thì không phải.
Điều này không giống với Niết bàn của bậc Thanh văn (Shravakas) và Duyên giác (Pratyekabuddhas),
Bởi vì (trong Niết bàn đó) tất cả công đức của các Sắc thân đều không được hiển lộ.
Điều này không giống với thân xác của một chúng sinh (phàm phu),
Bởi vì nó không phải được tạo ra do bởi các phiền não cấu nhiễm.

Nó sẽ không bao giờ thoái lui về trạng thái trước kia
Bởi vì nó đã hiển lộ chính xác đúng như thực tại vốn là.

Sẽ không bao giờ (lại) xuất hiện những cấu nhiễm, vết nhơ
Bởi vì đã hoàn toàn giải thoát khỏi tâm niệm phân biệt nhị nguyên.

Do đó, bản tâm này, vị Phật này,
Đang hiện hữu ngay lúc này, nhưng lại không được nhận biết.

(Trích từ "Kinh Trang Nghiêm Luận" - Sutralankara):
"Khi sự chứng ngộ diễn ra, vào thời điểm đó,
Giống như khi sức nóng của kim loại nguội tắt,
Vào thời điểm đó, và chứng bệnh đau mắt hột biến mất,
Bởi vì Phật quả (đã tựu thành), người ta không thể nói rằng
Tâm và trí tuệ là tồn tại hay không tồn tại."

(Trích từ "Đại Thừa Nhị Thập Tụng" - Mahayanavimshika):
"Bởi vì trong nghĩa chân thật cốt tủy (đệ nhất nghĩa đế) vốn không có sự sinh,
Nên ở đó cũng chẳng có sự giải thoát.
Phật quả tựa như hư không.
Nó có cùng bản tánh như chúng sinh.
Vì 'bờ bên này' (luân hồi) và 'bờ bên kia' (niết bàn) đều không sinh,
Nên các pháp do duyên hợp vốn là hoàn toàn trống rỗng (Tánh Không).
Đây chính là trải nghiệm của trí tuệ toàn giác (Nhất thiết chủng trí)."

 (Trích từ "Luận Uttaratantra"):
"Nó vô cùng vi tế, nên không phải là đối tượng của Văn (học hỏi).
Nó là cái tối hậu, nên không phải là đối tượng của Tư (tư duy, quán chiếu).
Pháp tánh (dharmata) vốn sâu thẳm, nên không phải là đối tượng của
Tu pháp thế gian (thiền định thế gian), và những điều tương tự."

Trải nghiệm về trí tuệ tự nhận biết chính mình này,
Thực tại tối hậu này sinh khởi nhờ niềm tin vào sự tự-hữu (tự sinh khởi).
Ôi! Chính vì họ không thấu hiểu điều này,
Nên những đứa trẻ (những chúng sinh vô minh) mới mãi lang thang trong biển khổ luân hồi!

Nhờ vào oai lực của Đức Thích Ca Mâu Ni vĩ đại,
Của Đức Văn Thù, Đức Di Lặc, và Đức Quán Thế Âm,
Bài luận này đã được biên soạn bởi Rangjung Dorje.

Nguyện cho tất cả chúng sinh đều đạt được tri kiến không lầm lạc
Và chứng đắc viên mãn hoàn toàn bản tính Như Lai (Phật tánh)!

 Đến đây là hoàn thành phần trình bày liễu nghĩa về Phật tánh,
vốn là cốt tủy của Kim Cang thừa (Vajrayana).

 

 KIẾT TƯỜNG VIÊN MÃN! (Nguyện mọi điều tốt lành!)

SHUBHAM! (Auspiciousness!)

 

NOTES

[1] Buddha Weekly Video releasing in July: ” What is the difference between Tathagatagarbha Buddha Nature and the concept of soul?” taught by Venerable Zasep Tulku Rinpoche

[2] The Dalai Lama: “On Buddha Nature” https://www.pbs.org/thebuddha/blog/2010/Mar/9/dalai-lama-buddha-nature/

[3] Uttaratantra Shastra teachings by Khenpo Tsultrim Tenzin, November 15, 2015, Drikung TMC

[4] Venerable Khenchen Thrangu Rinpoche “The Buddha Nature”

Instructions on a Treatise entitled: “A Teaching on the Essence of the Tathagatas (The Tathagatagarbha)” by the Third Karmapa, Rangjung Dorje, according to “An Illumination of the Thoughts of Rangjung (Dorje): A Commentary to “The Treatise that Teaches the Buddha Nature” by Jamgon Kongtrul Lodro Thaye the Great Translated from Tibetan by Peter Roberts

[5] “Buddha Nature” https://www.thoughtco.com/buddha-nature-doctrine-450001

 

https://www.rinpoche.com/teachings/buddhanature.htm



[1] 64 phẩm chất gồm có: thập lực, tứ vô sở úy, 18 pháp bất cộng và 32 tướng tốt

[2] Đấng tối cao của đạo Bon

[3] Từ sơ địa đến thất địa Viễn Hành là còn bất tịnh, từ bát địa Bất Động trở lên là thanh tịnh

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét