Thứ Sáu, 8 tháng 5, 2026

Xua Tan Nỗi Khổ Của Những Người Tìm Cầu Chân Thành

 Lời dạy của bậc Đạo sư, vị Hộ trì hiền hòa: Cách thực hành thành tựu các pháp tu chỉ (Śamatha) và quán (Vipaśyanā)

Dispelling the Anguish of Sincere Seekers | Lotsawa House
The Words of the Guru, the Gentle Protector: How to Accomplish the Yogas of Śamatha and Vipaśyanā
Tác giả:
 Dilgo Khyentse Rinpoche
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển



***

Namo guru śākyamunaye![1]

Khi tu tập các pháp thiền ŚamathaVipaśyanā bằng cách quán tưởng hình tướng của Đức Bổn Sư, Gautama Buddha, trước hết hãy khởi lên tâm bồ-đề quý báu—nguyện đạt đến quả vị giác ngộ vì lợi ích của tất cả chúng sinh—và quán chiếu như sau:

Giờ đây, khi con đã đạt được thân người đầy đủ thuận duyên—nền tảng quý báu với các tự do và thuận lợi—và đã gặp được giáo pháp của Như Lai, con sẽ từ bỏ mọi hoạt động thế gian—những việc chỉ đem lại quả đắng. Dù việc cúng dường hình tướng của Như Lai và các pháp tương tự quả thật tạo nên công đức vô lượng, nhưng những tích lũy công đức dựa trên của cải vật chất này chủ yếu được Như Lai khuyến dạy cho hàng tại gia. Đối với những người xuất gia bước theo dấu chân Ngài, Đức Phật tán thán một con đường thù thắng hơn nhiều—đó là giới luật và sự an trú nội tâm chân chính. Vì vậy, thuận theo lời dạy của Như Lai, con sẽ thực hành những điều này hết khả năng của mình.”

Đặc biệt, từ vô thủy đến nay, chúng ta đã bị xao động bởi những vọng tưởng phân biệt, như gió luôn đổi hướng, mây trôi và sóng biển dập dềnh không ngừng. Ngày đêm không gián đoạn, những ý niệm ấy đã khuấy động và làm suy tổn chúng ta, khiến ta không những không đạt được dù chỉ một phẩm chất tốt đẹp nào, mà còn bị dày vò bởi khổ đau bất tận.

Giờ đây, con sẽ làm bất cứ điều gì cần thiết để thoát khỏi chiếc lồng của những vọng tưởng phân biệt này—những thứ vây bủa con từ trong ra ngoài. Lấy hình tướng của Như Lai làm đối tượng quán chiếu—một đối tượng có công đức và ý nghĩa lớn lao đến mức chỉ cần tập trung vào đó trong một khoảnh khắc cũng có thể chuyển hóa—con sẽ tu tập đúng đắn các pháp thiền Śamatha và Vipaśyanā.”

Với quyết tâm mãnh liệt và tâm ý nhất điểm, hãy cầu nguyện: “Đạo sư, các đấng Chiến thắng và các bậc thừa tự của các Ngài, xin ban gia trì để con có thể thành tựu!” Trước hết, hãy tách mình khỏi sự ồn ào của các hoạt động. Ở một nơi không bị những “gai góc” cản trở việc thiền định—như sự náo nhiệt của con người ban ngày hay tiếng ồn ban đêm—hãy ngồi trên một chỗ ngồi thoải mái và an trú trong tư thế thiền. Hãy khắc ghi và thực hành sâu sắc các pháp tu chuẩn bị (tiền hành).

Sau đó, hãy đặt trước mặt bạn một hình ảnh đẹp đẽ và trang nghiêm của Như Lai, vị Vua dòng Thích Ca. Hình ảnh ấy nên được một nghệ nhân khéo léo tạo tác theo đúng các tỉ lệ truyền thống và những quy chuẩn khác, và có chiều cao khoảng một gang tay, hoặc bất kỳ kích thước nào thuận tiện để quán chiếu.

Đầy lòng sùng kính, hãy tưởng niệm ân phước của Như Lai và khai quang, gia trì cho hình ảnh bằng cách trì tụng mật ngôn cốt tủy về Duyên khởi. Hãy đặt hình ảnh ấy không quá gần cũng không quá xa, mà ở một khoảng cách vừa phải để ánh nhìn có thể an trú thoải mái, hơi thấp hơn tầm mắt.

Hãy nhìn vào hình ảnh ấy như thể chính là Như Lai hiện thân, và nghĩ rằng: “Như Lai xuất hiện ở thế gian là kết quả của những tích lũy công đức và trí tuệ vô lượng, không thể nghĩ bàn—sự xuất hiện của Ngài hiếm như hoa ưu đàm bát la (Uḍumbara). Vì Như Lai được trang nghiêm viên mãn với ba mươi hai tướng tốt và tám mươi vẻ đẹp phụ, nên khi chiêm ngưỡng Ngài không có điều gì khiến tâm bất an hay khó chịu.”

“Trong thế giới chư thiên và loài người, các Sắc thân (Rūpakāya) hiện ra với sự rõ ràng sống động và vững chắc, được tất cả chúng sinh trong thời ấy cùng nhìn thấy, khi các Ngài thuyết Pháp và thị hiện vô số thần biến. Vì lợi ích của những người cần được hóa độ, các Ngài thị hiện nhiều oai nghi khác nhau như đi, du hành, đứng và nằm, qua đó làm cho vô số thiện căn của chúng sinh được chín muồi và thành tựu.

“Thầy của chúng ta, Đức Phật Gautama Buddha, Sư Tử của dòng họ Śākyas, đã sinh ra trong hoàng tộc Thích Ca và sau đó đạt được giác ngộ. Sau khi giác ngộ, tại núi Linh Thứu (Vulture Peak) và nhiều nơi khác, Ngài đã thuyết giảng Chánh pháp cho đại chúng gồm các vị bồ-tát, các vị thanh văn và cả những chúng sinh bình thường.

Khi ghi nhớ những phẩm tính và đặc điểm phi thường ấy, hãy nghĩ rằng: “Đây chính là hình tướng của Như Lai—đây là hình dáng và diện mạo của thân Ngài. Như Lai là hiện thân của giới hạnh, của định (Samādhi), của tuệ giác, của sự giải thoát hoàn toàn, và của trí tuệ chứng ngộ sự giải thoát viên mãn, v.v. Ngài sở hữu những công đức thanh tịnh không thể nghĩ bàn—những phẩm chất rộng lớn đến mức dường như tràn đầy cả không gian vô biên.”

Ôm trọn tất cả chúng ta bằng đại từ bi, vì lợi ích của chúng ta mà Ngài đã trải qua vô số khổ hạnh, như bạn có thể tìm hiểu thêm từ phần giáo huấn bổ trợ cho Kho Tàng Phước Đức (2), trong đó kể rằng, chẳng hạn, khi còn là Bà-la-môn Samudrarāja, Ngài đã phát khởi tâm bồ-đề, v.v.

Như vậy, trong suốt ba a-tăng-kỳ kiếp, bằng việc tu tập 6 ba la mật, Ngài đã tích lũy những công đức và trí tuệ không thể nghĩ bàn và không thể diễn tả. Nhờ đó, Ngài đã giải thoát khỏi mọi chướng ngại, hàng phục bốn ma, hoàn toàn viên mãn tất cả các phẩm tính giác ngộ, và đạt được thân trí tuệ toàn giác.

Như vậy, Ngài trở thành nơi nương tựa vô thượng, bậc hộ trì và người bạn của tất cả chúng sinh cho đến tận cùng thời gian. Công đức được tạo ra từ việc tưởng niệm Đức Phật Thế Tôn, đảnh lễ Ngài, xưng niệm danh hiệu Ngài, chiêm ngưỡng hình tướng của Ngài, an trú tâm một cách nhất điểm vào Ngài, v.v., dù nhỏ bé đến đâu, cũng sẽ trở thành nhân duyên cho sự giác ngộ tối thượng. Hãy nghĩ rằng: “Tất cả điều này đều nhờ vào năng lực của những phát nguyện trong quá khứ và trí tuệ không thể nghĩ bàn của Như Lai—chúng ta thật vô cùng may mắn biết bao!” Và hãy khởi lên trong tâm niềm tin mãnh liệt bằng cách tưởng niệm Đức Phật theo cách như vậy.

Sau đó, với chánh niệm và sự tỉnh giác được duy trì trọn vẹn, hãy an trụ tâm mình vào hình tướng của Như Lai. Hãy làm điều đó một cách nhẹ nhàng—không quá căng thẳng cũng không quá buông lỏng—giữ cho dòng chảy của sự nhận biết được liên tục không gián đoạn.

Tách mình ra khỏi mọi ý niệm khác ngoài đối tượng đã chọn, hãy an trú tâm hoàn toàn vào hình tướng của Đức Phật. Cứ như vậy mà tu tập hết mức có thể, cho đến khi có thể an trú nhất tâm không gián đoạn. Tóm lại, hãy kiên trì cho đến khi từng bước đạt được chín giai đoạn an trú của tâm và thành tựu trạng thái nhất tâm của cõi dục giới.

Ví dụ, để đạt được các phẩm tính cao quý và đối trị trạng thái hôn trầm, hãy tập trung vào uṣṇīṣa, là đỉnh đầu của Đức Phật, nơi không thể nhìn thấy giới hạn. Để đạt được định lực và đối trị sự tán loạn, hãy chú tâm vào điểm hội tụ (knot) vinh quang ở trung tâm trái tim của trí tuệ giác ngộ nơi Đức Phật. Để tích lũy công đức lớn lao và đạt được an lạc, hãy quán tưởng xoáy lông giữa hai chân mày của Đức Phật, trắng như tuyết, trắng như vỏ ốc, và xoắn về phía bên phải. Để khiến âm thanh diệu pháp lan tỏa khắp thế gian và lợi ích chúng sinh qua việc thuyết pháp, hãy hướng tâm vào cổ họng Đức Phật—nguồn của sáu mươi phẩm tính của lời nói vi diệu—nơi mang dấu hiệu của ba đường vân như vỏ ốc Pháp. Như vậy, hãy quán chiếu bất kỳ phần nào trong thân tướng Đức Phật mà bạn cảm thấy có khả năng khơi dậy niềm cảm hứng và tín tâm nơi mình.

Khi bạn bắt đầu tập trung tâm như vậy, nó giống như cố bắt một con rắn—tâm thức vô cùng hoang dã và khó kiểm soát. Vì vậy, giai đoạn đầu tiên này của thiền định được gọi là trải nghiệm của sự dao động, và được ví như một thác nước. Ở giai đoạn này, bạn có cảm giác rằng tâm mình luôn trong trạng thái chuyển động liên tục.

Như Đức Phật đã dạy trong The Tantra of Subāhu’s Questions:

“Tâm giống như tia chớp, mây và gió;
Nó như những làn sóng trên đại dương lớn.
Nó lừa dối và ưa thích các đối tượng dễ chịu;
Nó dao động, lang thang và cần được thuần phục
.”

Hãy tự thúc đẩy mình, nghĩ rằng: “Tất cả chúng sinh đều bị nắm giữ bởi một tâm hoàn toàn tán loạn. Vì vậy, con sẽ không rơi vào lười biếng, mà sẽ kiên trì dù bất cứ điều gì xảy ra. Bởi vì nếu kiên trì, không có gì là không thể đạt được.” Như vậy, hãy tinh tấn tu tập, duy trì sự tập trung trong thời gian lâu nhất có thể.

Bằng cách kiên trì như vậy, những ý niệm thô nặng, dữ dội và bất thuần phục từng bùng lên mãnh liệt sẽ dần dần lắng dịu. Tuy nhiên, vẫn còn một dòng chảy của nhiều loại ý nghĩ khác nhau, một dòng tâm thức khuấy động không ngừng. Đây được gọi là kinh nghiệm thiền định thứ hai của sự thành tựu, được ví như một con sông chảy qua một hẻm núi hẹp. Hình ảnh này được dùng vì, dù con sông ấy vẫn còn chảy xiết và ồn ào, nhưng nó đã chậm hơn so với thác nước.

Nếu bạn không để sự tinh tấn suy giảm mà tiếp tục tu tập, các ý niệm sẽ dường như lắng xuống và sự chú tâm có vẻ trở nên ổn định. Tuy nhiên, nếu quan sát kỹ hơn, bạn sẽ nhận ra vẫn còn một dòng chảy liên tục của những ý nghĩ vi tế. Đây là kinh nghiệm thiền định thứ ba của sự quen thuộc, được ví như một con sông chảy êm đềm. Bởi vì khi nhìn từ xa, con sông ấy có vẻ như đứng yên và không thấy được sự chuyển động; nhưng khi đến gần, bạn sẽ thấy nó vẫn đang chảy và gợn sóng nhẹ.

Từ điểm này trở đi, nếu bạn không để sự tinh tấn suy giảm mà tiếp tục nỗ lực, bạn sẽ có thể tiến bộ với ít khó khăn hơn trước rất nhiều. Vì vậy, hãy tinh tấn không gián đoạn. Bằng cách thực hành như vậy, ngay cả sự chuyển động của những ý nghĩ vi tế cũng sẽ được lắng dịu, và chừng nào bạn còn duy trì được ý hướng ấy, bạn sẽ có thể giữ sự tập trung lâu bao nhiêu tùy ý. Tuy nhiên, bạn vẫn chưa hoàn toàn miễn nhiễm với các điều kiện bên ngoài. Đây là kinh nghiệm thiền định thứ tư của sự ổn định, được ví như đại dương không còn sóng. Bởi lúc này, tâm trở nên tĩnh lặng và vững chắc.

Khi đạt đến giai đoạn này, nếu tiếp tục duy trì, bạn sẽ không mấy khó khăn mà đi đến kinh nghiệm thiền định thứ năm của sự viên mãn, được ví như một ngọn núi. Đây là trạng thái của sự hành thiền không cần nỗ lực. Ở đây, tâm tự nhiên hòa nhập với đối tượng thiền và, không cần cố gắng, vẫn tự nhiên an trú vững chắc trong thời gian bạn muốn. Các ý niệm không còn đủ sức làm dao động hay quấy nhiễu tâm nữa. Với điều này, trạng thái nhất tâm của cõi dục giới được thành tựu.

Ở giai đoạn này, nhiều trải nghiệm khác nhau sinh khởi từ sự tĩnh lặng ấy sẽ xuất hiện. Khi bạn dần quen thuộc với trạng thái này, thân và tâm đạt được cái gọi là “khinh an” (pliancy). Khi đã trở nên mềm mại và linh hoạt như vậy, bạn có thể an trú tâm vào bất kỳ đối tượng nào và duy trì trong nhiều ngày liền mà không hề cảm thấy mệt mỏi về thân hay tâm. Thân trở nên nhẹ như bông gòn, và tâm thì tràn ngập niềm an lạc của sự sáng rõ sinh động.

Ban đầu, trạng thái khinh an này còn thô và nặng, mang cảm giác có tính chất đặc chắc. Nhưng khi đã quen thuộc, sự nặng nề ấy dần tan biến, và thay vào đó khởi lên một trạng thái (chỉ) Śamatha bất động—cực kỳ vi tế và sáng rõ, giống như một cái bóng—được xem như phần chính yếu của thực hành. Loại thiền định này được gọi là “śamatha”, vì đây là một tâm thức được trang bị khinh an. Nó cũng tương ứng với giai đoạn chuẩn bị có khả năng dẫn đến tầng thiền định đầu tiên. Không có điều gì mà loại định tâm này không thể thành tựu—dù là thiền có đối tượng mang tính khái niệm hay thiền không khái niệm, như thiền quán về tánh không và các pháp tương tự.

Dù có nhiều cách để phân loại các yếu tố trong việc thành tựu Śamatha, như bốn loại tác ý và sáu loại năng lực, tất cả đều có thể tóm gọn trong một lời dạy cốt yếu: hãy an trụ tâm, trong khả năng tốt nhất, vào đối tượng thiền với chánh niệm và tỉnh giác; và khi dần dần quen thuộc với điều này, năm kinh nghiệm thiền định sẽ tự nhiên phát triển. Khi śamatha được thành tựu theo cách này, sức mạnh của khinh an nơi tâm sẽ chuyển hóa thân, khiến thân trở nên rạng rỡ, đầy sinh lực và nhẹ nhàng, đồng thời thoải mái và vững chãi. Tâm cũng trở nên trong sáng, thanh tịnh và có thể hướng đến bất kỳ đối tượng nào một cách dễ dàng. Cả thân và tâm đều tràn ngập niềm hoan hỷ và an lạc vô biên; các phiền não dần lắng dịu, và hành giả kinh nghiệm một niềm vui sâu xa tương tự như hỷ lạc tinh tế của sự tĩnh lặng nội tâm.

Nhờ sức mạnh của công đức do tu tập theo cách này—lấy hình tướng của Đức Phật làm đối tượng thiền quán—và nhờ gia trì của Đức Phật, bạn sẽ có thể thấy Đức Phật, được nghe thuyết pháp, v.v., dù là trong thực tế, trong các trải nghiệm thiền định, hay trong giấc mơ. Như vậy, mọi loại phẩm chất thiện lành và cao quý sẽ dần sinh khởi trong tâm bạn.

Khi đã thành tựu Śamatha (chỉ) theo cách này, bạn nên bắt đầu thực hành Vipaśyanā (quán). Khi mới tu śamatha, bạn đã an trụ tâm bằng cách lấy hình tướng của Đức Phật làm đối tượng nương tựa; hoặc nếu không có đối tượng bên ngoài, bạn đã an trụ vào một hình ảnh quán tưởng về thân tướng ấy trong tâm. Dù chọn phương pháp nào, một khi śamatha được thành tựu thật sự, thì hình tướng của Đức Phật sẽ hiện ra một cách sống động trước tâm—ngay cả khi không cần đối tượng vật lý—như một biểu hiện tự nhiên của thiền định.

Ban đầu, hình tướng này hiện ra một cách rõ ràng và ổn định trong tâm, giống như hình phản chiếu trong gương. Khi bạn dần dần quen thuộc sâu hơn với nó, nó có thể hiện ra trước các giác quan như thể đang hiện diện thật sự. Nếu tiếp tục làm quen sâu xa hơn nữa, hình ảnh ấy thậm chí có thể trở nên cảm nhận được bởi giác quan của người khác. Vì vậy, người ta nói rằng sự rõ ràng (clarity) ban đầu khởi lên như một đối tượng của tâm, thứ hai là như một đối tượng của giác quan, và thứ ba là như một đối tượng có thể chạm được—như được giảng dạy trong các luận giải về pháp “tiếp cận và thành tựu” của truyền thống Cổ Dịch (Early Translation School (Nyingma translation tradition)).

Bạn nên bắt đầu thực hành Vipaśyanā (quán) khi đã đạt được cấp độ rõ ràng đầu tiên. Hãy quán sát rằng hình tướng của Đức Phật, được trang nghiêm bởi các tướng tốt và vẻ đẹp giác ngộ—đẹp đẽ, cuốn hút, sống động và vững chắc—giờ đây hiện ra như một đối tượng của tâm, như thể đang thật sự hiện diện. Tuy nhiên, đây chỉ là sự hiển lộ của các thói quen (tập khí) đã in dấu trong tâm thức bạn. Nó không đến từ đâu cả, cũng không đi về đâu. Khi khảo sát kỹ, nó là tánh không—không thể tìm thấy ở bất kỳ đâu, cả bên trong lẫn bên ngoài. Nó phụ thuộc vào tâm và chỉ xuất hiện nhờ sự tương duyên của các tập khí, không gì hơn. Hơn nữa, chính tâm mà đối tượng ấy hiện ra, khi được quan sát, cũng không thể tìm thấy ở đâu, cả trong lẫn ngoài. Khi bản thân tâm đã không có nền tảng hay nguồn gốc cố định, thì còn cần nói gì về những gì xuất hiện trước nó? Vì vậy, sự xuất hiện của hình tướng Đức Phật này hoàn toàn không có dù chỉ một mảy may tự tính chân thật.

Cũng theo cách như vậy, chư Phật xuất hiện trong thế gian này nhờ sức mạnh tương duyên của hai yếu tố—công đức phát sinh từ những ý hướng thanh tịnh của chúng sinh, và những đại nguyện mà chư Phật trong quá khứ đã phát khởi—giống như một hình ảnh phản chiếu hiện ra trong tấm gương trong sáng.

Tuy nhiên, dù sự hiển hiện này là không sai lầm trong kinh nghiệm của chúng sinh thế gian, Như Lai không hề có dù chỉ một dấu vết của các uẩn, giới hay xứ thông thường. Bởi vì Ngài chính là thân trí tuệ không thể nghĩ bàn, bình đẳng với Dharmadhātu—pháp giới, nền tảng của mọi hiện tượng.

Trích từ Trí Quang Trang Nghiêm Kinh (智慧光莊嚴經):

“Nhờ công đức vô tận, đấng Như Lai
Hiện ra như một sự phản chiếu của chân lý; nhưng thật ra,
Không có ‘chân
như, cũng không có một Như Lai nào.
Khắp thế gian, tất cả chỉ hiện như những phản chiếu mà thôi.”

Và từ “Bát Chu Tam Muội Kinh” (般舟三昧經).:

“Đức Phật là sự hiển hiện của tâm giác ngộ;
Chính tâm ấy vốn thanh tịnh và sáng chói tự nhiên.
Không nhiễm ô, không lẫn với cõi luân hồi,
Ai thấu rõ điều này sẽ giác ngộ thành Phật quả tối thượng.”

Chúng ta cần quán chiếu những chân lý này bằng Vipaśyanā (quán) và đi đến sự hiểu biết trực tiếp về chúng. Khi đã quán chiếu như vậy, chúng ta sẽ thấy rằng cũng như đối với Như Lai, thì tất cả các pháp thuộc về hiện tượng và tồn tại—tức toàn bộ những gì nằm trong các uẩn, giới và xứ—cũng đều như thế. Mặc dù chúng xuất hiện và được kinh nghiệm nhờ sức mạnh của sự tương duyên, nhưng chúng chỉ là những biểu hiện phát sinh đơn thuần từ sự tương tác của các nhân và duyên tương ứng. Khi khảo sát, không thể tìm thấy dù chỉ một vi trần nào có tự tính cố hữu. Giống như một ảo thuật hay những hình ảnh hư ảo trong giấc mộng, thực ra không hề có sự đến hay đi, không có sinh hay diệt, v.v. nào cả.

Tuy vậy, những phàm phu ấu trĩ vẫn chấp vào các hiện tượng như thể chúng là thật. Do đã đánh mất sự phân biệt đúng đắn, họ thấy có sinh, có diệt và mọi thứ khác như là tồn tại thật sự. Giống như một người bị mờ mắt không nhận ra rằng những sợi “lông bay” mà họ thấy chỉ là hiện tượng tạm thời cần được loại bỏ, tâm của chúng ta từ vô thủy đến nay đã bị che mờ bởi lớp “đục thủy tinh thể” của vô minh. Vì thế, chúng ta vẫn mù mờ trước cách mà mọi sự thật sự là.

Tuy nhiên, từ góc nhìn của những bậc đã chứng ngộ chân lý, thì không cần phải loại bỏ các hiện tượng. Bởi vì các Ngài thấy rõ rằng, tuy mọi thứ vẫn hiện ra, nhưng chúng hoàn toàn không có thực tại tự hữu. Thấy được như vậy, các Ngài nhận ra rằng tất cả các pháp vốn vô sinh từ nguyên sơ.

Trích từ The A-na-bà-đạt-đa Long Vương Sở Vấn Kinh (阿那婆達多龍王所問經):

“Cái gì sinh từ nhân duyên thì là vô sinh—
Nó không có tự tính sinh khởi.
Cái gì nương vào nhân duyên được dạy là tánh không.
Ai hiểu được tánh không thì người ấy tỉnh thức.”
(4)

Trích từ Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa:

“Mọi hiện tượng đều như mộng và như ảo hóa. Niết-bàn cũng như mộng và như ảo hóa. Nếu có bất kỳ pháp nào cao hơn niết-bàn, thì pháp ấy cũng giống như mộng và ảo hóa.”

Trích từ Kinh Tam Muội Vương:

“Cũng giống như ảo ảnh quang học và ảo ảnh khí quyển,
Cũng giống như những giấc mộng và những trò huyễn hóa,
Khi quán chiếu các đặc tính của chúng, thì bản chất của chúng là không.
Hãy biết rằng tất cả các pháp đều như vậy.”
(5)

Trích từ Căn Bản Trung Quán Luận Tụng:

“Như giấc mộng và như ảo ảnh,
Như thành phố của càn-thát-bà,
Như vậy, sự sinh khởi, an trụ
Và sự hoại diệt đều được giảng dạy.”
(6)

Vì vậy, dù hình tướng của Đức Phật có hiện ra trong tâm như thế nào, thì mọi sự tập trung vào đó vốn từ nguyên thủy đã không có tự tính cố hữu. Tất cả các pháp cũng đều như vậy, kể cả chính bản thân chúng ta. Bất cứ điều gì là bản tính chân thật của chính chúng ta thì cũng chính là bản tính của chư Phật; và bất cứ điều gì là bản tính của chư Phật thì cũng chính là bản tính của tất cả các pháp.

Trích từ Trí Quang Trang Nghiêm Kinh (智慧光莊嚴經):

“Các pháp vốn thường hằng vô sinh chính là Như Lai.
Tất cả mọi sự vật đều giống như đấng Thiện Thệ (Sugata).
Nhưng những kẻ có tâm thức ấu trĩ, bám chấp vào tướng trạng,
thì sống trong một thế giới của những thứ vốn không thật tồn tại.”

Trích từ Kinh Bát Nhã Ba La Mật Đa Tóm Lược:

“Hãy biết tất cả chúng sinh đều như chính bạn;
hãy biết tất cả các pháp đều như tất cả chúng sinh.
Không khái niệm về sinh cũng không khái niệm về vô sinh—
đó chính là thực hành của Bát
Nhã Ba La Mật Đa tối thượng.”

Trích từ Căn Bản Trung Quán Luận Tụng:

“Những ai còn mang khái niệm về Đức Phật—
vị vốn vượt ngoài mọi khái niệm và không thể đo lường—
thì chính bởi những khái niệm ấy mà bị che mờ,
không thể thấy được Như Lai.

Bản tính của Như Lai
chính là bản tính của thế giới chúng sinh này.
Như Lai không có tự thể cố hữu;
thế giới chúng sinh này cũng không có tự thể cố hữu.”
(7)

Trong bản tính tối hậu của các pháp, tất cả hiện tượng đều bình đẳng trong Dharmadhātu—pháp giới, nền tảng không gian của các pháp—vượt ngoài mọi mạng lưới phức tạp của khái niệm phân biệt như sinh và vô sinh.

Trích từ Hải Ý Bồ Tát Sở Vấn Kinh (海意菩薩所問經):

“Pháp này là thanh tịnh, không nhiễm, thiện lành và tự nhiên sáng chói.
Nó như hư không và vốn không hiển lộ từ nguyên thủy.
Nó vô sinh, không khởi, không nền tảng và không diệt.
Đó chính là ấn chứng bất động, thanh tịnh của chư vị Chiến thắng.”
(8)

Trích từ Đại Phương Quảng Đa Phật Kinh (The Mahāvaipulya Sūtra “A Multitude of Buddha):

Con đường của các bậc đại thánh thì vi tế, khó hiểu,
không thể nghĩ bàn, vượt ngoài khái niệm, và khó đạt tới.
Chỉ những bậc có trí tuệ chuyên sâu mới có thể thấu rõ.
Bản tính của nó là an tịnh; không có sinh cũng không có diệt.

Bản tính ấy là không, tịch tĩnh, bất nhị và vô tận.
Đó là sự giải thoát khỏi các cõi tồn tại, là sự chứng đạt bình đẳng.
Nó không có trung gian hay kết thúc; không thể diễn đạt bằng lời.
Nó thoát khỏi ba thời và đồng nhất với hư không.”

Theo lời của Tôn giả La-hầu-la:

Vượt ngoài lời nói, vượt ngoài tư duy, Chẳng thể diễn bày chính là Bát Nhã Ba La Mật,
Không sinh, không diệt, tựa như hư không,
Chỉ có thể tự thân chứng nghiệm qua trí tuệ của trực giác—
Con xin đảnh lễ Mẹ hiền của chư Phật ba đời: Quá khứ, Hiện tại và Vị lai!

Như lời Ngài Hộ Thế Long Thọ đã dạy:

Chẳng thể nhận biết qua các nguồn ngoại tại; đó là sự an lạc;
Chẳng thể được dựng xây qua các tạo tác của tâm;
Vắng bóng tư duy, không phân biệt:
Đây chính là đặc tính của Như Thị..[9]

Theo đó, hành giả khi đã đạt được xác tín về Như Thị — một thực tại vượt ngoài mọi sự mô tả, mọi mạng lưới khái niệm và mọi điểm quy chiếu — trước hết nên rèn luyện trong định (samādhi) quán chiếu vạn pháp như huyễn. Khi thiền định về tính chất như huyễn nơi sắc thân của Như Lai, hành giả nên quán chiêm ngưỡng thân Phật và trong khi nghe Pháp, cùng các hoạt động khác, hãy rèn luyện trong sự hiển lộ huyền ảo của những trải nghiệm như huyễn này.

Nếu sau đó hành giả an trú trong trạng thái xả ly không thể diễn bàn — tánh Không vốn được chứng nghiệm bằng chính sự tỉnh giác tự nhiên của mình — họ sẽ đạt được sự tương ưng với thực tại, hoàn toàn khế hợp với Giáo pháp. Nhờ đó, chắc chắn rằng chẳng bao lâu sau, hành giả sẽ hiển lộ được trí tuệ của Kiến đạo (Path of Seeing). Điều này đã được giải thích rõ ràng trong các chỉ dẫn cốt tủy về việc nội hóa ý nghĩa của kinh Bát-chu Tam-muội (The Samādhi of the Direct Presence of the Buddhas) và Nhất Trang Nghiêm Tam-muội (Single Array Samādhi).

Ngay cả những ai chưa thể thực hành theo cách thức thâm diệu như vậy, cũng nên thường xuyên thực hiện pháp yoga quán tưởng Đạo sư, bậc Điều Ngự của các bậc Thánh giả, như đã được dạy trong bản văn Kho tàng Gia trì: Pháp tu tập Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Hãy khởi tâm quán tưởng sống động về trạng huống quy y và phát tâm Bồ đề; rồi với một lời nguyện kiên định bắt nguồn từ niềm tin xác tín, hãy tụng đọc những dòng sau đây ba lần:

Nơi Phật, Pháp và Tăng đoàn cao quý,
Con xin quy y cho đến lúc hoàn toàn giác ngộ.
Nhờ công đức của việc hành trì thiền định và tụng đọc này,
Nguyện cho con đạt thành Phật quả vì lợi lạc của hết thảy hữu tình.

Sau khi tu tập Tứ vô lượng tâm, hãy an trú trong sự hợp nhất như huyễn giữa tánh Không và các hiện tượng duyên khởi, rồi trì tụng: "Āḥ! Như sự hợp nhất của tánh Không bất sinh..." và tiếp tục các phần sau.

Hãy quán tưởng một cách rõ ràng và sống động như đã được mô tả trong nghi quỹ. Với niềm tin bất thối chuyển và xác tín rằng Đức Phật đang hiện thân ngay trước mặt mình, hãy thực hành phương pháp mà các bậc Bồ-tát — những bậc thiện xảo trong phương tiện — dùng để tích lũy tư lương của muôn vàn đại kiếp chỉ trong một sát na tâm: đó là Thất chi nguyện (bảy nhánh lễ nguyện) và các pháp tu tương tự nhằm thâu tóm những điểm cốt yếu của việc tích lũy công đức, tịnh hóa chướng nghiệp và tăng trưởng thiện căn. Để không lãng phí tâm nguyện của mình, hãy cầu khẩn Đức Phật với lòng tin tưởng sâu sắc và nguyện cầu cho những ước nguyện ấy được viên thành, như đã được dạy trong phần chính văn.

Sau đó, với niềm tin nhất tâm hướng về Đức Phật Thế Tôn, hãy đảnh lễ trước các Ngài bằng những thân xác nhiều như vi trần của thế gian và dâng cúng mọi vật phẩm trang nghiêm phù hợp. Với tâm nguyện chí thành, hãy khởi nghĩ rằng: “Cho đến khi đạt được giác ngộ vô thượng, con cùng hết thảy chúng sinh xin quy y nơi Ngài,” và trì tụng danh hiệu Đức Phật — “Bậc Thầy Tối Thượng, Đức Thế Tôn...” — càng nhiều lần càng tốt.

Cuối cùng, khi trì tụng thần chú (dhāraṇī) để khẩn cầu tâm trí tuệ của Như Lai, hãy quán tưởng những tia sáng rực rỡ tuôn chảy từ thân Ngài, chiếu rọi khắp không gian bao la. Khi ánh sáng này hòa nhập vào bạn và tất cả chúng sinh, hãy hình dung rằng mọi chướng ngại và khổ đau đều được quét sạch, và bạn tràn ngập niềm hỷ lạc. Tất cả những phẩm hạnh cao quý của con đường Đại thừa — lòng tin, khả năng ghi nhớ (đà-la-ni), tam-ma-địa, khẩu tài, tuệ giác, trí giác và các phẩm tính khác — đều nảy nở viên mãn trong dòng tâm thức của bạn. Nhờ đó, bạn được chuyển hóa thành một vị chắc chắn sẽ đạt đến giác ngộ, bước qua các thứ lớp bất thoái chuyển cho đến khi đạt tới sự giác ngộ vô thượng và viên mãn. Hãy trì tụng thần chú càng nhiều lần càng tốt.

Trích từ "Quang Minh Phổ Chiếu", chương thứ mười một của Kinh Đại Bảo Tích:

Ta đã đạt được muôn vàn ánh sáng ấy
Kể từ khi ta từ bỏ mọi mê lầm (si hoặc)
Thông qua những nhân và duyên
Của các thiện hạnh không thể nghĩ bàn.[10]

Và:

Cũng theo cách ấy, Ta viên mãn những nguyện cầu của chúng sinh
Tương ưng với khuynh hướng (căn cơ) của mỗi người,
Bằng cách hiển lộ những ánh sáng với muôn vàn sắc màu
Thông qua năng lực của vô tác (không tạo tác).[11]

Từ một tia sáng duy nhất, hai màu sắc xuất hiện, nhân lên theo cấp số nhân cho đến khi vô số tia sáng lan tỏa khắp nơi. Trong số đó có những tia được gọi là Vân Quang Thuần Khiết, cùng với Nhãn Thuần Khiết, Nhĩ Thuần Khiết, v.v., cho đến Ý Thuần Khiết. Tương tự, cũng có các tia của Sắc Thuần Khiết, v.v., cho đến Pháp Thuần Khiết; Địa Thuần Khiết cho đến Hư Không Thuần Khiết; cũng như các tia của Uẩn Thuần Khiết, v.v., Chân Lý Thuần Khiết, v.v., và Biện Tài Thuần Khiết, v.v. Một số được gọi theo màu sắc, như Trắng và Vàng; những tia khác mang danh hiệu uy nghiêm, như Đức Tối Thượng, Rồng Vinh Quang, Voi Vinh Quang, Sư Tử Hưng Thịnh, và Đại Long Hưng Thịnh. Có các tia như Hàng Phục Long, Điều Ngự Dạ Xoa, và những loại tương tự; Kim Cang Lực, Không Tánh, và các loại khác; và tia của Đức Nguyên Sơ Viên Mãn (Viên Mãn Nguyên Sơ Chi Đức)—mỗi tia đều tỏa sáng riêng biệt.

Ánh sáng được gọi là Pháp tánh (Dharmatā) khiến hàng chục triệu cõi Phật rung chuyển. Tia sáng mang tên Kẻ hàng phục Māra gieo nỗi kinh hoàng cho các đạo quân ma quỷ. Chỉ cần ghi nhớ danh hiệu của Phướn Thắng Lợi Đức Hạnh (Công Đức Thắng Phan) cũng đủ để loại bỏ mọi tổn hại; giữ trong tâm danh hiệu của Phướn Thắng Sức Mạnh (Uy Lực Thắng Phan) thì có thể đánh bại mọi kẻ thù; và giữ danh hiệu của Phướn Thắng Hòa Bình Hoàn Hảo (Viên Mãn Hòa Bình Thắng Phan) thì buông bỏ mọi ham muốn, v.v.

Thật vậy, chỉ cần nhớ lại những danh hiệu này cũng đủ để từ bỏ hành vi sai trái về tình dục, giới luật lệch lạc và mọi lỗi lầm khác. Chỉ cần tưởng niệm bất kỳ một trong những ánh sáng này cũng đủ để hoàn thiện giới luật và định lực, xua tan bóng tối của vô minh, và chấm dứt mọi phiền não. Bằng cách này, người ta đạt được hạnh phúc lâu dài và thoát khỏi khổ đau, vượt lên trên mọi phức tạp của khái niệm, và đánh thức các phẩm tính cao quý, như trí tuệ nguyên sơ biết rõ ba thời.

Mỗi luồng ánh sáng, như Vô Ưu, lại có thêm một đoàn tùy tùng gồm tám nghìn tỷ. Người ta dạy rằng thông qua vô số luồng ánh sáng rộng lớn này—nhiều hơn cả số nguyên tử trong vũ trụ—Như Lai đưa chúng sinh đến sự viên mãn trọn vẹn và hoàn toàn đáp ứng mọi hy vọng của họ.

Từ “Tuyển tập giáo lý về Bồ Tát”( Bồ Tát Tạng Kinh - Bodhisattva-piṭaka):

Ánh sáng của chư Phật là vô hạn,
Một mạng lưới tia sáng không thể nghĩ bàn
lan tỏa khắp mười phương
khắp biển vô tận các cõi.[
12]

Hơn nữa, bạn nên quán chiếu những điểm được dạy trong Kinh Hoa Nghiêm và phẩm Hiền Cát (Bhadraśrī) của Kinh Đà La Ni Bảo Đăng, và các kinh văn tương tự.

Trong bối cảnh hiện tại này, bằng cách thực hành hết khả năng của bạn các du già chỉ và quán (yoga śamatha và vipaśyanā) như đã được giảng dạy ở trên, bạn sẽ đạt được ít nhất một sự tương tự gần đúng của śamatha và vipaśyanā chân chính.

Khi bạn kết thúc các buổi thực hành, hãy dâng mandala, tán thán và cầu nguyện, hồi hướng công đức, và thực hiện bất kỳ lời nguyện ước nào phù hợp. Không cần thỉnh cầu Đức Phật rời đi hay tan biến hình ảnh quán tưởng, vì bất cứ nơi nào bạn tập trung vào hình tướng của Đức Phật, Ngài đều thật sự hiện diện. Trong thân tính như hư không (space-like kāya) của sự bình đẳng, không có đến hay đi, không tăng hay giảm. Vì vậy, bạn có thể niệm tưởng Đức Phật bất cứ lúc nào và ở bất kỳ nơi đâu.

Giữa các buổi thực hành, hãy nỗ lực hết sức trong việc nuôi dưỡng các nguồn suối của đức hạnh—đọc các bộ kinh điển khác nhau, thực hiện lễ lạy, dâng cúng, đi nhiễu quanh, v.v. Ngay cả khi bạn không thể làm những việc này, hãy giữ chánh niệm về Đức Phật và quán chiếu, hết lần này đến lần khác, về các chân lý vô thường, khổ, không và vô ngã, cũng như sự an lạc hoàn hảo của niết bàn.

Khi nằm xuống để nghỉ ngơi, hãy tiếp tục thực hành của bạn trong suốt thời gian bạn còn thức. Khi bạn dần chìm vào giấc ngủ, hãy hình dung sự hiện diện rực sáng của thân tướng Đức Phật lan tỏa khắp toàn bộ không gian, và để tâm trí bạn an trú trong cảm nhận về ánh sáng.

Từ Nghĩa Quyết Định Kinh (Chữ Hán: 義決定經) hoặc Nghĩa Phân Biệt Kinh (義分別經).

“Trong số đó, này các tỳ-kheo, thế nào là tu tập định mà khi được thực hành, tu dưỡng và lặp đi lặp lại sẽ đưa đến sự đạt được tri kiến về chánh niệm? Ở đây, này các tỳ-kheo, một vị tỳ-kheo đã nắm bắt tốt và đúng đắn về tưởng ánh sáng…. Giống như, này các tỳ-kheo, vào tháng cuối của mùa hạ, giữa trưa trong một ngày không mây, không có bất kỳ chướng ngại nào đối với ánh sáng, mọi thứ hiện ra rất rõ ràng, sáng chói và rực rỡ, không hề bị bóng tối che phủ, thì cũng chính như vậy, này các tỳ-kheo, một vị tỳ-kheo đã nắm bắt tốt và đúng đắn về tưởng ánh sáng; vị ấy đã đặt nó vững chắc trong tâm, đã thực hành nó tốt và đã thâm nhập một cách trọn vẹn. Vị ấy tu tập một tâm được duy trì bởi tưởng về ánh sáng ban ngày, với cùng một sự sáng tỏ: như ban ngày thì cũng như ban đêm; như ban đêm thì cũng như ban ngày; như phía trước thì cũng như phía sau; như phía sau thì cũng như phía trước; như bên dưới thì cũng như bên trên; như bên trên thì cũng như bên dưới. Như vậy, với một tâm rộng mở và không bị ràng buộc, được duy trì bởi tưởng về ánh sáng ban ngày, vị ấy tu tập một tâm với cùng một sự sáng tỏ. Đây là sự tu tập định mà khi được thực hành, tu dưỡng và lặp đi lặp lại sẽ đưa đến sự đạt được tri kiến về chánh niệm.”[13]

Theo cách này, hãy kiên trì hết mức có thể trong việc thực hành niệm nhớ Đức Thế Tôn (Bậc Đạo Sư của chư hiền trí), và với lòng thành chân thật, hãy hồi hướng mọi căn lành công đức cho việc đạt được sự giác ngộ tối thượng, viên mãn, không gì vượt hơn.

Bằng cách tinh tấn như vậy—an trụ trong sự hợp nhất giữa các hiện tướng tương đối như huyễn và sự giải thoát tối hậu khỏi mọi phức tạp—việc thành tựu thiền chỉ (śamatha) và thiền quán (vipaśyanā) của bạn sẽ làm phát sinh những phẩm chất phi thường của con đường, như được diện kiến chư Phật, nghe giáo pháp, v.v. Ngay cả những ai chỉ thực hành một cách tương tự, mang tính mô phỏng, cũng sẽ nhận được nhiều loại gia trì và thành tựu, và trong giấc mơ của họ cũng sẽ xuất hiện những điềm lành như thấy Đức Như Lai (Tathāgata).

Hơn nữa, các dấu hiệu cát tường và không cát tường xuất hiện trong giấc mơ được đề cập trong “Kinh Thánh của Bốn Thành Tựu”, nơi Bồ-tát Văn-Thù-Sư-Lợi Đồng Tử (Mañjuśrīkumārabhūta) giảng giải cho vị trời Cát Tường Hiền (Śrībhadra) rằng:

Bốn giấc mơ này là do những chướng ngại (phiền não che lấp) của các vị Bồ-tát mà có: thấy một cái giếng bẩn nhưng vẫn thấy mặt trăng ở đáy giếng; thấy một ao, hồ hoặc giếng bùn lầy nhưng vẫn thấy mặt trăng ở dưới đáy; thấy mặt trăng dù bầu trời bị mây che phủ; và thấy mặt trăng dù bầu trời dường như bị gió, bụi và khói bao phủ.

Bốn giấc mơ này là hệ quả của các chướng ngại nghiệp (karmic obscurations) nơi các vị Bồ-tát: thấy mình rơi từ một vách đá cao xuống vực sâu; thấy một con đường có nhiều chỗ lên xuống gập ghềnh; thấy mình đi vào một con đường hẹp; và bị lạc trong giấc mơ, thấy nhiều cảnh tượng đáng sợ.

“Bốn giấc mơ này là hệ quả của các chướng ngại phiền não (afflictive obscurations) nơi các vị Bồ-tát: thấy một người bị co giật vì trúng phải độc dược mạnh; nghe tiếng gọi của một bầy lớn những loài thú dữ hung bạo; thấy mình sống giữa những kẻ lưu manh; và thấy thân thể cùng y phục của mình bị bao phủ bởi sự ô uế, dơ bẩn.

“Bốn giấc mơ này là hệ quả của việc các vị Bồ-tát đạt được dhāraṇī: thấy một rương báu lớn đầy ắp nhiều châu ngọc; thấy một hồ nước tràn đầy những đóa sen đang nở; thấy mình tìm được một bó vải trắng; và thấy một vị trời có lọng che được giương trên đầu.

“Bốn giấc mơ này là hệ quả của việc các bồ-tát đạt được sự an trụ thiền định: thấy một cô gái xinh đẹp đeo trang sức lộng lẫy đang dâng cúng bằng cách rải hoa, thấy một đàn thiên nga trắng tinh khiết bay trên bầu trời và cất tiếng kêu, thấy bàn tay của Như Lai rực sáng đặt lên đỉnh đầu mình, và thấy Như Lai ngồi trên một đóa sen, đang nhập định.”

“Bốn giấc mơ này là hệ quả của việc các bồ-tát thấy Như Lai: thấy trăng mọc, thấy mặt trời mọc, thấy một đóa sen nở, và thấy vị chúa của các cõi Phạm Thiên trong tư thế tịch tĩnh hoàn toàn.”

“Bốn giấc mơ này là hệ quả của những đặc tính riêng của các bồ-tát: thấy một cây sala lớn đầy lá, hoa và quả rực rỡ sắc màu; thấy một chiếc bát bằng kim loại đầy vàng; thấy bầu trời tràn ngập lọng, phướn và cờ; và thấy một vị đại chuyển luân thánh vương.”

“Bốn giấc mơ này là hệ quả của việc các bồ-tát chế ngự Ma vương: thấy một đại dũng sĩ vượt qua tất cả các dũng sĩ của quân địch, dựng cờ hiệu và tiến lên; thấy một đại anh hùng đánh bại một đạo quân rồi tiếp tục tiến lên; thấy một vị vua được làm lễ đăng quang; và thấy chính mình ngồi trên tòa giác ngộ và hàng phục Ma vương.”

“Đây là bốn giấc mơ tương ứng, là những dấu hiệu của việc các bồ-tát không thoái chuyển: thấy một vương miện trắng được đặt trên đầu mình, thấy mình thực hành cúng dường không hề tiếc nuối, thấy mình ngồi trên một pháp tòa lớn, và thấy Như Lai ngồi tại tòa giác ngộ và thuyết giảng Chánh pháp.”

“Bốn giấc mơ này là hệ quả của việc các bồ-tát đạt được tòa giác ngộ: thấy một chiếc bình; thấy mình được bao quanh bởi những loài chim xanh; thấy rằng dù đi đến đâu, tất cả cây cối trước tiên đều vươn lên, rồi cúi xuống đảnh lễ; và thấy một luồng ánh sáng vàng rực rỡ.” [14]

Sau khi đã hiểu rõ các dấu hiệu cát tường và bất tường của giấc mơ như đã được mô tả, hãy nương tựa vào các phương tiện thiện xảo để loại bỏ các lỗi lầm và thành tựu những phẩm tính tốt đẹp.

Trong Pháp Ấn, có dạy rằng những dấu hiệu của sự thanh tịnh chân thật thông qua sám hối bao gồm: thấy Đức Phật xuất hiện, cảm nhận Ngài chạm vào đỉnh đầu, thấy các tia sáng tỏa ra, và thấy hoa, v.v Các kinh khác cũng dạy rằng nếu bạn thấy hoa sen trong giấc mơ, thì mục tiêu của bạn đã được thành tựu.

Kinh Giải Thoát giải thích rằng những dấu hiệu trong giấc mơ cho thấy các ác nghiệp đã được thanh tịnh bao gồm: muốn vượt qua một con sông rộng lớn rồi băng qua bằng cầu, được người khác tắm rửa cho, và mưa rơi xuống thân mình. Tất cả đều là dấu hiệu của sự thanh tịnh hoàn toàn. Việc cùng tham gia và ngồi giữa một đại chúng Tăng-già xuất gia, và bước vào một bảo tháp hoặc ngôi chùa rồi thấy hình tượng chư Phật và bồ-tát, là những dấu hiệu cho thấy đang đi theo dấu chân của Phật và Pháp. Và nếu bạn mơ thấy mình tìm được và ăn trái cây, thì bạn sẽ thành tựu những phẩm tính tốt đẹp ngay trong đời này.

Có dạy rằng chỉ cần một giấc mơ như vậy cũng biểu thị sự thanh tịnh của một trong năm tội ác vô gián, còn nếu có năm giấc mơ như vậy thì biểu thị sự thanh tịnh của cả năm. Điều này cũng nên được hiểu trong ánh sáng của chương “Giảng về Giấc Mơ” trong Đại Bảo Tích Kinh, cùng với các bản kinh tương tự khác.

Trong khi các kinh điển giảng dạy nhiều pháp thực hành khác nhau cho các bồ-tát vào thời điểm cận tử, chẳng hạn như mười một phép quán, thì những điểm cốt yếu được trình bày trong Kinh Cao Quý về Trí Tuệ vào Giờ Lâm Chung. Ở đó dạy rằng, khi cái chết đến gần, một bồ-tát nên thiền quán về trí tuệ này theo cách sau: mỗi khi ý nghĩ “ta đang chết” khởi lên, hãy quán tưởng vị Đạo Sư, Đấng Chủ tể của các bậc hiền thánh, ở trên đỉnh đầu mình và khởi lên niềm tin mãnh liệt, kiên cố. Sau đó hãy suy niệm như sau: “Không phải chỉ riêng ta. Tất cả chúng sinh đều chịu sự chi phối của quy luật cái chết; không ai có thể tránh khỏi. Dù chúng ta đã lang thang qua vô số lần sinh tử trong luân hồi, chúng ta không đạt được gì ngoài khổ đau. Tất cả những cái chết trước đây đều hoàn toàn vô nghĩa—nhưng giờ đây, ta sẽ đảm bảo rằng cái chết này của ta được thấm nhuần ý nghĩa.”

Sau khi suy niệm như vậy, hãy quán xét rằng không có một pháp hữu vi nào—dù là bên trong hay bên ngoài, thuộc quá khứ, hiện tại hay tương lai—lại không chịu sự chi phối của vô thường, không mang bản chất sinh rồi diệt trong từng khoảnh khắc trôi qua. Trong phạm vi của các pháp hữu vi, có những hiện tượng tan biến trong chớp mắt, như bọt nước trên mặt nước hay tia chớp trên bầu trời, và cũng có những hiện tượng tồn tại qua vô lượng kiếp, như vũ trụ, rồi chỉ chấm dứt sau một thời gian rất dài. Tuy vậy, dù tồn tại trong một khoảnh khắc ngắn ngủi hay suốt một đại kiếp, tất cả các pháp hữu vi cuối cùng đều phải hoại diệt; không có gì là vĩnh cửu.

Toàn bộ vũ trụ—bao gồm môi trường và các chúng sinh trong đó—đều tất yếu sẽ tan rã. Nếu ngay cả Như Lai cũng thị hiện cái chết bằng cách nhập niết-bàn, thì còn cần gì phải nói đến những chúng sinh như chúng ta?

Như Đức Như Lai đã tuyên thuyết: “Tất cả các pháp hữu vi đều vô thường.” Không hiểu được điều này, chúng sinh kinh sợ cái chết và sự chia lìa, nhưng lại hoan hỷ với sự sinh ra và tụ hội. Vì thế, họ tiếp tục xoay vần trong cõi luân hồi hết lần này đến lần khác. Nhưng riêng ta, ta sẽ xem cái chết này như một người bạn lành trong đời sống tu tập. Từ tận sâu thẳm trái tim, ta sẽ quán chiếu và chứng ngộ tính vô thường của mọi pháp hữu vi; ta sẽ xác quyết điều này với niềm tin tuyệt đối.

Vào giờ phút lâm chung, hãy an trú một cách thiết tha trong ý nghĩ này:

“Trong tất cả những đời tương lai của con, cho đến khi con đạt đến cốt tủy của sự giác ngộ, nguyện cho sự nhận biết vô thường giải thoát con khỏi mọi chấp trước vào thế giới hữu vi. Đạo Sư, Đấng Thắng Giả, chủ tể của các bậc Hiền Thánh và các bậc kế thừa của Ngài, con tha thiết cầu xin: xin ban gia hộ để điều này được thành tựu.”

Sau đó, như được dạy trong Kinh Đại thừa cao quý “Trí tuệ vào giờ phút lâm chung”:

“Vì tất cả các pháp vốn tự tánh thanh tịnh, nên cần tu tập sự hiểu biết rõ ràng rằng không có thực thể nào tồn tại độc lập.”

“Vì tất cả các pháp đều liên hệ với tâm giác ngộ, nên cần tu tập sự hiểu biết rõ ràng về lòng đại bi.”

“Vì tất cả các pháp vốn bản chất quang minh, nên cần tu tập sự hiểu biết rõ ràng về vô sở đắc (không chấp thủ, không nắm bắt).”

“Vì tâm chính là nhân duyên làm khởi sinh trí tuệ, nên đừng tìm Phật ở nơi nào khác.”[15]

Dùng chính cái chết của mình làm duyên khởi, trước hết hãy quán tưởng rằng tất cả chúng sinh trong vô lượng cõi không gian đều xem cái vô thường là thường hằng, xem khổ đau của luân hồi là hạnh phúc, và vì thế họ mãi chịu đựng vòng xoay sinh tử cùng vô số hình thái khổ đau không cùng tận. Hãy khởi lên tâm đại bi sâu xa và nghĩ rằng: “Để giải thoát tất cả họ khỏi khổ đau của sinh, già, bệnh, chết, và để đưa họ đến giác ngộ tối thượng, viên mãn, nguyện con sẽ trở thành bậc hộ trì của ba cõi, một Đức Phật Thế Tôn (buddha bhagavan)! Nguyện con giải thoát tất cả chúng sinh khỏi khổ đau vô tận của họ!” Bằng cách ấy, hãy tu tập lòng đại bi hòa quyện với tâm bồ đề (bodhicitta).

Tương tự như vậy, lấy cái chết này làm ví dụ, hãy quán sát tất cả các pháp, rồi con sẽ thấy rằng bản chất của chúng vốn là tính không (shunyata). Chính chỉ nhờ sức mạnh của các khái niệm phân biệt — qua những phóng chiếu của tâm thức — mà chúng ta tạo ra vui và buồn, lợi và hại. Trong trạng thái tối hậu, vốn không có cái gọi là chết hay khổ đau. Hãy xác quyết với niềm tin vững chắc: “Tất cả các pháp đều không thật!” và an trú trong sự quán chiếu ấy.

Tương tự như vậy, mọi hiện tượng này — kể cả cái chết — hoàn toàn không có một bản thể cố định nào, nhưng chúng vẫn không ngừng hiện hiện dưới muôn hình vạn trạng, như một chuỗi biểu hiện huyễn ảo. Khi quán xét kỹ lưỡng, chúng vượt ngoài mọi diễn tả, siêu vượt hai cực đoan tồn tại và không tồn tại. Tự tính của chúng là không thể nắm bắt, đồng thời sáng tỏ và quang minh.

Vì thế, tâm của chính mình — không phải là một thực thể, cũng không phải một thứ vô niệm trống rỗng — vốn nguyên sơ sáng tỏ. Trong sự nhận biết trực tiếp hiện tiền, mọi hiện tượng của luân hồi và niết-bàn đều đồng một vị. Do đó, hãy xác quyết rằng trí tuệ tâm của bậc Đạo Sư, Đấng Điều Ngự của các bậc hiền thánh, và tâm của chính bạn là bất khả phân trong trạng thái tỉnh giác tự hữu — chân tánh đích thực của tâm.

Nếu bạn duy trì trạng thái ấy mà không tán loạn, nhờ đó đạt được niềm xác tín và sự vững chắc nơi nó, thì đó chính là sự chứng ngộ chân tánh của tâm mình. Ngoài điều ấy ra, không có một cái gọi là “Phật” nào khác để tìm kiếm nữa.

Trong trạng thái này, không có chết cũng không có sinh. Cái chết và những điều tương tự chỉ là các khái niệm; trong bản tánh tự nhiên của tâm vốn vượt ngoài mọi khái niệm, sinh và tử không hề được xác lập dưới bất kỳ hình thức nào. Nếu bạn lìa đời trong khi an trụ nơi trạng thái ấy, bạn sẽ tái sinh vào cõi Phật mà không trải qua sự mê lầm của trạng thái trung ấm.

Tuy nhiên, nếu bạn chưa có được mức độ xác tín ấy, nhưng vào lúc lâm chung và suốt trong trạng thái trung ấm vẫn không quên chánh niệm hướng về vị đạo sư — Đấng Điều Ngự của các bậc hiền thánh — thì chỉ riêng điều đó cũng đủ để bảo đảm cho bạn được tái sinh vào một cõi thanh tịnh.

Hơn nữa, dù trong đời này bạn gặp phải bất kỳ nỗi kinh hoàng hay khổ đau nào, nếu bạn nhớ niệm đến Phật, bạn chắc chắn sẽ được giải thoát khỏi mọi nghịch cảnh. Bất kỳ hạnh phúc và may mắn nào bạn đang hưởng, hãy biết đó là đại ân của Phật; rồi quán tưởng mọi thọ dụng ấy như đại dương mây cúng dường của Phổ Hiền, và dâng hiến chúng lên Ngài.

Hãy thường xuyên quán chiếu ý nghĩa của ba giải thoát, sáu ba-la-mật và những giáo pháp thâm diệu khác mà Đức Phật đã giảng dạy. Với lòng đại bi đối với tất cả chúng sinh, hãy phát khởi tâm bồ-đề và hết sức mình tu học theo hạnh nguyện của chư Bồ Tát.

Vì vậy, tưởng niệm bậc Đạo Sư là điều vô cùng hệ trọng, bởi chính nhờ nhớ niệm Đức Phật mà chúng ta khởi sự bước vào các đạo lộ của Bồ Tát. Công đức và lợi ích của điều ấy không thể nghĩ bàn, vì chính từ đó mà mọi phẩm tính cao quý của con đường tu tập được sinh khởi.

Trong thời đại này, khi phần lớn mọi người chỉ bận tâm đến nghi lễ và kinh văn của riêng tông phái mình, thì rất ít người thật sự tôn kính bậc Đạo Sư — Đấng Điều Ngự của các bậc hiền thánh. Thế nhưng, những ai đã bước vào con đường này mà vẫn không nhận ra bậc Đạo Sư là tối thượng thì quả thật thiếu tuệ phân biệt chân chính. Vì sao? Bởi chính nhờ lòng bi mẫn của bậc Đạo Sư, khi thị hiện các hạnh giác ngộ vì chúng sinh lang thang trong thời mạt pháp này, mà toàn bộ giáo pháp mới xuất hiện. Điều ấy không chỉ bao gồm Tam Tạng kinh điển, mà còn tất cả giáo pháp khác, cho đến cả Bí Mật Kim Cang thừa, nhờ đó trạng thái hợp nhất vô học có thể được chứng ngộ chỉ trong một đời ngắn ngủi giữa thời suy đồi này.

Hơn nữa, cũng chỉ nhờ lòng bi mẫn của Ngài mà những người gìn giữ các giáo pháp ấy mới hiện hữu — tức thánh tăng đoàn gồm các bậc thành tựu đã bước vào cánh cửa của Kinh thừa và Mật thừa.

Nếu bậc Đạo Sư không chiếu rọi ánh sáng của Chánh pháp vào cõi này trong thời đại này, thì chúng ta thậm chí còn không thể nghe được danh hiệu của Tam Bảo — huống chi là thực hành con đường Kinh thừa và Mật thừa. Vì vậy, dù chúng ta theo truyền thống nào, dù là các Tân phái hay Cựu phái, thì việc giữ vững niềm tin mãnh liệt và bất lay động, xem bậc Đạo Sư là tối thượng, luôn luôn là điều không thể thiếu. Do đó, chúng ta cần duy trì lòng sùng kính sâu xa đối với bậc Đạo Sư và kiên trì thực hành điều này.

Một số người có thể nghĩ: “Nếu chúng ta phát khởi lòng sùng kính đối với Đức Phật dưới một hình tướng khác — chẳng hạn như một vị xuất ly, không còn chấp trước, hay như một vị bổn tôn an bình hoặc phẫn nộ — thì có gì khác nhau không?” Về bản chất tối hậu thì không có sự khác biệt, bởi tất cả chư Phật đều là pháp thân trí tuệ của sự bình đẳng viên mãn, và trong các phẩm tính đoạn trừ và chứng đắc thì không hề có sự phân biệt. Tuy nhiên, xét từ phương diện của các hiện tướng tương đối, chính nhờ lòng bi mẫn của bậc Đạo Sư mà các pháp tu của chư vị bổn tôn an bình và phẫn nộ, cũng như các con đường tu tập của các truyền thống khác nhau, mới được xuất hiện ngay từ đầu.

Vì vậy, cũng giống như hồ Manasarovar là nguồn khởi của tất cả các dòng nước trên thế gian, thì sự xuất hiện của toàn bộ giáo pháp Kinh thừa và Mật thừa chắc chắn đều là kết quả từ lòng bi mẫn của bậc Đạo Sư. Do đó, cũng như việc khẩn cầu vị thầy gốc của chính mình mang lại dòng gia trì mạnh mẽ hơn so với việc khẩn cầu các vị khác — bởi sức mạnh của mối liên hệ cá nhân — thì tương tự, việc khẩn cầu  Đức Phật, Đấng Điều Ngự của các bậc hiền thánh, cũng mang lại gia trì nhanh chóng hơn so với việc khẩn cầu một vị Phật khác.

Bạn có thể tự hỏi: “Như vậy có nghĩa là tôi phải chỉ tập trung vào Đấng Điều Ngự của các bậc hiền thánh và ngừng khẩn cầu các chư Phật khác không?” Không phải như vậy. Bất kỳ bổn tôn nào (yidam) mà bạn chọn để khẩn cầu, hãy hiểu rằng trên thực tế họ không tách rời khỏi bậc Đạo Sư, bởi vì đã dạy rằng tất cả chư Phật là một trong pháp thân. Bạn cần nhận ra rằng bậc Đạo Sư tối thượng hiển hiện dưới nhiều hình tướng bản tôn khác nhau, để làm nơi nương tựa và người bạn đồng hành cho chúng sinh đang lang thang trong thời mạt pháp này. Tuy nhiên, nếu bạn xem bậc Đạo Sư và vị bản tôn của mình là hai thực thể riêng biệt — bỏ rơi bậc Đạo Sư nhưng lại chấp vào một vị bản tôn mà bạn cho là khác biệt — thì bạn sẽ thấy rằng các thành tựu sẽ trở nên khó đạt được.

Tương tự như vậy, trong truyền thống Mật thừa Tối Thượng, vị Đạo Sư giữ vai trò Kim Cang Đạo Sư về bản chất không tách rời khỏi tất cả chư Phật của ba thời. Tuy nhiên, trong phương diện hiển hiện, vị Đạo Sư còn mang lòng từ bi sâu xa hơn. Bởi vì nếu không có Đạo Sư, dù chư Phật có hiện diện khắp vũ trụ, bạn cũng không thể nhận được gia trì hay thành tựu từ các Ngài. Do đó, việc dâng cúng dù chỉ cho một lỗ chân lông trên thân Đạo Sư cũng còn thù thắng hơn việc cúng dường tất cả chư Phật trong ba thời.

Tất cả các kinh điển Kim Cang thừa đều lặp đi lặp lại rằng chỉ cần làm hài lòng vị Đạo Sư thì bạn sẽ làm hài lòng tất cả chư Phật của ba thời và nhận được gia trì của các Ngài. Vì những lý do đó, Đạo Sư được gọi là hiện thân trọn vẹn của Tam Bảo, hoặc còn được xem như Bảo thứ tư. Do đó, hãy hiểu rằng Đạo Sư có sức mạnh thù thắng hơn chư Phật của quá khứ, hiện tại và vị lai.

Bạn có thể tự hỏi liệu có pháp tu nào thù thắng hơn guru yoga hay không. Thực ra là không có. Dù truyền thống Mật thừa không có con đường nào thâm diệu hơn đạo sư du già (guru yoga) — cũng không có cánh cửa nào nhanh hơn để gia trì có thể đi vào — thì vị Đạo Sư truyền dạy Mật chú thực chất chính là hóa thân của bậc Đạo Sư, Đấng Điều Ngự của các bậc hiền thánh.

Như Đức Phật đã dạy trong Đại Bát Niết Bàn Kinh (Mahāparinirvāṇa Sūtra):

Trong đoạn này, Đức Phật an ủi tôn giả Ānanda:

“Ānanda, đừng buồn rầu.
Ānanda, đừng than khóc.
Về sau, ta sẽ
hiện thân dưới hình tướng các bậc thầy tâm linh,
để mang lại lợi ích cho ngươi và cho người khác
.”

Vì các vị ấy đã tu tập con đường Kinh thừa và Mật thừa được sinh khởi từ lòng bi mẫn của bậc Đạo Sư, nên các guru được xem là con của lời dạy của  Đức Phật Thích Ca Mâu Ni.  Một vị Đạo Sư có đầy đủ kinh nghiệm và chứng ngộ được gọi là một đứa con trai hay con gái tâm huyết  — của Phật, là người mà nơi đó dòng gia trì của Bồ-đề tâm tương đối và tuyệt đối của bậc Đạo Sư đã được truyền trao trọn vẹn.

Vì vậy, bất kỳ pháp đạo sư du già (guru yoga) nào bạn thực hành, bạn phải nhận ra rằng vị Đạo Sư không tách rời khỏi bậc Bậc Thầy— Đấng Điều Ngự của các bậc hiền thánh. Hơn nữa, bạn cũng phải hiểu rằng Đạo Sư là một với bổn tôn tâm thể (yidam), và bổn tôn tâm thể là một với đạo sư (guru). Họ không tách biệt với nhau, cũng không tách biệt với bất kỳ vị Phật nào trong ba thời. Ở những người còn mang ý niệm hơn thua tương đối, hoặc muốn chọn một vị Phật này nhưng bỏ rơi vị Phật khác, thì các thành tựu sẽ không thể sinh khởi.

Hãy nhận ra lòng từ bi to lớn mà bậc Đạo Sư đã dành cho chúng ta và giữ ngài trong sự sùng kính tối thượng. Khi bạn đã thấy rõ rằng các đạo sư, bổn tôn (guru, yidam) và tất cả các bổn tôn khác không tách rời khỏi  Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, thì bất kỳ sự quán tưởng hay trì tụng nào bạn thực hành — dù hướng vào đạo sư hay bổn tôn tâm thể (guru hay yidam) — đều chắc chắn sẽ mang lại những thành tựu lớn lao.

Vì vậy, khi thực hành niệm tưởng bậc Đạo Sư — Đấng Điều Ngự của các bậc hiền thánh — với sự quán tưởng và trì tụng như vậy, bạn nên làm với một tâm sùng kính đặt nền trên sự hiểu biết này: không chỉ các bậc Đạo thù thắng, những người khai mở giáo pháp Kinh thừa và Mật thừa cho chúng ta, mà toàn bộ Tam Bảo của ba thời đều được bao hàm trong  Đức Phật. Trong bối cảnh Kinh thừa này, việc đơn thuần niệm tưởng Phật là điều quan trọng hàng đầu. Tuy nhiên, cũng hoàn toàn thích hợp nếu quán tưởng Ngài bất khả phân với vị Đạo của mình. Dẫu vậy, điều này không phải là bắt buộc tuyệt đối, bởi chỉ cần nhớ nghĩ đến Phật thôi cũng đã đủ để đạt được mục đích tu tập.

Khi trì niệm danh hiệu của Ngài, chúng ta xưng tụng Đức Phật là “Bậc Thầy Tối Thượng” hay “Vị Đạo Tối Thượng” hay “Vô Thượng Sư”, vì Ngài thật sự là vị Đạo của ba cõi. Do đó, đây là một danh xưng hoàn toàn thích hợp dành cho Đức Phật. Tuy nhiên, nếu bạn hiểu điều đó như một dấu hiệu rằng Đức Phật không thể tách rời khỏi vị Đạo mà bạn đang có niềm tin, thì cách hiểu ấy cũng hoàn toàn đúng đắn.

Dù trong bất kỳ trường hợp nào, ngay cả khi bạn thực hành theo cách Đạo du già, trong đó vị Đạo — nguồn gốc của truyền thống Mật Thừa Tối thượng — hiển hiện dưới hình tướng của  Đức Phật, thì bạn vẫn nên tiến hành như đã được giải thích ở trên. Bởi vì Đạo là hiện thân cốt yếu của tất cả chư Phật, nên không có sự mâu thuẫn nào khi quán tưởng bất kỳ vị Phật nào dưới bất kỳ hình tướng nào. Bản chất của các pháp là như vậy: gia trì sẽ sinh khởi tương ứng với mức độ và sức mạnh của niềm tin và sự sùng kính của mỗi người.

***

Những chỉ dạy này được trích từ tác phẩm Bông Sen Trắng của Jamgön Mipham Rinpoche—bản giáo huấn hỗ trợ cho Bảo Tạng Gia Trì (Treasury of Blessings)—mà không làm sai lệch lời văn hay ý nghĩa. Người ta nói rằng đối với những ai chưa biết cách thực hành đúng đắn Đại Thủ Ấn (Mahāmudrā) và Đại Viên Mãn (Dzogchen), việc thực hành theo những chỉ dẫn này mang lại lợi ích lớn lao. Điều này được nghe từ Rigdzin Tekchok, một đệ tử trực tiếp của vị guru toàn tri.

Nguyện cho công đức và thiện hạnh tăng trưởng không ngừng.

| Translated by Laura Swan in 2008, and revised and edited for Lotsawa House in 2016. Further revised by Laura Swan in 2026 at the request of Ka-Nying Shedrub Ling, with grateful acknowledgement to Adam

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/dilgo-khyentse/dispelling-anguish

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét