Sự Tự Chiếu Sáng của Tính Giác và Tính Không Bất Hoại
Bài Nguyện Hướng Đến Ý Nghĩa của Nền Tảng, Con Đường và Quả
Không Thể Phân Chia của Đại Toàn Thiện Văn Thù Sư Lợi
Bất hoại giác tính dữ không tính chi tự quang minh
Văn Thù đại
viên mãn bất khả phân chi cơ, đạo, quả nghĩa nguyện văn
The Self-Radiance of Indestructible Awareness and Emptiness
An
Aspiration towards the Meaning of the Indivisible Ground, Path and Fruition of
the Great Perfection Mañjuśrī
Tác giả:
Mipham Rinpoche
Việt dịch:
Quảng Cơ
Biên tập:
Tuệ Uyển
***
Ngài hiện thân trí tuệ của hết thảy chư Phật Thiện Thệ
Cùng các
bậc pháp tử của các Ngài,
Khắp mười
phương và bốn thời,
An trụ nơi
con đường bất nhị.
Văn Thù Diệu Đức, bậc thường hằng thanh xuân,
Hiện thân
cảnh giới quang minh nhu hòa, bình đẳng viên mãn;
Nguyện cho
chúng con tự nhiên, không tạo tác,
Viên thành
ý nghĩa chân thật của vô vi!
Với lòng sùng tín quán thấy
Đấng bảo hộ
nguyên sơ và bậc Đạo Sư vinh quang
Chính là
Pháp Thân bình đẳng viên mãn,
Thân Chân
Lý của giác ngộ;
Nguyện nhờ niềm tin thanh tịnh ấy,
Sự gia trì
của dòng truyền thừa tối hậu
Thấm nhập
trọn vẹn vào tâm chúng con;
Và nguyện
chúng con đắc được
Đại quán
đảnh của sự hiển lộ Giác Tánh!
Vốn sẵn hiện tiền, không do dụng công tạo tác,
Không nương
căn cơ, cũng chẳng tùy tánh chất;
Vì quá đơn
giản, nên tâm chúng con sinh hoài nghi trước huyền nhiệm này.
Nguyện giáo
huấn của bậc Đạo Sư ban cho chúng con năng lực để thấy!
Suy diễn và phân tích chỉ là dư thừa của tư tưởng,
Tìm cầu và
tu tập rốt cuộc chỉ khiến mệt mỏi.
Tập trung
và thiền định hóa thành cạm bẫy trói buộc —
Nguyện cho
mọi phức tạp đau đớn ấy dừng lại nơi tâm!
Vượt ngoài tư tưởng và ngôn từ, chẳng có gì được thấy,
Cũng không
còn gì thêm nữa, một điều vô hình nào khác.
Đây là then
chốt thâm sâu để tâm tự mình thể nhận.
Nguyện
chúng con chứng ngộ bản tánh này — khó chỉ bày, khó nói trọn!
Thường hằng thanh tịnh, không hề phức tạp, chẳng rơi vào
kiến chấp thường còn.
Quang minh
của tánh biết nguyên sơ (Rigpa) vốn tự hiện, không phải hư vô đoạn diệt.
Dẫu tạm nói
thành hai, ấy chỉ để tự nhiên lãnh hội.
Nguyện thấy
được nghĩa bình đẳng — vượt mọi phân chia và ngôn thuyết!
Như ngón tay chỉ về mặt trăng,
Lý luận và
ngôn từ tạm thời chỉ lối ban đầu.
Nhưng trạng
thái tự nhiên chẳng phải đối tượng của tư duy,
Vậy hãy
xoay vào bên trong để tự mình thật sự thấy!
Ở đây không có gì cần loại bỏ,
Cũng chẳng
thể nghĩ ra điều gì để thêm vào hay tạo tác.
Pháp tánh
không nhiễm bởi ngăn dứt hay trau dồi:
Nguyện
chúng con đạt đến trạng thái vốn tự nhiên hiện tiền!
Dẫu tạm đặt tên là nền tảng để nhận biết,
Là con
đường cần đi, hay quả vị phải đạt thành,
Trong trạng
thái tự nhiên, chúng như những tầng hư không:
Vậy chúng
con nguyện an trụ vô vi chân thật, không gắng công!
Các pháp luân hồi bất tịnh, do vọng tưởng hình thành,
Cùng với
đối đãi của chúng, được gán tên là “hiện tướng thanh tịnh”,
Đều chỉ là
danh xưng nương nhau, những phóng chiếu rườm rà.
Chúng con
nguyện thấy sự vắng mặt của chúng trong trạng thái không tạo tác, không phân
biệt!
Bản tánh chân thật đúng như vậy, vượt ngoài tâm thức thường
tình,
Bị che mờ
bởi những kiến chấp nhiễm ô về “kiến giải” và “hành thiền”.
Trong sự
bình thường chân thật, chẳng có lý thuyết cũng không hành trì:
Nguyện
chúng con tự nhiên an trụ trong cảnh giới chân thực!
Chú mục vào bất cứ điều gì cũng làm nhiễm độc cái thấy,
Sự cố ý bám
chấp chỉ là lỗi lầm của thiền định.
Nắm lấy hay
xua đuổi đều nguy hại cho hành động:
Nguyện thấy
được bản tánh vượt ngoài mọi chướng nhiễm ấy!
Trực tiếp thấy điều vượt ngoài tâm thức thường tình:
Quang minh
của Rigpa, không bị giam cầm trong khái niệm.
Chớ trói
bầu trời bằng sợi dây suy lường phỏng đoán,
Nguyện tự
tại an trú nơi trạng thái nghỉ ngơi tự nhiên chân thật!
Đấng Văn Thù Diệu Âm của quang minh
tự nhiên,
Là tri nhận
của tự giác, thân bình chứa tuổi xuân.
Nguyện ngọn
đèn rực sáng của trí tuệ tự khởi
Xua tan màn
tối dày đặc của mọi che chướng nơi tâm!
Trong bản tánh vốn vô vi, không tạo tác,
Chẳng thể
sinh ra điều gì mới từ những con đường hư tạo.
Vì thế quả
tối hậu không khởi từ nhân duyên tạo lập,
Nguyện
chúng con thấy được điều vốn là, và luôn vẫn là, nơi tự tâm!
Những lời rỗng như vỏ trấu của các ý niệm suy đoán chỉ dẫn
đến mê lầm;
Dù được
diễn đạt thế nào, chúng cũng trói buộc ta trong tư tưởng.
Vậy hãy
thực hành những giáo huấn thâm sâu của tự tâm,
Không sinh
từ kinh điển, mà được tự nhiên trực nhận!
Tâm phân chia năng tri và sở tri vốn là mê lầm,
Dù nương
vào đối tượng nào, cũng chẳng khế hợp với như thật.
Nguyện
chứng đắc Phật quả của thực tại quyết định —
Thân trí
tuệ tự nhiên, chẳng sinh từ tâm phân biệt!
Trong không gian viên dung, khắp cùng của Rigpa — rỗng
rang mà sáng biết,
Muôn pháp
bình đẳng, trọn vẹn trong một thể nhất như hoàn hảo.
Nơi đây
không còn mong cầu luân hồi hay sợ hãi niết-bàn;
Nguyện nắm
giữ thành lũy của Pháp thân vô trụ ấy!
Bất cứ điều gì ta nhận biết — thân này hay các cảnh của
giác quan —
Đều như thị
lực sai lạc, chỉ hiện bày do sức mạnh của vọng tưởng.
Nhờ quang
minh tự nhiên của đại trí vô phân biệt,
Nguyện cho
tất cả được tịnh hóa, trở về không gian nguyên sơ của các pháp tận diệt!
Bấy giờ, nguyện chứng đắc quả vị tối hậu, vô ngại,
Với sắc
thân Phật trí tuệ rộng lớn, vô biên như hư không vô tận,
Hóa thành
những bảo châu như ý, ban lợi ích và an lạc,
Cho muôn
loài khắp nơi, suốt toàn thể vô cùng của không gian và thời gian!
Bài nguyện này được
soạn theo thỉnh cầu của tôn nữ khả kính Dekyong Yeshe Wangmo, người được mọi
nơi tôn xưng là hóa thân của Trí tuệ Không Hành Nữ Vajravārāhī. Vào ngày lành
mồng bốn tháng ba năm Hỏa Tuất (1886), ngài đã cúng dường một dải khata lụa cát
tường cùng một chuỗi pha lê quý được trang sức tinh xảo. Lấy nhân duyên ấy làm
điều kiện, ta — người được biết đến với danh xưng Mipham Jampel Gyepa, hay Ösel
Dorje — đã viết bài nguyện này và hoàn tất ngay trong chính ngày đó.
Nhờ công đức của việc
diễn bày những gì tự nhiên khởi lên trong tâm, một cách độc lập và bằng thuật
ngữ đặc thù của hệ thống Đại Viên Mãn (Dzogchen), nguyện cho tất cả hữu tình
đều đạt đến địa vị của Đấng Bảo Hộ Nguyên Sơ, Văn Thù Sư Lợi (Mañjuśrī), bậc
Thường Đồng Tử.
“Chỉ cần nghe qua cũng chắc chắn được giải thoát” —
Vì thế, Kim
Cang Trì đã tán thán đây là con đường tối thượng.
Huống chi
còn ghi nhớ và gìn giữ trong tâm?
Nguyện chân
lý của Pháp tánh mau chóng đem lại giải thoát!
“Khi các hàng đệ tử khó thể theo kịp những thừa dựa trên
nỗ lực,
Giáo pháp
của trí tâm Phổ Hiền sẽ tự nhiên xuất hiện” —
Nguyện cho
những giáo huấn tinh yếu, được tán thán trong những lời như thế,
Lan tỏa
khắp toàn thể vũ trụ, truyền bá rộng xa, cùng khắp mọi nơi!
སརྦ་མངྒ་ལམ།། །།
Sarva
maṅgalam.
| Translated by Adam Pearcey, 2017. Revised 2020.
https://www.lotsawahouse.org/

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét