Chủ Nhật, 8 tháng 3, 2026

TRÍ TUỆ ĐẠI DƯƠNG NHẤT VỊ

 NGUYỆN NHẬN RA CÁC TRUNG ẤM

Nguyên tác: The Single Oceanic Wisdom 
An Aspiration to Recognise the Bardos

Tác giả: Rigdzin Jigme Lingpa
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển


***

Bậc thầy tôn quý, hiện thân của tất cả chư Phật
Trong ba thời quá khứ, hiện tại và vị lai,
Xin hãy hướng ánh nhìn từ bi về phía con,
Vì con không nơi nương tựa và bị vây hãm bởi sự mê lầm sâu dày.

Từ vô thủy đến nay, con luôn bị áp bức
Bởi nghiệp, phiền não và những hành vi bất thiện.
Con đã nuôi dưỡng sự khinh mạn đối với đạo sư
Và sân hận đối với các kim cang huynh đệ.

Do đó, con đã rơi vào vực thẳm của hành vi tàn hại,
Và làm hư hoại tất cả các giới nguyện và cam kết samaya của mình.

Giờ đây, với sự hối hận mãnh liệt,
Con thành tâm sám hối tất cả lỗi lầm của mình,
Không che giấu bất cứ điều gì.

Trước kia con đã không nghe theo lời dạy của ngài,
Cũng không thanh tịnh hóa những hành vi xấu ác và các sa ngã.

Vì vậy, khi con rời khỏi thế gian này,
Chắc chắn con sẽ bị thiêu đốt trong những ngọn lửa địa ngục không thể chịu đựng nổi.

Khi thời khắc ấy đến,
Ngài có bỏ rơi con chăng?

 Nền tảng của sự mê lầm không có khởi đầu cũng không có kết thúc.
Từ trạng thái trung tính của chân như,
Đại ma vương
của mê lầm – nguồn gốc của mọi khổ đau –
Cùng khởi sinh với sự sinh ra: đó là trung ấm tự nhiên của đời sống.

Đã đạt được một đời sống tự do và đầy đủ thuận duyên,
Nguyện cho con có thể làm hoan hỷ đạo sư,
Và với trí tuệ phát sinh từ học hỏi, suy tư và thiền định,
Nuôi dưỡng tâm xuất lyBồ-đề tâm,
Thực hành con đường tối thượng của sáu Ba-la-mật (sáu hạnh toàn thiện).

Rồi theo thời gian, con sẽ phải ra đi
Bước vào cái gọi là trung ấm của sự chết.

Khi ấy, nguyện cho con không phải chịu
Một cái chết đau đớn, đột ngột hay bạo lực.

Mà bằng cách hợp nhất không gian căn bảntỉnh giác,
Con đi vào cảnh giới của quang minh,
Và được giải thoát ngay trong nền tảng nguyên sơ.

Tuy nhiên, nếu sự thuần thục của con còn yếu kém,
Nguyện cho con đóng tám cửa ngõ
(1)mở cửa Phạm thiên (Brahma)(2),
Và nhờ sự quen thuộc với giáo huấn
Về pháp phóng xuất thần thức
(pháp phowa) cưỡi trên gió vi tế,
Con được tái sinh vào
Khechara (3) – cõi trời của các thủ trì tỉnh giác (vidyādhara).

 Nhưng nếu con không thể thực chứng
Pháp chuyển di thần thức của các vị Bồ-tát theo cách ấy,

Thì địa đại sẽ tan rã vào chính nó, và con sẽ không còn có thể đứng dậy;
Thủy đại sẽ tan rã vào chính nó, và chất nhầy sẽ chảy từ mũi, nước bọt từ miệng;
Hỏa đại sẽ tan rã vào chính nó, và miệng cùng mũi sẽ khô khốc;
Và khi phong đại tan rã, hơi thở con sẽ đứt quãng, tay chân yếu dần,
Thị lực trở nên mờ đục, và mắt lật ngược lên trên.

[Khi không còn sự nâng đỡ của các yếu tố],
Năm năng lực vi tế sẽ tản mất,
Khiến những hình ảnh lần lượt xuất hiện:
Khói, ảo ảnh, đom đóm và một ngọn đèn sáng rực.

Khi năm đại và những tinh túy trí tuệ (bindu)
Vốn trước đây thấm khắp trong chúng
Sắp sửa tách rời,
năm thức giác quan tan vào tâm,

Nguyện cho con không còn luyến chấp
Vào những hiện tướng của đời sống đã cạn kiệt này,
Và nhớ lại những lời chỉ dạy của Đạo sư.

Tiếp theo, do sự tách rời
Của các kinh mạch thô, tinh chất (giọt)khí vi tế,
Những kinh nghiệm vi tế của hiện tướng, tăng trưởngđạt đến sẽ khởi sinh.

Khi yếu tố trắng đi xuống,
Những ý nghĩ liên hệ đến dục,
Phát sinh từ “sức mạnh của trái tim” (niềm lạc), sẽ chấm dứt.

Đồng thời, thức sẽ tan vào hiện tướng,
Và khi một cảnh tượng giống như bầu trời thu ngập ánh trăng xuất hiện,
Nguyện cho con nhận ra ánh trắng ấy chính là bản tánh của mình.

Tương tự như vậy, khi yếu tố đỏ đi lên,
Những ý nghĩ liên hệ đến sân hận,
Phát sinh từ “bụi trần” (khổ đau), sẽ chấm dứt.

Khi hiện tướng tan vào tăng trưởng,
Một cảnh tượng đỏ rực như những tia mặt trời chiếu qua ô cửa trên mái sẽ xuất hiện.
Nguyện cho con nhận ra rằng
Chính điều ấy là bản tánh của mình.

Khi giọt trắng và giọt đỏ (4) gặp nhau tại tim,
Những ý nghĩ liên hệ đến si mê,
Phát sinh từ “bóng tối” (vô minh), sẽ chấm dứt.

Khi tăng trưởng tan vào cận-đạt,
Một cảnh tượng đen như bầu trời thu trong đêm tối sẽ hiện ra,
Và con có thể sẽ rơi vào trạng thái ngất lịm.

Khi ấy, nguyện cho con sử dụng ngọn đèn của sự ghi nhớ,
Và bằng cách hợp nhất cận-đạt với quang minh tự nhiên,
Tỉnh thức ngay trong pháp giới nguyên sơ.

Nếu vì sức mạnh của sự ghi nhớ tỉnh giác của con còn yếu,
Khiến con mất ý thức và trải nghiệm trạng thái không còn tư tưởng,
Nguyện cho A-lại-da (nền tảng của tất cả)
Tỉnh thức thành Pháp giới,
Trong sáng, rõ ràng và hoàn toàn vượt ngoài mọi khái niệm,
Và nguyện cho con thực chứng quang minh của cái chết.

Nếu con không thể hợp nhất với Pháp thân (Dharmakāya)
Và nắm bắt không gian nguyên sơ ở bên trong,
Thì tâm–khí vi tế cực kỳ
Sẽ phát triển theo chiều ngược lại,
Từ cận-đạt trở lại tăng trưởnghiện tướng.

Khi không gian nguyên sơ thanh tịnh từ thuở ban đầu
Của pháp giới căn bản
— tức trung ấm của pháp tánh — hiện khởi,
Nguyện cho con nhận ra nó nhờ tri kiến của Trekchö
(5).
Khi quang minh tự nhiên của nền tảng
Khiến mọi hiện tượng hiển lộ
Thành ánh sáng năm màu, giống như gấm vóc được trải ra,

Nguyện nhờ sự thuần thục của Tögal (6),
Con nhận ra chúng chính là sự hiển lộ của chính mình – không có tự tánh –
Để chúng tự tan biến ngay trong chân như.

Tuy nhiên, nếu quang minh tan vào hợp nhất,
Thì những hiện tướng của một trăm vị bổn tôn sẽ hiển lộ,
Cùng với những âm thanh kinh hãiánh sáng chói lòa.

Nếu những hiện tướng ấy khiến con sinh lòng sợ hãi,
Nguyện cho con nhớ rằng chúng
Chẳng khác gì những con sư tử nhồi bông,
Và nhờ vậy đạt được niềm tin vững chắc, không lay chuyển.

Trong năm ngày an trú thiền định,
Khi con chiêm ngưỡng dung nhan của chư Phật thuộc năm bộ Phật,
Nguyện cho con hợp nhất chúng
Với ánh sáng tự nhiên của chính mình,
Và để tỉnh giác hòa nhập vào quang minh.

Rồi khi những hình tướng ấy tan vào nơi con,
quang minh tan vào tỉnh giác,
Nguyện cho con được giải thoát,
Như đứa trẻ nhảy vào lòng mẹ.

Tương tự như vậy, khi hợp nhất tan vào trí tuệ,
quang minh hiển lộ thành những quả cầu ánh sáng rực rỡ (bindu),
Là những hiện tướng của bốn loại trí tuệ
(7),
Con đường nội tại của Kim Cang Tát-đỏa,

Nguyện cho con nắm bắt được chính nền tảng của tỉnh giác.

Khi trí tuệ tan vào sự hiện diện tự nhiên (tự khởi),
Các thân Phật, trí tuệ, từ bi, ánh sáng,
Sự vượt ngoài mọi cực đoan, tính bất nhị, thanh tịnh và bất tịnh,
Hiển lộ thành tám cánh cửa lớn của trí tuệ tự khởi.

Vì sự đi vào hay rút khỏi luân hồi và niết-bàn
Chỉ đơn thuần là sự biểu lộ tự nhiên của tỉnh giác,
Nguyện cho con đạt được niềm xác tín
Trong đại hiển lộ của nền tảng,
Nơi mà không điều gì từng rời khỏi chính nền tảng ấy.

Hơn nữa, nhờ sự thuần thục với giai đoạn phát khởi (tạo tác),
Nguyện cho thân vi tế của khí và tâm
Khởi hiện qua năm phương diện của sự giác ngộ viên mãn,
Thành thân của bổn tôn (yidam)
Đầy đủ tướng hảo và dấu hiệu.

Và như vậy, khi hợp nhất với Báo thân (Sambhogakāya) trong trung ấm,
Nguyện cho con khởi hiện trong một huyễn thân.

Nguyện cho những ai lấy lòng sùng kính làm pháp tu,
Tìm được sự an ổn nơi năm sự quán niệm
(8),
Sáu thần thông,
năng lực ghi nhớ không sai lầm.

Và khi nhớ nghĩ đến đạo sư,
Nguyện cho họ được ở dưới sự che chở của ngài.

Nguyện cho chúng con nhớ lại và chiêm ngưỡng dung nhan của bổn tôn (yidam).
Và nguyện cho chúng con ghi nhớ tri kiến, thiền định,
Những cảnh giới tái sinh,
những giáo huấn tinh túy.

Tương tự như vậy, nguyện cho con nhớ lại những đời quá khứ,
Thấy rõ cái chết, sự chuyển sinh và sự tái sinh trong tương lai,
Và nhận biết những hiện tượng vi tế, ẩn kín.

Nguyện cho con thấy chúng sinh của sáu cõi trong các cảnh giới khác nhau,
Đạt được nhận thức giác quan thanh tịnhthần nhãn,
không bao giờ quên hay đánh mất
Tất cả vô lượng hình thức của Giáo Pháp,
Được biểu hiện qua những giáo lý mà con đã từng nghe.

Quan trọng nhất, vào thời khắc này,
Nguyện cho con nhận ra trực tiếp
Bản tánh của tỉnh giácrỗng rang, thanh tịnh nguyên sơ, không tạo tác,
Hiển lộ trần trụi đúng như chính nó,
Từ đó quyết định chắc chắn về nó và đạt được niềm xác tín vững chắc.

Tóm lại, không có giới hạn nào cho việc khảo sát
Trung ấm của pháp tánh (dharmatā).
Nhưng khi quay sự khảo sát ấy
Về chính người đang khảo sát,
Thì trở nên rõ ràng rằng không có điều gì thật sự tồn tại.

Và ngay cả ý niệm về sự không tồn tại
Cũng tự tan biến.
Đây chính là nơi của sự giải thoát nguyên sơ.

Khi đã đạt được “thân trẻ trung trong bình” (9),
Nguyện cho con từ năng lực sáng tạo tự nhiên của nó
Hiển lộ vô số hóa thân,
Để lặn sâu vào biển luân hồi vì lợi ích của tất cả chúng sinh.

Nhưng nếu con lang thang vào trung ấm của sự trở thành (tái sinh),
Con sẽ trở thành một tập hợp của bốn “danh”,
Với đầy đủ các giác quan
Và một thân bằng năng lượng tâm thức.

Con sẽ rõ ràng nhớ lại cái chết của mình
Và biết rằng mình đã qua đời,
Bị cuốn đi như chiếc lông vũ trong gió,
Chỉ bị ngăn cản bởi nơi giải thoátchỗ tái sinh.

Con sẽ bị những luồng gió của nghiệp cuốn đi, mệt mỏi,
Và trong nỗi sợ hãi sẽ phải chịu đựng
Những nỗi khổ của cái chết
Lặp đi lặp lại vào cuối mỗi tuần,
Trong khi vẫn tìm kiếm một nơi để tái sinh.

Vào lúc ấy, nhờ đã quen thuộc với
Cực Lạc Hỷ, Vinh Quang,
Liên Hoa Trùng Điệp, Thành Tựu Công Hạnh,
Núi Lửa Rực Cháy ở trung tâm

Tức năm cõi tịnh độ tự nhiên hiển lộ,
Những cảnh giới ban cho sự an lạc kỳ diệu của giải thoát hoàn toàn,
Nguyện cho con tiến đến đó không chút do dự.

Nếu con chưa được làm chín muồi bởi quán đỉnh
Để hòa nhập vào năng lực năng động của tỉnh giác nội tại,
Và chưa thấy được chân lý,
Thì những dấu hiệu của nơi tái sinh tương lai sẽ xuất hiện.

Con sẽ nhìn xuống và thấy gốc cây – dấu hiệu của địa ngục,
Hoặc thấy khói – dấu hiệu của cõi ngạ quỷ.

Con sẽ nhìn phía trước và thấy máu – dấu hiệu của cõi súc sinh,
Hoặc mưa và tuyết – dấu hiệu của cõi a-tu-la.

Con sẽ nhìn lên và thấy ánh trắng – dấu hiệu của cõi trời hoặc loài người.

Nếu là chư thiên cõi dục, con sẽ ưa thích các đối tượng cảm dục.
Nếu là chư thiên cõi sắc, con sẽ say mê ánh sáng.
Và nếu là chư thiên cõi vô sắc, con sẽ ưa thích không gian trống rỗng,
Nơi không có bất cứ điều gì.

Sau đó, đặc biệt khi thấy sự kết hợp của cha mẹ tương lai,
Nhờ đã rèn luyện trong sự không thực của tham và sân,
Hoặc đã trực nghiệm ý nghĩa của quán đỉnh thứ ba,

Và nhờ tịnh hóa bốn cách sinh
Dựa trên sự quen thuộc với hạnh trì mật chú,
Cùng pháp tịnh hóa của du-già giai đoạn phát khởi,

Nguyện cho con hòa nhập sự tái sinh của mình với Hóa thân (Nirmāṇakāya),
Và nhờ vậy đạt được năng lực tiếp tục con đường tu tập của mình.

Nếu con không thể hợp nhất các quán đỉnh làm chín muồi,
Những giáo huấn giải thoát, samaya cần được giữ gìn,
kết quả cần đạt được,
Và cũng không quen thuộc
Với những điểm then chốt của sự chuyển hóa ba cửa
— thân, khẩu, ý —
Thành bổn tôn, mật chú và chân như,

Thì năng lực của bốn đại sẽ vận hành
Tạo ra bốn loại âm thanh kinh hãi,
Ba độc sẽ hiển lộ thành ba vực thẳm,
Những tập khí bất thiện sẽ hiện thành những kẻ hành hình,
Và sẽ có lửa, nước cùng những thú dữ đáng sợ.

Khi ấy, nguyện cho con tìm được sự an ổn
Bằng cách quy y Tam Bảo tôn quý,
Và nhờ sức mạnh của công đức đã tích lũy từ trước.

Nguyện cho con chọn được cánh cửa tái sinh tốt đẹp trong tương lai,
Một thân người đầy đủ tự do và thuận duyên.

Và bằng cách kết hợp điều ấy
Với những lời nguyện thanh tịnh,
Nguyện cho con đạt được một thân có đủ bảy phẩm chất của các cõi cao.

Dùng thân ấy để làm hoan hỷ bậc đạo sư,
tự do thực hành Giáo Pháp một cách trọn vẹn,
Và bằng cách noi theo các chỉ dạy một cách chính xác,
Nguyện cho tâm của con hòa nhập với trí tuệ của đạo sư.



Bài nguyện này do trì minh giả Rigdzin Jigme Lingpa trước tác.


Đây là đoạn kết của bài “Nguyện Nhận Ra Các Trung Ấm”, kết thúc bằng một lời nguyện rất quan trọng trong truyền thống Dzogchen:

  • Nếu không giải thoát ngay trong trung ấm,
  • thì tái sinh vào một thân người đầy đủ thuận duyên,
  • gặp lại đạo sư, tiếp tục tu hành và đạt giác ngộ.

***

 Phụ thích:

 (1) Tám cửa ngõ: tám lối thần thức có thể thoát ra khỏi thân khi chết (mắt, tai, mũi, miệng, rốn, v.v.). Trong Mật thừa, hành giả cố gắng thoát qua đỉnh đầu.
(2)
Cửa Phạm thiên (Brahma aperture): điểm mở ở đỉnh đầu (Brahmarandhra), nơi thần thức được hướng ra để đạt tái sinh cao.
(3)
Khechara: cõi thanh tịnh của các bậc trì minh (vidyādhara) – những hành giả Mật thừa đã đạt thành tựu.
(4)
Khu rdul: Đây chính là hai yếu tố trắng và đỏ đã được nhắc đến trước đó —
yếu tố trắng (tinh chất của người cha)
yếu tố đỏ (noãn của người mẹ).

Trong Mật thừa Tây Tạng, đặc biệt trong giáo lý về trung ấm và tiến trình chết, hai yếu tố này được gọi là:

  • Giọt trắng (white drop) – liên hệ với tinh chất của cha, thường được nói là trụ ở đỉnh đầu.
  • Giọt đỏ (red drop) – liên hệ với tinh chất của mẹ, thường trụ ở vùng rốn hoặc tim.

Khi chết:

  • giọt trắng đi xuống,
  • giọt đỏ đi lên,
  • và khi hai giọt gặp nhau tại tim, hành giả trải nghiệm giai đoạn đen cận-đạt, sau đó quang minh căn bản xuất hiện.

(5) Trekchö: pháp tu Dzogchen “cắt đứt triệt để”, trực nhận bản tánh tâm.
(6)
Tögal: pháp tu Dzogchen “nhảy vượt”, trong đó các hiện tượng ánh sáng và hình tướng trí tuệ tự hiển lộ.
(7)
Bốn trí tuệ: các khía cạnh của trí tuệ giác ngộ khi tâm thanh tịnh hoàn toàn.
(8)
Năm quán niệm (five recollections): những điều cần nhớ trong lúc cận tử và trung ấm (thường liên hệ đến việc nhớ đạo sư, giáo pháp, bổn tôn, bản tánh tâm…).
(9)
“Thân trẻ trung trong bình” (youthful kāya in a vase): thuật ngữ Dzogchen chỉ trạng thái giác ngộ nguyên sơ trọn vẹn, nơi ba thân Phật tiềm ẩn trong nền tảng.

| Translated by Sean Price, 2021.

 

Source:

'jigs med gling pa. "bar do'i smon lam dgongs gcig rgya mtsho", in klong chen snying thig rtsa pod. 5 Vols. BDRC W1KG13585. Bodhnath, Kathmandu and Bodhgaya, Bihar: Shechen Publications, 1994. Vol. 2: 469–479.

 

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét