Cách
Bậc Thầy Tối Thượng của Chúng Ta Phát Khởi Bồ-đề Tâm và Các Chủ Đề Khác
Nguyên
tác: How Our Supreme Teacher Generated Bodhicitta and Other Topics
Tác giả: Jamyang
Khyentse Chökyi Lodrö
Việt dịch: Quảng
Cơ
Biên tập: Tuệ
Uyển
***
Liên
quan đến Bậc Thầy tối thượng, đầy lòng bi mẫn của chúng ta, Kinh Báo Ân[2] nói
rằng: vào một thời điểm nào đó trong quá khứ xa xôi vô thủy, khi Ngài vẫn còn
là một phàm phu, mang đủ mọi trói buộc, do sức mạnh của nghiệp, Ngài đã rơi vào
địa ngục mang tên Cỗ Xe Lửa. Ở đó, Ngài trở thành một người lực lưỡng, cùng với
một người bạn bị buộc phải kéo một cỗ xe chở vị hộ vệ địa ngục đầu trâu tên là
Abang[3].
Khi
người bạn đồng hành kiệt sức đến mức không thể kéo xe nữa, người lực lưỡng đã
nói với Abang:
“Xin hãy khởi lòng từ bi đối với anh ấy.”
Lời
nói ấy khiến Abang nổi giận dữ dội, và hắn đã dùng một cây đinh ba bằng sắt đâm
vào cổ người lực lưỡng, giết chết ông. Nhờ đó, nghiệp ác của một trăm đại kiếp
được tịnh hóa, và ông được giải thoát [khỏi địa ngục].
Rất
lâu về sau, Ngài tái sinh làm con trai của một người thợ gốm, tên là
Bhāskara[4], ở miền nam cõi Diêm Phù Đề (Jambudvīpa). Ngài khởi lên lòng sùng kính mãnh liệt đối
với Đức Phật Đại Thích Ca Mâu Ni (Mahāśākyamuni), dâng cúng Ngài một bát canh và năm vỏ sò xà cừ (cowrie), rồi phát nguyện với lời mở đầu:
“Ôi đấng
Thiện Thệ (Sugata),
nguyện cho con và tất cả chúng sinh có được thân tướng
Một quyến thuộc, một thọ mạng, một cõi tịnh,
Cùng những tướng hảo viên mãn tối thượng,
Thảy đều y hệt như Ngài.”
Nhờ
đó, lần đầu tiên Ngài đặt tâm mình hướng đến Vô thượng Giác ngộ. Kinh Hiền
Kiếp[6] nói rằng:
Trong một đời quá khứ, khi ta mang thân phận
hèn kém,
Ta đã dâng lên chút canh
Cúng dường đức Như Lai Thích-ca Mâu-ni,
Và lần đầu tiên phát khởi tâm hướng đến Vô thượng Giác ngộ.
Đó
là cách Ngài lần đầu tiên phát khởi Bồ-đề tâm. Sau đó, về việc tích tập hai tư
lương, theo quan điểm của Thừa căn bản, đại kiếp vô số thứ nhất kéo dài từ lúc
Ngài là con trai người thợ gốm và Đức Mahāśākyamuni xuất hiện ở thế gian cho
đến thời của đức Như Lai Rāṣṭrapāla[7]. Trong khoảng thời gian ấy, Ngài đã tôn
kính bảy mươi lăm nghìn vị Phật.
Trong
đại kiếp vô số thứ hai, tính từ khi Ngài là con trai một vị Bà-la-môn, dâng
cúng bảy đóa hoa sen (utpala) xanh lên Đức Dīpaṃkara, cho đến thời của bậc Thiện Thệ Indradhvaja, Ngài đã tôn kính bảy mươi sáu
nghìn vị Phật.
Trong
đại kiếp vô số thứ ba, kể từ khi Ngài là một vị vua dâng cúng lên Đức Sugata
Kṣemaṅkara và xây dựng một bảo tháp để thờ xá-lợi của Ngài, cho đến khi Ngài
xuất gia và phát khởi Bồ-đề tâm trước Đức Phật Kāśyapa, thì người ta nói rằng
Ngài đã tôn kính và làm hoan hỷ bảy mươi bảy nghìn vị Phật.
Luận
Tạng (Treasury) nói rằng đại kiếp vô số thứ nhất kéo dài từ thời Đức Śākyamuni
cho đến thời Đức Ratnaśikhī; đại kiếp vô số thứ hai kéo dài cho đến Đức
Dīpaṃkara; và đại kiếp vô số thứ ba kéo dài cho đến Đức Phật Tỳ Bà Thi (Vipaśvin).
Sau
đó, Đức Phật đã trải qua một trăm đại kiếp để tạo lập các nhân duyên cho những
tướng hảo thù thắng của thân. Khi còn là con trai của một vị Bà-la-môn, Ngài đã
đứng trên một chân trước Đức Phật Puṣya, khi Ngài đang an trụ trong định đẳng
trì trên yếu tố lửa, và nhiễu quanh Ngài suốt bảy ngày. Ngài đã dâng lời tán
thán bằng bài kệ mở đầu:
“Bậc Lãnh Đạo của chúng sinh,
Chẳng có bậc tu hành cao thâm nào như Ngài trong khắp các cõi
trời.
Ngay cả thế gian này cũng không, hay thậm chí trong cõi của Đa
Văn Thiên Vương (Vaiśravaṇa) cũng chẳng thể tìm ra.
Nơi các thiên cung tối thượng, hay bất kể phương chính, phương
phụ nào, họ đều chẳng hiện hữu.
Trên khắp mặt đất này với núi non và rừng rậm đại ngàn, liệu nơi
nào có thể tìm thấy một bậc như Ngài?”
Nhờ
vậy, Ngài đã tích tập được công đức của chín đại kiếp. Rồi sau chín mươi mốt
đại kiếp nữa, khi Đức Phật Ca Diếp (Kāśyapa) xuất hiện ở thế gian, [vị Phật tương lai] đã là con trai của
một vị Bà-la-môn và tôn Ngài làm thầy. Do đã tạo đủ các nhân cho những tướng
hảo của thân, Ngài trở thành điều được gọi là Bồ-tát ở địa vị xác định.
Sau
khi viên mãn các nhân duyên để thành tựu những tướng hảo thù thắng, Ngài tái
sinh lên cõi Đâu
Suất (Tuṣita), mang tên Śvetaketu, là một Bồ-tát chỉ còn
một lần tái sinh nữa. Sau đó, Ngài sinh vào cõi Diêm Phù Đề (Jambudvīpa) với tên Siddhārtha, là một Bồ-tát trong đời
sinh cuối cùng.
Nương
trên thân hỗ trợ ấy, vào lúc chạng vạng, Ngài đã hàng phục Ma vương tại Kim
Cang Tòa; vào nửa đêm, Ngài an trụ trong thiền định; và đến rạng đông, Ngài đã
chứng đắc tam-muội kim cang.
Theo
truyền thống Đại thừa, đại kiếp vô số thứ nhất tương ứng với địa thứ nhất, tức
địa của hạnh nguyện phát tâm; đại kiếp vô số thứ hai tương ứng với các địa từ
thứ hai đến thứ bảy; và đại kiếp vô số thứ ba tương ứng với các giai đoạn còn
lại, cho đến và bao gồm địa thứ mười.
Đại Chú Giải về Bát Thiên Tụng[10] giải thích
ba mươi ba đại kiếp vô số.
Về
sự khởi đầu của các đại kiếp vô số, Nhiếp Đại Thừa Luận[11] nói rằng:
Đầy đủ sức mạnh của thiện căn và nguyện lực,
Tâm an trụ vững chắc và tiến tu thù thắng,
Vị Bồ-tát bắt đầu tiến trình
Kéo dài suốt ba đại kiếp vô số.
Bản
dịch dưới đây chuyển ngữ đoạn văn trên sang tiếng Việt với phong cách trang
trọng, phù hợp với văn phong Phật học:
Quá Trình Tu Tập Qua Ba A-tăng-tỳ Kiếp
Khi
hội đủ bốn yếu tố này vào lúc bắt đầu Lộ trình Tích lũy (Tư lương vị), đó được
coi là dấu mốc khởi đầu của các đại kiếp bất khả tư nghị.
Kiếp Thứ Nhất: Thành tựu Sơ địa
Trong
thời kỳ này, Ngài là Thái tử Vīryakārin, con trai của Vua Vijaya. Ngài đã thụ
nhận giáo pháp từ Đức Như Lai Arciskandha. Bằng việc cúng dường, tôn kính Đức
Phật cùng tăng đoàn quy quyến trong suốt sáu trăm sáu mươi triệu năm, Ngài đã
chứng đắc Sơ địa (Hoan hỷ địa).
Kiếp Thứ Hai: Thành tựu Thất địa
Đến
đại kiếp bất khả tư nghị thứ hai, vào thời của Vua Diệu Tướng tại thành Kim
Sắc, bậc thầy khi ấy là Thương gia Prajñābhadra. Vị này đã thụ giáo và tôn kính
Đức Như Lai Ratnāṅga trong một ngàn năm. Nhờ việc tích lũy các công đức như
vậy, Ngài đã hiện chứng Thất địa (Viễn hành địa).
Kiếp Thứ Ba: Thọ ký và Bát địa
Trong
đại kiếp bất khả tư nghị thứ ba, Ngài là một học giả Bà-la-môn trẻ tuổi tên là
Kumāramegha (Vân Đồng học tử). Tại vùng lân cận Cung điện Hoa Sen của Vua
Jitāri, Ngài đã dâng cúng năm đóa hoa ưu-bát-la (sen xanh) lên Đức Thiện Thệ
Nhiên Đăng (Dīpaṃkara).
Sau
đó, Ngài trải mái tóc vàng của mình trên mặt đất như một tấm thảm và phát
nguyện:
"Nếu Ngài không ban cho con lời thọ ký
[về sự giác ngộ trong tương lai], con nguyện sẽ để thân xác này héo mòn."
Đức
Như Lai thấu rõ tâm nguyện đó, Ngài bước chân lên mái tóc ấy và ban lời thọ ký:
"Trong tương lai, ông sẽ trở thành vị
Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni (Śākyamuni)."
Nghe
vậy, vị Phật tương lai tràn ngập hỷ lạc và bay bổng lên không trung bằng chiều
cao của bảy cây thốt nốt. Ngài hiện chứng nhiều trăm tỷ tam-ma-địa (định) và
đạt đến Bát địa (Bất động địa).
Từ Thập Địa Đến Đạo Quả Viên Mãn
Sau
đó, Ngài tiếp tục tái sinh trong nhiều kiếp tiếp theo dưới thân phận là Đế
Thích (Śakra), Tế Mục (Sunetra) và các hóa thân khác, luôn nỗ lực vì lợi lạc
của chúng sinh. Cuối cùng, vào thời Đức Phật Ca Diếp (Kāśyapa) — khi tuổi thọ
loài người là hai mươi ngàn năm — Ngài là một người con của gia đình Bà-la-môn.
Vị này đã phụng sự vô số chư Phật và tích lũy công đức trong suốt một đại kiếp
bất khả tư nghị. Nhờ đó, Ngài đã hiện chứng Thập địa (Pháp vân địa).
Sự Đoạn Tận và Giác Ngộ Hoàn Hảo
Thông
qua Kim cương du-già tam-ma-địa tại điểm cuối của Thập địa, Ngài đã tận diệt
hoàn toàn các chướng ngại cùng với tập khí của chúng, không còn khả năng quay
trở lại — đây chính là Đoạn đức viên mãn. Bằng cách đạt được trí tuệ thấu triệt
bản chất của vạn pháp (như quán) và sự đa dạng của vạn pháp (tận quán) — đây
chính là Chứng đức viên mãn.
Thành Tựu Tứ Thân
Như
vậy, Ngài đã đạt được sự giác ngộ vĩ đại với tự tánh của Ba thân (Tam thân):
1•
Báo thân (Saṃbhogakāya): Thành tựu viên mãn lợi lạc cho chính mình.
2• Hóa thân
(Nirmāṇakāya): Thành tựu viên mãn lợi lạc cho tha nhân.
3• Pháp thân
(Dharmakāya): Là chỗ dựa cho cả hai thân trên. Tự tánh của ba thân này, hay sự chứng ngộ về Pháp giới
(Dharmadhātu) với hai tầng thanh tịnh bất khả phân với các phẩm hạnh thanh
khiết, chính là:
4.Tự tánh thân
(Svabhāvikakāya). Như luận Hiện Quán Trang Nghiêm (Abhisamayālaṃkāra) có chép:
Tự tánh thân của bậc Năng Nhơn,
Có tự tánh và đặc tính
Của mọi phương diện thanh tịnh toàn hảo,
Khi đạt được các phẩm hạnh vô lậu.
Và
về thân với các tướng chính và tướng phụ rạng ngời tại cõi Đại Sắc Cứu Cánh
(Great Akaniṣṭha):
Vì bậc đầy đủ ba mươi hai tướng tốt
Cùng tám mươi vẻ đẹp phụ
Thụ hưởng giáo pháp Đại thừa,
Nên đây được gọi là Báo thân (Saṃbhogakāya) của bậc Năng Nhơn.
Về
những hoạt động không gián đoạn nhằm lợi lạc vô biên chúng sinh cần được điều
phục:
Thân mang lại lợi lạc
Cho chúng sinh theo nhiều cách khác nhau một cách bình đẳng,
Cho đến chừng nào thế gian này còn tồn tại,
Đó chính là Hóa thân (Nirmāṇakāya) bất tận của bậc Năng Nhơn.
Bằng
cách này, bậc Đạo sư tối thượng, đấng Nhân sư Độc tôn (Lord of Sages), đã thực
hiện những gì được phân loại là mười hai công hạnh quan trọng nhất của Ngài
trong cõi thế giới này. Kinh Tối Thắng Tửu (hay Bảo Tính Luận - Sublime
Continuum) có chép:
Ngài thị hiện sự giáng sinh,
Rồi rời khỏi cung trời Đâu Suất (Tuṣita),
Nhập thai và đản sinh.
Ngài tinh thông các môn nghệ thuật,
Vui hưởng cuộc sống cùng các vương hậu,
Rời bỏ hoàng cung, tu tập khổ hạnh,
Ngài ngự trên tòa sư tử giác ngộ,
Khuất phục các thế lực ma vương (Māra),
Thành tựu Chánh đẳng Chánh giác, chuyển bánh xe Pháp,
Và rồi thị hiện nhập Niết-bàn.
Đó là những công hạnh mà Ngài hiển lộ
Khắp những cõi giới hoàn toàn bất tịnh
Cho đến khi nào thế gian còn tồn tại.
Lần
chuyển Pháp luân đầu tiên diễn ra tại Vārāṇasī (Ba-la-nại). Lần chuyển pháp thứ
hai (trung đẳng) diễn ra tại núi Linh Thứu (Vulture’s Peak). Lần chuyển Pháp
luân cuối cùng diễn ra tại Śrāvastī (Xá-vệ) và những nơi khác. Việc các lần
chuyển pháp này có thể diễn ra đồng thời được gợi ý trong luận Giải Thích Ý
Định (Exposition of Intention), rằng:
Một lời sấm (kim cương ngữ) duy nhất và lôi
cuốn,
Vốn không phân biệt và chẳng hề sai chạy,
Nhưng lại được hiện ra dưới nhiều khía cạnh khác nhau
Tùy theo căn cơ của mỗi người đệ tử.
Các Kỳ Kết Tập Kinh Điển
Kỳ
kết tập đầu tiên diễn ra tại hang Thất Diệp (Nyagrodha Cave), nơi được xem là
đủ yên tĩnh và biệt lập. Kỳ kết tập thứ hai được triệu tập khi các vị tỳ-kheo
tại Vaiśālī (Tỳ-xá-ly) thực hành mười điều vi phạm nền tảng. Vua Aśoka (A-dục)
đã đóng vai trò là thí chủ hộ trì cho vị A-la-hán Yaśas tại tu viện Kaśmipuri ở
Vaiśālī. Bảy trăm vị A-la-hán đã vân tập, bác bỏ mười điều sai trái này và cùng
nhau biên soạn lại các giáo pháp.
Kỳ
kết tập thứ ba diễn ra tại tu viện Kusana ở Kashmir dưới sự bảo trợ của Vua Kaniṣka
(Ca-nị-sắc-ca) xứ Jālandhara. Vị trưởng lão A-la-hán tên là Siṃha đã triệu tập
năm trăm vị A-la-hán (trong đó có ngài Purnika), năm trăm vị Bồ-tát (trong đó
có ngài Vasumitra), cùng năm trăm bậc trí giả (paṇḍita) phàm phu. Họ đã cùng
nhau xác lập thẩm quyền cho mười tám bộ phái và biên soạn lại hệ thống giáo
pháp.
1-
Kỳ kết tập đầu tiên diễn ra tại hang Thất Diệp (Nyagrodha), nơi được xem là có
sự biệt lập cần thiết."
2-
Kỳ kết tập thứ hai được triệu tập khi các vị tỳ-kheo tại thành Vaiśālī (Tỳ-xá-ly)
thực hành mười điều vi phạm nền tảng. Vua Aśoka (A-dục) đã đóng vai trò là thí
chủ hộ trì cho vị A-la-hán Yaśas tại tu viện Kaśmipuri ở Vaiśālī. Bảy trăm vị
A-la-hán đã vân tập, bác bỏ mười điều sai trái này và cùng nhau biên soạn lại
các giáo pháp.
Mười
điều vi phạm (Thập sự phi pháp): Bao gồm những việc như giữ tiền bạc, dùng bữa
sau giờ ngọ (có chút sai biệt về thời gian), hay uống rượu lên men nhẹ. Sự bất
đồng về 10 điều này chính là ngòi nổ dẫn đến sự phân chia giữa Thượng tọa bộ
(Theravada) và Đại chúng bộ (Mahasanghika).
3-
Kỳ kết tập thứ ba diễn ra tại tu viện Kusana ở Kashmir dưới sự bảo trợ của Vua
Kaniṣka (Ca-nị-sắc-ca) xứ Jālandhara. Vị trưởng lão A-la-hán tên là Siṃha đã
triệu tập năm trăm vị A-la-hán (trong đó có ngài Purnika), năm trăm vị Bồ-tát
(trong đó có ngài Vasumitra), cùng năm trăm bậc trí giả (paṇḍita) phàm phu. Họ
đã cùng nhau xác lập thẩm quyền cho mười tám bộ phái và biên soạn lại hệ thống
giáo pháp.
Bất phân chia, không đầu, giữa hay cuối,
Chẳng nhị nguyên, vượt thoát cả ba thời,
Vốn vô cấu, ly niệm, tánh Pháp giới,
Chân lý này, bậc du-già thấy trong định.
Sự Tôn Kính Giáo Pháp
Vì
trên thế gian này chẳng ai uyên bác hơn bậc Chiến Thắng (Đấng Thế Tôn),
Và thực tại tối hậu
chẳng thể được thấu triệt hoàn toàn nếu thiếu bậc Nhất thiết trí,
Nên đừng bao giờ làm
xáo trộn những kinh điển mà chính bậc Đại Tiên (Ṛṣi) đã thuyết ra.
Làm như thế sẽ hủy
hoại truyền thống của bậc Năng Nhơn và gây tổn hại đến Chánh Pháp thiêng liêng.
Năm Vị Đệ Tử Đầu Tiên
Năm
vị đệ tử trong nhóm quy quyến đầu tiên (Năm anh em Kiều Trần Như) bao gồm:
1.
Ājñātakauṇḍinya (Kiều Trần Như)
2. Aśvajit (Át-bệ / Mã
Thắng)
3. Bhadrika (Bạt-đề)
4. Vāṣpa (Thập-lực
Ca-diếp)
5. Mahānāman (Ma-ha
Nam)
***
Translated
by Adam Pearcey with the generous support of the
Khyentse Foundation and Terton Sogyal Trust, 2021.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét