Tuyển tập ngắn các lời cầu nguyện gửi đến Guru Rinpoche và Hai Mươi Lăm Đệ Tử, Vua và các Thần Tử
Nguyên tác:The
Heart of Blessings | Lotsawa House
A Brief Anthology of Prayers to Guru Rinpoche and
the Twenty-Five Disciples, the King and Subjects
Tác giả: Jamyang Khyentse Wangpo
Việt dich: Quảng Tuệ
Anh dịch: Tuệ Uyển
***
Quy y Đạo Sư!
Những ai muốn cầu
nguyện một cách ngắn gọn đến Bậc
Thầy Quý Giá của Orgyen và các hiện
thân của Ngài, gồm năm dòng họ
Tötreng và tám hiện thân,
cùng với hai mươi lăm đệ tử, vua và các
thần tử, thì nên thực hiện như sau.
Quy y và khởi phát Bồ-đề tâm
Từ nay cho đến giác ngộ, tôi và
tất cả chúng sinh
Quy y Đức Phật, Pháp và Tăng, cũng như các bậc Thầy, chư Thiên và Ḍākinīs.
Nhằm đạt được Phật quả viên mãn vì lợi ích của chúng sinh,
Tôi khởi phát trái tim của Bồ-đề tâm — cả trong khát vọng lẫn hành động!
(Lặp lại 3 lần)
Quán Tưởng
Trước mặt tôi, trên bầu trời,
giữa mây trăm báu dâng cúng tinh xảo,
Trên đài sư tử trang sức, đài sen, mặt trời và mặt trăng,
Bậc Thầy gốc của tôi, Orgyen Rinpoche, ngự trên đài
Sắc diện trắng, điểm đỏ, trẻ
trung, uy nghi và rực rỡ,
Tay phải cầm chày kim cang, tay trái cầm
chén đầu lâu với bình báu,
Ôm thân tôn thượng bí mật của phối ngẫu tối
thượng, ẩn hình dưới dạng khaṭvāṅga.
Ngài mặc áo trong, y Pháp và áo
choàng gấm,
Trên đầu đội mũ đẹp, nhìn thấy liền được giải thoát;
Ngài ngồi thẳng lưng, chân bắt chéo trong tư thế kim cang.
Từ thân, khẩu và tâm bí mật của
Ngài,
giữa một biển ánh sáng và tia cầu vồng,
Năm dòng họ Tötreng, tám hiện thân,
Hai mươi lăm đệ tử tâm của Ngài, vua và
các thần tử,
Và một đám mây vô tận các bậc Thầy thủ trì tỉnh giác, tất cả tuôn trào ra.
Ba trung tâm của họ được đánh dấu
bằng ba âm tiết oṃ āḥ
hūṃ, từ đó ánh sáng chiếu ra,
Gọi mời các chúng sinh trí tuệ, hòa nhập
không tách rời với họ.
(Hãy quán tưởng theo cách này).
Thỉnh Nguyện
Hūṃ! Hãy hiển hiện, Padmākara,
cùng đoàn ḍākinī của Ngài,
Chăm sóc chúng con, các bậc Thánh thiện mọi thời và mọi phương,
Đại sư cao quý, Pema Tötreng Tsal,
Xin Ngài hiện đến, chúng con cầu nguyện, từ các cõi linh thiêng của thủ trì tỉnh giác và ḍākinī.
(Các chúng sinh
trí tuệ được thỉnh nguyện, rồi hòa tan vào quán tưởng.)
Bảy Nhánh Cúng Dường
Ngự trên đài sư tử, đài sen,
đài mặt trời và mặt trăng của Ngài.
Với lòng thành tràn đầy thân, khẩu và tâm, con lễ bái và quy y Ngài.
Con dâng lên một đám mây cúng dường, cả ngoài, trong, bí mật và tối thượng.
Con sám hối và tịnh hóa mọi hành động gây hại cùng các chướng ngại tâm linh trong quá khứ, hiện tại và tương lai.
Con hoan hỷ với mọi hành động
công đức của cả các chúng sinh cao thượng và bình thường,
Con khẩn cầu Ngài xoay bánh xe giáo pháp, uyên thâm và rộng lớn,
Con cầu nguyện Ngài đừng nhập Niết-bàn, mà hãy luôn hiện hữu,
Và con hồi hướng mọi công đức chân thực cho sự giác ngộ viên mãn của tất cả
chúng sinh.
(Như vậy, hãy
thu thập mọi công đức tích lũy.)
Lời cầu nguyện gửi đến Guru Rinpoche, các hiện
thân và hai mươi lăm đệ tử
Ngài là hiện thân của tất cả
các Đức Chinh Phục, quá khứ, hiện tại và vị lai — bậc thầy của trăm gia đình Phật,
Ngài điều hành bốn hoạt động giác ngộ[1],
Ngài sở hữu sức mạnh thu hút mọi sự vật hiện hữu và xuất hiện,
Padmākara, chúng con cầu nguyện dưới chân Ngài!
Kim Cang (Vajra), Bảo Sanh (Ratna), Liên Hoa (Padma), Hành Động (Karma)
Và Phật (Buddha) — năm dòng họ tối thượng
của Tötreng;
Đấng bất tử Padmākara, Liên Hoa Sanh,
Loden
Choksé, Pema Gyalpo,
Shakya
Sengé, Nyima Özer,
Sengé
Dradok, Dorjé Drolö và các hiện thân tương tự,
Hiển hiện mọi dạng thần biến cần thiết để điều phục
chúng sinh,
Là hiện thân của mọi nguồn quy y: chúng
con cầu nguyện Ngài!
Sangyé Yeshé, Gyalwa Chokyang,
Namkhé Nyingpo, Jñānakumāra,
Yeshé Tsogyal, Palgyi Yeshé,
Và Palgyi Sengé — chúng con cầu nguyện
chư vị!
Vairotsana, Vua Tri Songdetsen,
Yudra Nyingpo, Dorjé Dudjom,
Yeshé Yang, Sokpo Lhapal,
Và Nanam Yeshé — chúng con cầu nguyện
chư vị!
Palgyi Wangchuk, Denma Tsemang,
Kawa Paltsek, Shübu Palgyi Sengé,
Gyalwé Lodrö, Drokben Lotsawa,
Và Drenpa Namkha — chúng con cầu nguyện
chư vị!
Odren Wangchuk, Ma Rinchen
Chok,
Palgyi Dorjé, Langdro Könchok Jungné,
Và Gyalwa Changchub — chư vị đã chứng
ngộ tâm trí tuệ của chư Phật —
Các bậc thủ trì tỉnh giác và đệ tử tâm yếu, chúng con cầu nguyện chư vị!
Chúng con cầu nguyện Ngài,
Orgyen Rinpoche,
Xin gia trì cho chúng con, hỡi hội chúng
các hóa thân thủ trì tỉnh giác,
Xin tiêu trừ mọi chướng ngại của chúng
con — bên trong, bên ngoài và bí mật,
Xin khiến mọi nguyện ước của chúng con
tự nhiên thành tựu,
Xin ban cho thân, khẩu và tâm của chúng
con bốn quán đảnh kim cang,
Xin xua tan bệnh tật, tà lực (döns),
nghiệp xấu, che chướng và chướng ngại vào không gian,
Xin ban cho chúng con các thành tựu
(siddhi) của thân, khẩu, tâm giác ngộ, cùng các phẩm tính và hoạt động,
Xin gia trì cho chúng con, để đạt được bốn thân
(kāya) của giác ngộ viên mãn!
(Hãy cầu nguyện
như vậy với lòng tha thiết sâu sắc.)
Nếu bạn muốn, tại thời điểm này, bạn có thể tụng “Lời Cầu Nguyện Bảy Chương”, “Lời Cầu
Nguyện (đến Guru Rinpoche) Tự Nhiên Thành Tựu Mọi Nguyện ước”, “Lời Cầu Nguyện
Loại Trừ Mọi Chướng Ngại Trên Con Đường”, hoặc bất kỳ lời cầu nguyện nào khác mà bạn chọn.
Hãy
làm điều này đối với tất cả những gì bạn thấy:
Bên ngoài, bên trong, môi trường và chúng sinh, tất cả mọi thứ —
Khi nhìn thấy chúng, không bám chấp,
chỉ ở yên.
Sự tự do khỏi cạm bẫy nhị nguyên, bám
chấp chủ thể-vật thể chính là
hình tướng của bổn tôn— vừa sáng rực vừa trống không.
Đối với lạt ma này, sự tự giải thoát
của ham muốn và chấp trước,
chúng con cầu nguyện!
Chúng con cầu nguyện Ngài, Bậc Thầy
Sinh ra từ Hoa Sen của Orgyen!
Hãy
làm điều này đối với tất cả những gì bạn nghe:
Tất cả âm thanh, được bám chấp là dễ chịu hay khó chịu,
Khi nghe chúng, trống không, không suy
nghĩ tiếp, chỉ ở yên.
Âm thanh trống không này, không có khởi
đầu và không có kết thúc, chính là
khẩu của chư thắng giả.
Đối với âm thanh trống không này, khẩu
của tất cả chư Phật,
chúng con cầu nguyện!
Chúng con cầu nguyện Ngài, Bậc Thầy
Sinh ra từ Hoa Sen của Orgyen!
Hãy
làm điều này đối với tất cả những gì dấy lên trong tâm:
Bất cứ ý nghĩ và cảm xúc nào của năm độc
xuất hiện,
Đừng mời gọi chúng, đừng chạy theo
chúng, đừng để tâm tạo tác hay bày vẽ:
Chỉ cho phép chúng lắng xuống khi tự
sinh khởi, đó là giải thoát vào pháp
thân (dharmakaya).
Đối với lạt ma này, sự tự nhận thức của
trí tuệ nguyên sơ (rigpa),
chúng con cầu nguyện!
Chúng con cầu nguyện Ngài, Bậc Thầy
Sinh ra từ Hoa Sen của Orgyen!
Như
vậy:
- Bên ngoài, thanh tịnh
các hiện tượng mê hoặc;
- Bên trong, giải thoát
tâm khỏi bám chấp;
- Và bằng sự tự nhận diện ánh sáng,
Xin lòng bi của tất cả các bậc Thiện Thệ quá khứ, hiện tại và vị lai
Truyền cảm hứng và gia trì cho chúng sinh như chúng con được tự giải thoát!
Nguyện
cho chúng con có thể hòa tâm với Đạo Sư khi tụng những dòng này với lòng
khao khát và tôn kính vô biên.
Sarva Mangalam (Nguyện mọi điều lành đến với tất cả)
Tụng Chú (Mantra
Recitation)
Trong
giai đoạn “tiếp cận” (approach) của các lời cầu nguyện, hãy tụng:
om ah hung benza guru pema siddhi hung
Càng nhiều càng tốt,
và sau đó ở cuối:
Nhận Thọ Quán Đảnh
Từ bốn
trung tâm của thân vị đạo sư thủ trì tỉnh giác,
Những tia sáng chiếu ra và hòa vào bốn
trung tâm của con[2],
Truyền cho con gia trì của thân, khẩu,
tâm giác ngộ và trí tuệ bất hoại,
Để con nhận được bốn quán đảnh.
Hòa tan (Dissolution)
Cuối cùng, cõi công đức tan chảy
thành ánh sáng và hòa nhập vào con.
Tâm trí tuệ của lạt ma hòa nhập làm một với tâm con, sức mạnh lớn của sự
chứng ngộ được viên mãn.
Với sinh tử và Niết-bàn cùng một hương vị, trong không gian bao trùm của ánh
sáng rõ ràng,
Nguyện mọi điều lành đến để kết quả, lợi ích của chính con và tất cả chúng
sinh, được thành tựu.
***
Nhận thọ quán đảnh, và kết thúc bằng các lời cầu
nguyện hồi hướng, khát vọng và cầu lành.
Phù hợp với lời cầu nguyện của người chí thành, dưới
danh hiệu Nātha, bản này được soạn bởi Khyentsé Wangpo, đệ tử ưu tú của Bậc Thầy
Sinh ra từ Hồ, Liên Hoa Sanh.
Siddhirastu! (Nguyện
thành tựu!)
| Rigpa
Translations, 2004
The Heart of Blessings | Lotsawa House
https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/jamyang-khyentse-wangpo/heart-of-blessings
Hành
Trình Giác Ngộ: Gặp Gỡ 25 Đệ Tử của Đạo Sư Quý Báu
Guru
Rinpoche hay Đạo Sư Quý Báu, thường được gọi là Liên Hoa Sanh (Padmasambhava), là một bậc hiền giả rất được tôn kính trong Phật giáo Kim Cang Thừa (Vajrayana) và
là một Đức Phật đã viên mãn giác ngộ. Ngài sinh ra hoàn toàn nhờ sức mạnh của trí tuệ và lòng từ bi, với
mục đích phục vụ vô lượng chúng sinh.
Ngài được coi là vị Phật mà Đức Phật
Thích Ca Mâu Ni đã tiên tri.
Vào thế kỷ thứ 9, Liên Hoa Sanh đến Tây Tạng theo lời mời của Vua Trisong Deutsen. Chuyến thăm này được coi là lần đầu tiên Phật giáo được truyền vào Tây Tạng.
Sau đó, Ngài đã trấn áp cả các sinh vật
sống lẫn phi sinh vật đang cản trở việc xây dựng Tu viện Samye. Ngài đã chiến đấu với các lực lượng thần linh trên
đỉnh núi Hepo, không xa Tu viện
Samye, và ràng buộc họ thề trung thành
với giáo Pháp và những người tu tập theo Pháp.
Ngài đã viếng thăm các thung
lũng Tây Tạng, Nepal, Bhutan và Sikkim, và ban phước cho những nơi này
như “Đất Thánh”. Thậm chí còn kỳ
diệu hơn, khi Ngài truyền dạy cho các đệ tử những chân lý bí mật này, Ngài lại ẩn chúng một cách huyền bí trong tâm hồn thuần khiết của họ. Sau
đó, Ngài cất giấu nhiều bảo vật tôn
giáo và các bản viết biểu tượng ở nhiều địa điểm khác nhau, bao gồm đá, tượng, hồ nước và cả không gian bên ngoài.
Những giáo lý nổi tiếng của Ngài gọi là Terma,
hay “Giáo lý Kho Báu Ẩn Giấu”,
chính là chỉ những giáo lý bí mật được
cất giữ này.
Ngài cùng với đệ tử thân cận của mình đã
truyền bá Phật pháp. Những giáo
lý yogic và triết học của Ngài
trở thành nền tảng của Nyingma,
một trường phái Phật giáo Tây Tạng sơ
khai. Tất cả người Tây Tạng gọi Ngài là Đạo Sư Quý Báu (Guru Rinpoche) nhờ đóng góp quan trọng
của Ngài trong việc truyền bá Phật giáo tại Tây Tạng.
25 Đệ Tử của Guru Rinpoche
25 đệ tử này đã đứng
sau sự phát triển rực rỡ của giáo pháp Phật trong nhiều vùng của Tây Tạng. Họ tái xuất hiện như những
bậc thầy, đạt được kinh nghiệm,
tuệ giác, kiến thức và thành tựu lớn. Guru Rinpoche đã có nhiều đệ tử trong
suốt hành trình truyền dạy của Ngài.
Ngài chủ yếu có 25 đệ tử, những người đã đạt được thân cầu vồng (rainbow bodies) (trừ Trisong Detsen) và là những
đại thành tựu giả đầu tiên của Tây Tạng. 25 đại thành tựu giả này được cho là sẽ có những tái sinh đặc biệt quan trọng trong tương lai, vì họ được định mệnh tìm
thấy các kho báu Terma của Liên Hoa Sanh. Cho đến ngày nay, 24
trong số các đệ tử này tiếp tục tái sinh thành các Terton (người tái hiện giáo lý Liên Hoa
Sanh), truyền lại giáo lý của Liên Hoa Sanh một cách trong sáng và phù hợp với thời đại cho
các thế hệ mới.
1. Vua Trisong
Detsen [khri srong lde'u btsan]
Vua
Trisong, vị vua thứ 38 của Tây Tạng, là một trong những đệ tử vĩ đại nhất của Guru
Rinpoche. Ngài cũng chịu trách nhiệm giới thiệu Phật giáo vào Tây Tạng.Nhờ vào nỗ lực và lời mời của Vua Trisong, các đại sư Shantarashita và Liên Hoa Sanh đã từ Ấn Độ đến Tây Tạng để thiết lập Phật
giáo.
2. Namkhé
Nyingpo [nam mkha'i snying po]
Namkhé
Nyingpo là một
trong những đệ tử rất tận tụy của Liên Hoa Sanh. Ngài thọ giới Sa-di từ đại sư
Shantarakshita. Ngài đã học
tiếng Phạn và nhiều lần đến Ấn Độ
để học hỏi cùng Humkara và các vị thầy lớn khác.
Liên Hoa Sanh đã ban năng lực
(empowerment) cho Ngài tại các hang Samye Chimpu. Ngài đạt
được trình độ siêu việt nhờ việc tôn thờ vị thần này, và có khả năng bay trên những tia sáng của mặt
trời.
3. Nupchen
Sangye Yeshe [gnubs chen sangs rgyas ye shes]
Nupchen
Sangye Yeshe được cho là sống đến 113 tuổi, thậm chí có người
suy đoán Ngài sống 130 tuổi. Ngài đã dịch
nhiều tantra và truyền dạy giáo lý
Anuyoga đến Tây Tạng. Ngài cũng học hỏi dưới sự hướng dẫn của Vimalamitra và
nhiều vị đại sư khác. Khi Langdarma, vị vua chống Phật, truy đuổi các
Phật tử tại Tây Tạng, người ta
nói rằng Ngài đã được vua tha cho nhờ vào các năng lực siêu thường của mình,
khiến các Tân-trì-kha (Tantrika bình
dân) được an toàn.
4. Gyalwa
Chokyang [rgyal ba mchog dbyangs]
Gyalwa
Chokyang cũng được thọ giới Sa-di từ đại sư Shantarakshita, tương tự như Namkhé
Nyingpo. Bông
Hoa Kagyé đã rơi xuống mandala của Mã Đầu Minh Vương (Hayagriv)a khi Guru
Rinpoche ban năng lực (empowerment) cho Ngài tại các hang Samye Chimpu. Ngài có
thể hóa thân thành một thần, tất cả nhờ vào thực hành của chính mình.Sau đó, Ngài nghe thấy tiếng ngựa hí trên đỉnh đầu mình.
5. Khandro
Yeshe Tsogyal [ye shes mtsho rgyal]
Khandro
Yeshe Tsogyal thường được gọi là “Đại Hải Tri Kiến” (Victorious Ocean of
Knowledge) hay “Hoàng Hậu Hồ Tri
Kiến” (Knowledge Lake Empress). Ngài là người phụ nữ cao nhất trong truyền thừa
Nyingma Vajrayana, đạt giác ngộ
ngay trong đời sống của mình, và được coi là “Mẫu của Phật giáo Tây Tạng”. Ngài cũng
được xem là Kim Cang Hợi Mẫu (Vajravarahi) trong thân người, là hiện
thân của Tara và Phật Nhãn (Buddhalochana), và là thiếp
chính của Liên Hoa
Sanh.
6. Palgyi
Yeshé [dpal gyi ye shes]
Palgyi
Yeshé sinh ra tại Yadrok thuộc tộc Drokmi. Ngài đã học tập dưới sự hướng dẫn của Ma Rinchen Chok
(rma rin chen mchog), và Nyak
Jñānakumara là thầy tâm linh chính của Ngài. Ngài chịu
trách nhiệm dịch nhiều tantra, đặc biệt là các tantra của Mamo Bötong, điều này đã dẫn đến sự thành tựu tối thượng của Ngài.
7. Langchen
Palgyi Seng [rlangs chen dpal gyi seng ge]
Langchen
Palgyi Seng được biết đến nhờ đạt cả thành tựu thường nhật lẫn tối thượng
thông qua thực hành Jikten Chötö. Ngài là một
trong 108 vị dịch giả được phái đến Ấn Độ và Oddiyana để học hỏi và truyền bá giáo lý.
8. Vairotsana
[bai ro tsa na]
Các hành giả xem Vairotsana là vị lotsawa (dịch giả) xuất sắc nhất Tây Tạng. Ngài thể
hiện trí tuệ phi thường từ khi còn nhỏ và sở hữu những kỹ năng đặc biệt, bao gồm khả năng bay trên không trung và đọc được suy nghĩ của người khác. Cũng giống như Gyalwa Chokyang
và Namkhé Nyingpo, Ngài được thọ giới Sa-di từ đại sư Shantarakshita.
Cùng với Liên Hoa Sanhvà Vimalamitra, Ngài là một trong ba vị thầy chính đã giới thiệu giáo lý Đại
Hoàn Thiện (Dzogchen) vào Tây Tạng.
9. Nyak
Jñanakumara hay Yeshé Shyönnu [gnyag dz+nyA na ku ma ra]
Nyak
Jñanakumara là một trong số các tu sĩ Tây Tạng và dịch giả xuất sắc,
người đã nhận được Bốn Dòng Truyền Thừa
Vĩ Đại (Four Great Rivers of Transmission) từ Yudra Nyingpo, Vimalamitra, Padmasambhava và Vimalamitra. Ngài đã dịch
Tantra của Mahayoga và Ati Yoga trong sự hợp tác chặt chẽ với Vimalamitra. Ngài còn được biết đến với các tên khác là Nyag Lotsawa và Drimey
Dashar, có nghĩa là “Trăng Sáng
Hoàn Hảo” (Flawless Moonlight). Ngài là một trong bảy tu sĩ được Shantarakshita thọ
giới Sa-di.
10. Gyalmo
Yudra Nyingpo [g.yu sgra snying po]
Gyalmo
Yudra Nyingpo là một học giả và dịch giả xuất sắc, đã học tập
dưới sự hướng dẫn của Vairotsana,
Vimalamitra, và Liên Hoa Sanh.
Ngài là một trong những người truyền thừa
chính của phần Mind Section (Phần Tâm) trong Dzogchen từ đại dịch giả Vairotsana, và được xếp vào nhóm 108 lotsawa (dịch giả) Tây Tạng. Ngài đã dịch
nhiều bộ sách, bao gồm 13 bản cuối
trong tổng số 18 bản gốc của Semde.
11. Nanam
Dorje Dudjom [sna nam rdo rje bdud 'joms]
Nanam
Dorje Dudjom là một trong những quan thần được Vua Trisong
Detsen phái đi mời Guru Rinpoche đến Tây Tạng. Khi nhận
năng lực (empowerment) từ Liên Hoa Sanh, hoa của
ông đã rơi xuống mandala của Kim Cang Phổ Ba
(Vajrakilaya). Thông qua
thực hành, ông trở thành một mantrika
(bậc thành thạo mật chú), có khả năng bay nhanh như gió và đi
xuyên qua đá rắn.
12. Yeshé Yang
[ye shes dbyangs]
Yeshé
Yang (nghĩa tiếng Tây Tạng: “Trí Tuệ Du Dương” / Melodic Wisdom) là tác giả chính trong việc ghi chép các terma của Liên
Hoa Sanh và là một
yogi thành thạo, có khả năng bay lên các cõi trời trên đôi cánh của loài
chim.Ngài cũng là một tu sĩ được
thọ giới cụ túc.
13. Sokpo
Lhapal [ye shes dbyangs]
Sokpo
Lhapal vốn là một thợ rèn, nhưng đã nhận
giáo lý từ Guru Rinpoche và Nyak Jñanakumara. Ngài có thể tóm bắt những loài thú dữ bằng tay không, một thành tựu của pháp Kim
Cang Phổ Ba (Vajrakilaya). Pema Lhundrub Gyatso (1660–1727), ngôi vị thủ trì thứ hai của tu viện
Palyul, được xem là một trong những tái sinh của Sokpo Lhapal.
14. Nanam
Shyang Yeshé Dé [sna nam zhang ye shes sde]
Nanam
Shyang Yeshé Dé, cùng với Surendrabodhi, đã dịch bộ Madhyamakalankara (Trung Quán
Trang Nghiêm Luận)
Ngài tham gia dịch hơn 300 văn bản,
bao gồm:
- Kinh Bát-nhã (Prajnaparamita Sutras)
- Tantra
- Dharani
- Các luận về Trung Quán (Madhyamika) và Duy Thức
(Chittamatra)
Những tác phẩm này hiện vẫn tồn tại trong Kangyur và Tengyur,
là kho tàng kinh điển Tây Tạng quan trọng.
15. Kharchen Palgyi Wangchuk
[mkhar chen dpal gyi dbang phyug]
Kharchen Palgyi
Wangchuk, nghĩa là “Chúa Tể Rực
Rỡ” (Resplendent Lord), là em trai
của Yeshe Tsogyal. Ngài đạt giác ngộ thông
qua thực hành Kim
Cang Phổ Ba (Vajrakilaya), một pháp tu Kim Cang Thừa đặc biệt nhằm phá trừ chướng ngại và phiền não.
16. Denma Tsémang [ldan ma rtse
mang]
Denma Tsémang là một thư pháp gia Tây
Tạng nổi tiếng và dịch giả tiếng Phạn. Ngài được công nhận là người sáng tạo một phong cách thư pháp độc
đáo mới, và thậm chí đã chép lại
nhiều terma. Nhờ thực hành miệt mài,
Ngài đạt được năng lực trí nhớ hoàn hảo
và toàn diện.
17. Kawa Paltsek [ska ba dpal
brtsegs]
Kawa Paltsek sinh ra tại Kawa, thung
lũng Phenpo. Ngài thọ giới Sa-di từ đại
sư Shantarakshita và được coi là một
trong những dịch giả xuất sắc nhất Tây Tạng.Ngài là người đầu tiên chép bộ Hướng Dẫn Bồ Tát Đạo (Bodhicharyavatara) sang tiếng Tây Tạng, cùng với Sarvajadeva. Ngài cũng được
Vua Trisong Detsen phái sang Ấn Độ để mời
Vimalamitra đến Tây Tạng.
18. Shüpu Palgyi Sengé [shud
phu dpal gyi seng ge]
Cùng với Nanam Dorje Dudjom, Shüpu
Palgyi Sengé là một trong những quan
thần được Vua Trisong Detsen phái đi mời Đạo Sư Quý Báu đến Tây Tạng. Ngài nhận đào tạo dịch
thuật từ Liên Hoa Sanh và dịch nhiều giáo lý Mamo, Đại Oai Đức Kim
Cang (Yamantaka) và Kilaya sang tiếng Tây Tạng. Nhờ thành tựu trong pháp
Kilaya và Mamo, ngài có thể đập
vỡ đá tảng và chia dòng sông bằng dao ngắn của mình.
19. Dré Gyalwé Lodrö ['bre rgyal ba'i blo gros]
Dré
Gyalwé Lodrö khởi đầu là Gönpo, một trợ thủ đáng tin cậy của Vua Trisong Detsen, sau đó thọ giới Sa-di dưới tên Gyalwé Lodrö, nghĩa là “Tri Thức Chiến Thắng” (Victory Knowledge).Sau
khi nhận truyền thừa từ Hungkara tại Ấn
Độ, ông đạt thành tựu và trở
thành dịch giả chuyên nghiệp.Theo truyền thuyết, ông đạt cấp bậc thủ
trì tỉnh giác về
trường thọ và đã truyền dạy Phật pháp cho Rongzom Pandita
Chökyi Sangpo (rong zom chos kyi bzang po) từ năm 1012 đến 1088.
20. Khye'u Chung Lotsawa
[khye'u chung lo tsA ba]
Khye'u Chung
Lotsawa sinh ra trong dòng tộc
Drokmi. Ngài được tin là hiện
thân của một mahapandita Ấn Độ. Biệt danh của ngài, nghĩa là “dịch giả nhí” (boy translator), xuất phát từ việc tiếp xúc sớm với tiếng Phạn.
Ngài tiếp tục sống như một cư sĩ,
và sau khi trở thành đệ tử của Liên Hoa Sanh, đã thành thạo các
tantra truyền thừa sơ khởi (early transmission tantra).
21. Otren Palgyi Wangchuk ['o
bran dpal gyi dbang phyug]
Otren Palgyi
Wangchuk là một học giả và hành
giả Tantra nổi tiếng, đã đạt
siddhi nhờ thiền quán về bản
tính dữ tợn (wrathful nature) của Guru Drakpo, tức Liên Hoa
Sanh. Ngài được nhắc đến trong
nhiều kinh điển quan trọng, chẳng hạn như “Mệnh Phụ của Hoa Sen” (Lady of the Lotus). Sinh ra bởi Gyalwa
Jangchup, Guru Rinpoche đã ban
các nghi quỹ (sadhana) ngoài, trong và bí mật của Mamos,
Newap và Legye, đồng thời khuyên ngài thực hành tại các hang Yerpa.
22. Ma Rinchen Chok [rma rin chen mchog]
Trong số 25 đệ tử của Guru Rinpoche, 7 người được thử thách, và Ma Rinchen Chok là một trong số đó. Ngài trở thành đệ tử tận tâm của Vimalamitra và hỗ trợ ngài dịch Guhyagarbha Tantra.Cùng với Vimalamitra, ngài cũng dịch “Cittabindu Upadesha”, một tác phẩm
của ba Siddha danh tiếng: Buddhaguhya,
Lilavajra, và Vimalamitra.
23. Lhalung
Palgyi Dorje [lha lung dpal gyi rdo rje]
Sinh ra tại Dromto Gungmoche (‘brom stod gung mo che),
phía đông Lhasa, bên bờ bắc sông
Kyichu (skyid chu). Ngài chịu trách nhiệm loại bỏ vua Langdarma xấu ác,
giải cứu nhân dân và chấm dứt cuộc đàn
áp Phật giáo ở Tây Tạng. Vào cuối đời, Ngài đạt Thể Thể Cầu Vồng (rainbow body) – biểu tượng giác ngộ tối thượng
trong Vajrayana.
2. Langdro
Könchok Jungné / Langdro Lotsawa [lang gro dkon mchog 'byung gnas]
Là một trong những quan
trọng của Vua Trisong Detsen. Các tái sinh chính của Ngài bao gồm:
- Tertön Ratna Lingpa
- Dzogchen Pema Rigdzin
- Jamyang Khyentse Wangpo,
được coi là hóa thân hoạt động của
Ngài.
3. Lasum
Gyalwa Changchup [la gsum rgyal ba byang chub]
Là một trong bảy người Tây Tạng đầu tiên thọ giới Sa-di đầy
đủ từ Shantarakshita. Ngài hiểu
biết rộng, nhiều lần đi Ấn Độ học
hỏi, và dịch một số kinh điển
quan trọng. Là đệ tử thân cận của
Padmasambhava, Ngài đạt siddhi
và có thể bay. Một trong những tái
sinh của Ngài được cho là Rigdzin
Kunzang Sherab, người sáng lập Tu
viện Palyül nổi tiếng ở Kham./.
[1] Trong
bối cảnh Phật giáo Tây Tạng, “four
enlightened activities” (四加行, cattāri samyak-karmāḥ) thường được
dịch là “bốn hoạt động giác ngộ”,
và ám chỉ bốn phương diện hoạt động mà
một vị giác ngộ thực hiện để lợi ích chúng sinh. Cụ thể:
2. Hoạt động thu hút (ākarṣaṇa / attracting) – thu hút, cảm hóa chúng sinh đến với Pháp.
3. Hoạt động chuyển hóa (parivartana / pacifying / transforming) – chuyển hóa những đau khổ và phiền não của chúng sinh.
4. Hoạt động bảo vệ (sthāpana / sustaining / stabilizing) – duy trì sự an lạc, ổn định và bảo hộ chúng sinh khỏi nguy hiểm.
[2] Bốn
trung tâm (four centres / four chakras)
Ở đây “four
centres” không chỉ là các trung tâm vật lý mà là bốn trung tâm năng lượng tinh tế (chakras) của cơ thể vi tế trong
Phật giáo Tantra:
2. Trung tâm họng (throat / vishuddha) – liên quan đến khẩu, phát ngôn và giao tiếp chân thực.
3. Trung tâm tim (heart / anahata) – liên quan đến tâm từ bi và sự đồng cảm.
4. Trung tâm bụng hoặc trán dưới (navel / ajna hoặc manipura) – liên quan đến thân và năng lượng sinh lực, cũng như định hướng thực hành.
Trong một số truyền thống Tây Tạng, bốn trung tâm này được gọi chung là: thân, khẩu, tâm và trí tuệ – tương ứng với bốn quán đảnh (empowerments).

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét