Thứ Ba, 27 tháng 1, 2026

TIỀN THÂN PHẬT PHÁT BỒ ĐỀ TÂM

 



Cách Bậc Thầy Tối Thượng của Chúng Ta Phát Khởi Bồ-đề Tâm và Các Chủ Đề Khác

Nguyên tác: How Our Supreme Teacher Generated Bodhicitta and Other Topics
Tác giả: Jamyang Khyentse Chökyi Lodrö 
Việt dịch: Quảng Cơ 
Biên tập: Tuệ Uyển 

***

Liên quan đến Bậc Thầy tối thượng, đầy lòng bi mẫn của chúng ta, Kinh Báo Ân[2] nói rằng: vào một thời điểm nào đó trong quá khứ xa xôi vô thủy, khi Ngài vẫn còn là một phàm phu, mang đủ mọi trói buộc, do sức mạnh của nghiệp, Ngài đã rơi vào địa ngục mang tên Cỗ Xe Lửa. Ở đó, Ngài trở thành một người lực lưỡng, cùng với một người bạn bị buộc phải kéo một cỗ xe chở vị hộ vệ địa ngục đầu trâu tên là Abang[3].

Khi người bạn đồng hành kiệt sức đến mức không thể kéo xe nữa, người lực lưỡng đã nói với Abang:

“Xin hãy khởi lòng từ bi đối với anh ấy.”

Lời nói ấy khiến Abang nổi giận dữ dội, và hắn đã dùng một cây đinh ba bằng sắt đâm vào cổ người lực lưỡng, giết chết ông. Nhờ đó, nghiệp ác của một trăm đại kiếp được tịnh hóa, và ông được giải thoát [khỏi địa ngục].

Rất lâu về sau, Ngài tái sinh làm con trai của một người thợ gốm, tên là Bhāskara[4], ở miền nam cõi Diêm Phù Đề (Jambudvīpa). Ngài khởi lên lòng sùng kính mãnh liệt đối với Đức Phật Đại Thích Ca Mâu Ni (Mahāśākyamuni), dâng cúng Ngài một bát canh và năm vỏ sò xà cừ (cowrie), rồi phát nguyện với lời mở đầu:

“Ôi đấng Thiện Thệ (Sugata)
nguyện cho con và tất cả chúng sinh có được thân tướng
Một quyến thuộc, một thọ mạng, một cõi tịnh,
Cùng những tướng hảo viên mãn tối thượng,
Thảy đều y hệt như Ngài.

Nhờ đó, lần đầu tiên Ngài đặt tâm mình hướng đến Vô thượng Giác ngộ. Kinh Hiền Kiếp[6] nói rằng:

Trong một đời quá khứ, khi ta mang thân phận hèn kém,
Ta đã dâng lên chút canh
Cúng dường đức Như Lai Thích-ca Mâu-ni,
Và lần đầu tiên phát khởi tâm hướng đến Vô thượng Giác ngộ.

Đó là cách Ngài lần đầu tiên phát khởi Bồ-đề tâm. Sau đó, về việc tích tập hai tư lương, theo quan điểm của Thừa căn bản, đại kiếp vô số thứ nhất kéo dài từ lúc Ngài là con trai người thợ gốm và Đức Mahāśākyamuni xuất hiện ở thế gian cho đến thời của đức Như Lai Rāṣṭrapāla[7]. Trong khoảng thời gian ấy, Ngài đã tôn kính bảy mươi lăm nghìn vị Phật.

Trong đại kiếp vô số thứ hai, tính từ khi Ngài là con trai một vị Bà-la-môn, dâng cúng bảy đóa hoa sen (utpala) xanh lên Đức Dīpaṃkara, cho đến thời của bậc Thiện Thệ Indradhvaja, Ngài đã tôn kính bảy mươi sáu nghìn vị Phật.

Trong đại kiếp vô số thứ ba, kể từ khi Ngài là một vị vua dâng cúng lên Đức Sugata Kṣemaṅkara và xây dựng một bảo tháp để thờ xá-lợi của Ngài, cho đến khi Ngài xuất gia và phát khởi Bồ-đề tâm trước Đức Phật Kāśyapa, thì người ta nói rằng Ngài đã tôn kính và làm hoan hỷ bảy mươi bảy nghìn vị Phật.

Luận Tạng (Treasury) nói rằng đại kiếp vô số thứ nhất kéo dài từ thời Đức Śākyamuni cho đến thời Đức Ratnaśikhī; đại kiếp vô số thứ hai kéo dài cho đến Đức Dīpaṃkara; và đại kiếp vô số thứ ba kéo dài cho đến Đức Phật Tỳ Bà Thi (Vipaśvin).

Sau đó, Đức Phật đã trải qua một trăm đại kiếp để tạo lập các nhân duyên cho những tướng hảo thù thắng của thân. Khi còn là con trai của một vị Bà-la-môn, Ngài đã đứng trên một chân trước Đức Phật Puṣya, khi Ngài đang an trụ trong định đẳng trì trên yếu tố lửa, và nhiễu quanh Ngài suốt bảy ngày. Ngài đã dâng lời tán thán bằng bài kệ mở đầu:

“Bậc Lãnh Đạo của chúng sinh,
Chẳng có bậc tu hành cao thâm nào như Ngài trong khắp các cõi trời.
Ngay cả thế gian này cũng không, hay thậm chí trong cõi của Đa Văn Thiên Vương (Vaiśravaṇa) cũng chẳng thể tìm ra.
Nơi các thiên cung tối thượng, hay bất kể phương chính, phương phụ nào, họ đều chẳng hiện hữu.
Trên khắp mặt đất này với núi non và rừng rậm đại ngàn, liệu nơi nào có thể tìm thấy một bậc như Ngài?

Nhờ vậy, Ngài đã tích tập được công đức của chín đại kiếp. Rồi sau chín mươi mốt đại kiếp nữa, khi Đức Phật Ca Diếp (Kāśyapa) xuất hiện ở thế gian, [vị Phật tương lai] đã là con trai của một vị Bà-la-môn và tôn Ngài làm thầy. Do đã tạo đủ các nhân cho những tướng hảo của thân, Ngài trở thành điều được gọi là Bồ-tát ở địa vị xác định.

Sau khi viên mãn các nhân duyên để thành tựu những tướng hảo thù thắng, Ngài tái sinh lên cõi Đâu Suất (Tuṣita), mang tên Śvetaketu, là một Bồ-tát chỉ còn một lần tái sinh nữa. Sau đó, Ngài sinh vào cõi Diêm Phù Đề (Jambudvīpa) với tên Siddhārtha, là một Bồ-tát trong đời sinh cuối cùng.

Nương trên thân hỗ trợ ấy, vào lúc chạng vạng, Ngài đã hàng phục Ma vương tại Kim Cang Tòa; vào nửa đêm, Ngài an trụ trong thiền định; và đến rạng đông, Ngài đã chứng đắc tam-muội kim cang.

Theo truyền thống Đại thừa, đại kiếp vô số thứ nhất tương ứng với địa thứ nhất, tức địa của hạnh nguyện phát tâm; đại kiếp vô số thứ hai tương ứng với các địa từ thứ hai đến thứ bảy; và đại kiếp vô số thứ ba tương ứng với các giai đoạn còn lại, cho đến và bao gồm địa thứ mười.

Đại Chú Giải về Bát Thiên Tụng[10] giải thích ba mươi ba đại kiếp vô số.

Về sự khởi đầu của các đại kiếp vô số, Nhiếp Đại Thừa Luận[11] nói rằng:

Đầy đủ sức mạnh của thiện căn và nguyện lực,
Tâm an trụ vững chắc và tiến tu thù thắng,
Vị Bồ-tát bắt đầu tiến trình
Kéo dài suốt ba đại kiếp vô số.

Bản dịch dưới đây chuyển ngữ đoạn văn trên sang tiếng Việt với phong cách trang trọng, phù hợp với văn phong Phật học:

Quá Trình Tu Tập Qua Ba A-tăng-tỳ Kiếp

Khi hội đủ bốn yếu tố này vào lúc bắt đầu Lộ trình Tích lũy (Tư lương vị), đó được coi là dấu mốc khởi đầu của các đại kiếp bất khả tư nghị.

Kiếp Thứ Nhất: Thành tựu Sơ địa

Trong thời kỳ này, Ngài là Thái tử Vīryakārin, con trai của Vua Vijaya. Ngài đã thụ nhận giáo pháp từ Đức Như Lai Arciskandha. Bằng việc cúng dường, tôn kính Đức Phật cùng tăng đoàn quy quyến trong suốt sáu trăm sáu mươi triệu năm, Ngài đã chứng đắc Sơ địa (Hoan hỷ địa).

Kiếp Thứ Hai: Thành tựu Thất địa

Đến đại kiếp bất khả tư nghị thứ hai, vào thời của Vua Diệu Tướng tại thành Kim Sắc, bậc thầy khi ấy là Thương gia Prajñābhadra. Vị này đã thụ giáo và tôn kính Đức Như Lai Ratnāṅga trong một ngàn năm. Nhờ việc tích lũy các công đức như vậy, Ngài đã hiện chứng Thất địa (Viễn hành địa).

Kiếp Thứ Ba: Thọ ký và Bát địa

Trong đại kiếp bất khả tư nghị thứ ba, Ngài là một học giả Bà-la-môn trẻ tuổi tên là Kumāramegha (Vân Đồng học tử). Tại vùng lân cận Cung điện Hoa Sen của Vua Jitāri, Ngài đã dâng cúng năm đóa hoa ưu-bát-la (sen xanh) lên Đức Thiện Thệ Nhiên Đăng (Dīpaṃkara).

Sau đó, Ngài trải mái tóc vàng của mình trên mặt đất như một tấm thảm và phát nguyện:

"Nếu Ngài không ban cho con lời thọ ký [về sự giác ngộ trong tương lai], con nguyện sẽ để thân xác này héo mòn."

Đức Như Lai thấu rõ tâm nguyện đó, Ngài bước chân lên mái tóc ấy và ban lời thọ ký:

"Trong tương lai, ông sẽ trở thành vị Phật hiệu là Thích Ca Mâu Ni (Śākyamuni)."

Nghe vậy, vị Phật tương lai tràn ngập hỷ lạc và bay bổng lên không trung bằng chiều cao của bảy cây thốt nốt. Ngài hiện chứng nhiều trăm tỷ tam-ma-địa (định) và đạt đến Bát địa (Bất động địa).

Từ Thập Địa Đến Đạo Quả Viên Mãn

Sau đó, Ngài tiếp tục tái sinh trong nhiều kiếp tiếp theo dưới thân phận là Đế Thích (Śakra), Tế Mục (Sunetra) và các hóa thân khác, luôn nỗ lực vì lợi lạc của chúng sinh. Cuối cùng, vào thời Đức Phật Ca Diếp (Kāśyapa) — khi tuổi thọ loài người là hai mươi ngàn năm — Ngài là một người con của gia đình Bà-la-môn. Vị này đã phụng sự vô số chư Phật và tích lũy công đức trong suốt một đại kiếp bất khả tư nghị. Nhờ đó, Ngài đã hiện chứng Thập địa (Pháp vân địa).

Sự Đoạn Tận và Giác Ngộ Hoàn Hảo

Thông qua Kim cương du-già tam-ma-địa tại điểm cuối của Thập địa, Ngài đã tận diệt hoàn toàn các chướng ngại cùng với tập khí của chúng, không còn khả năng quay trở lại — đây chính là Đoạn đức viên mãn. Bằng cách đạt được trí tuệ thấu triệt bản chất của vạn pháp (như quán) và sự đa dạng của vạn pháp (tận quán) — đây chính là Chứng đức viên mãn.

Thành Tựu Tứ Thân

Như vậy, Ngài đã đạt được sự giác ngộ vĩ đại với tự tánh của Ba thân (Tam thân):

1• Báo thân (Saṃbhogakāya): Thành tựu viên mãn lợi lạc cho chính mình.
2• Hóa thân (Nirmāṇakāya): Thành tựu viên mãn lợi lạc cho tha nhân.
3• Pháp thân (Dharmakāya): Là chỗ dựa cho cả hai thân trên. Tự tánh của ba thân này, hay sự chứng ngộ về Pháp giới (Dharmadhātu) với hai tầng thanh tịnh bất khả phân với các phẩm hạnh thanh khiết, chính là:
4.Tự tánh thân (Svabhāvikakāya). Như luận Hiện Quán Trang Nghiêm (Abhisamayālaṃkāra) có chép:

Tự tánh thân của bậc Năng Nhơn,
Có tự tánh và đặc tính
Của mọi phương diện thanh tịnh toàn hảo,
Khi đạt được các phẩm hạnh vô lậu.

Và về thân với các tướng chính và tướng phụ rạng ngời tại cõi Đại Sắc Cứu Cánh (Great Akaniṣṭha):

Vì bậc đầy đủ ba mươi hai tướng tốt
Cùng tám mươi vẻ đẹp phụ
Thụ hưởng giáo pháp Đại thừa,
Nên đây được gọi là Báo thân (Saṃbhogakāya) của bậc Năng Nhơn.

Về những hoạt động không gián đoạn nhằm lợi lạc vô biên chúng sinh cần được điều phục:

Thân mang lại lợi lạc
Cho chúng sinh theo nhiều cách khác nhau một cách bình đẳng,
Cho đến chừng nào thế gian này còn tồn tại,
Đó chính là Hóa thân (Nirmāṇakāya) bất tận của bậc Năng Nhơn.

Bằng cách này, bậc Đạo sư tối thượng, đấng Nhân sư Độc tôn (Lord of Sages), đã thực hiện những gì được phân loại là mười hai công hạnh quan trọng nhất của Ngài trong cõi thế giới này. Kinh Tối Thắng Tửu (hay Bảo Tính Luận - Sublime Continuum) có chép:

Ngài thị hiện sự giáng sinh,
Rồi rời khỏi cung trời Đâu Suất (Tuṣita),
Nhập thai và đản sinh.
Ngài tinh thông các môn nghệ thuật,
Vui hưởng cuộc sống cùng các vương hậu,
Rời bỏ hoàng cung, tu tập khổ hạnh,
Ngài ngự trên tòa sư tử giác ngộ,
Khuất phục các thế lực ma vương (Māra),
Thành tựu Chánh đẳng Chánh giác, chuyển bánh xe Pháp,
Và rồi thị hiện nhập Niết-bàn.
Đó là những công hạnh mà Ngài hiển lộ
Khắp những cõi giới hoàn toàn bất tịnh
Cho đến khi nào thế gian còn tồn tại.

Lần chuyển Pháp luân đầu tiên diễn ra tại Vārāṇasī (Ba-la-nại). Lần chuyển pháp thứ hai (trung đẳng) diễn ra tại núi Linh Thứu (Vulture’s Peak). Lần chuyển Pháp luân cuối cùng diễn ra tại Śrāvastī (Xá-vệ) và những nơi khác. Việc các lần chuyển pháp này có thể diễn ra đồng thời được gợi ý trong luận Giải Thích Ý Định (Exposition of Intention), rằng:

Một lời sấm (kim cương ngữ) duy nhất và lôi cuốn,
Vốn không phân biệt và chẳng hề sai chạy,
Nhưng lại được hiện ra dưới nhiều khía cạnh khác nhau
Tùy theo căn cơ của mỗi người đệ tử.

Các Kỳ Kết Tập Kinh Điển

Kỳ kết tập đầu tiên diễn ra tại hang Thất Diệp (Nyagrodha Cave), nơi được xem là đủ yên tĩnh và biệt lập. Kỳ kết tập thứ hai được triệu tập khi các vị tỳ-kheo tại Vaiśālī (Tỳ-xá-ly) thực hành mười điều vi phạm nền tảng. Vua Aśoka (A-dục) đã đóng vai trò là thí chủ hộ trì cho vị A-la-hán Yaśas tại tu viện Kaśmipuri ở Vaiśālī. Bảy trăm vị A-la-hán đã vân tập, bác bỏ mười điều sai trái này và cùng nhau biên soạn lại các giáo pháp.

Kỳ kết tập thứ ba diễn ra tại tu viện Kusana ở Kashmir dưới sự bảo trợ của Vua Kaniṣka (Ca-nị-sắc-ca) xứ Jālandhara. Vị trưởng lão A-la-hán tên là Siṃha đã triệu tập năm trăm vị A-la-hán (trong đó có ngài Purnika), năm trăm vị Bồ-tát (trong đó có ngài Vasumitra), cùng năm trăm bậc trí giả (paṇḍita) phàm phu. Họ đã cùng nhau xác lập thẩm quyền cho mười tám bộ phái và biên soạn lại hệ thống giáo pháp.

1- Kỳ kết tập đầu tiên diễn ra tại hang Thất Diệp (Nyagrodha), nơi được xem là có sự biệt lập cần thiết."

2- Kỳ kết tập thứ hai được triệu tập khi các vị tỳ-kheo tại thành Vaiśālī (Tỳ-xá-ly) thực hành mười điều vi phạm nền tảng. Vua Aśoka (A-dục) đã đóng vai trò là thí chủ hộ trì cho vị A-la-hán Yaśas tại tu viện Kaśmipuri ở Vaiśālī. Bảy trăm vị A-la-hán đã vân tập, bác bỏ mười điều sai trái này và cùng nhau biên soạn lại các giáo pháp.

Mười điều vi phạm (Thập sự phi pháp): Bao gồm những việc như giữ tiền bạc, dùng bữa sau giờ ngọ (có chút sai biệt về thời gian), hay uống rượu lên men nhẹ. Sự bất đồng về 10 điều này chính là ngòi nổ dẫn đến sự phân chia giữa Thượng tọa bộ (Theravada) và Đại chúng bộ (Mahasanghika).

3- Kỳ kết tập thứ ba diễn ra tại tu viện Kusana ở Kashmir dưới sự bảo trợ của Vua Kaniṣka (Ca-nị-sắc-ca) xứ Jālandhara. Vị trưởng lão A-la-hán tên là Siṃha đã triệu tập năm trăm vị A-la-hán (trong đó có ngài Purnika), năm trăm vị Bồ-tát (trong đó có ngài Vasumitra), cùng năm trăm bậc trí giả (paṇḍita) phàm phu. Họ đã cùng nhau xác lập thẩm quyền cho mười tám bộ phái và biên soạn lại hệ thống giáo pháp.

Bất phân chia, không đầu, giữa hay cuối,
Chẳng nhị nguyên, vượt thoát cả ba thời,
Vốn vô cấu, ly niệm, tánh Pháp giới,
Chân lý này, bậc du-già thấy trong định.

Sự Tôn Kính Giáo Pháp

Vì trên thế gian này chẳng ai uyên bác hơn bậc Chiến Thắng (Đấng Thế Tôn),
Và thực tại tối hậu chẳng thể được thấu triệt hoàn toàn nếu thiếu bậc Nhất thiết trí,
Nên đừng bao giờ làm xáo trộn những kinh điển mà chính bậc Đại Tiên (Ṛṣi) đã thuyết ra.
Làm như thế sẽ hủy hoại truyền thống của bậc Năng Nhơn và gây tổn hại đến Chánh Pháp thiêng liêng.

Năm Vị Đệ Tử Đầu Tiên

Năm vị đệ tử trong nhóm quy quyến đầu tiên (Năm anh em Kiều Trần Như) bao gồm:

1. Ājñātakauṇḍinya (Kiều Trần Như)
2. Aśvajit (Át-bệ / Mã Thắng)
3. Bhadrika (Bạt-đề)
4. Vāṣpa (Thập-lực Ca-diếp)
5. Mahānāman (Ma-ha Nam)

***

Translated by Adam Pearcey with the generous support of the Khyentse Foundation and Terton Sogyal Trust, 2021.

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/jamyang-khyentse-chokyi-lodro/how-buddha-generated-bodhicitta

 

Thứ Hai, 26 tháng 1, 2026

Dzatrul Ngawang Tenzin Nor




Luận Giải Tóm Tắt Về Quy Y Và Nguyện Cầu Bồ Đề Tâm


LUẬN GIẢI TÓM TẮT VỀ QUY Y VÀ NGUYỆN CẦU BỒ ĐỀ TÂM

 



Sangyé Chö Tsok Ma của Ngài Dzatrul Ngawang Tenzin Norbu.
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***

 

I. Lời Dẫn Giải về Quy Y

1. Đối tượng Quy y

Nếu chúng ta khai triển bài nguyện Sangyé Chö Tsok Ma, dòng đầu tiên (“Con xin quy y Phật, Pháp và Tăng đoàn tối thắng”) hiển lộ các đối tượng quy y, tức Tam Bảo.

Tam Bảo gồm có:

• Bậc thầy không ai hơn: Đức Phật toàn giác. (Sự tỉnh thức và rộ nỡ của tứ thân, ngũ trí)

• Sự bảo hộ không ai hơn: Giáo pháp thiêng liêng.(Gồm tam tạng kinh điển và sự chứng đắc Diệt – Đạo đế)

• Bậc dẫn đường không ai hơn: Tăng đoàn cao quý.(Các bồ tát thập địa với trí tuệ tính không và lòng bi mẫn)

a-   Đức Phật (Jewel of Buddha)

Bậc thầy, Đức Phật toàn giác (Tạng ngữ: Sang-gyé) bao gồm Tứ thân và Ngũ trí. Ở đây:

• "Tỉnh thức" (Sang): chỉ về "cái năng đỡ" – chính là Tứ thân (1)

• "Nở rộ" (Gyé): chỉ về "cái được đỡ" – chính là Ngũ trí.(2)

Vì sự tỉnh thức rốt ráo là Pháp thân và sự nở rộ rốt ráo là Trí tuệ nguyên sơ, nên đây chính là Phật Bảo.

b-   Giáo Pháp (Jewel of Dharma)

Giáo pháp thiêng liêng bao gồm Pháp Giáo triển (truyền thừa qua kinh điển) và Pháp Chứng ngộ. Pháp Giáo triển đề cập đến Tam Tạng:

• Luật tạng (Vinaya): giúp ta điều phục mọi cảm xúc tiêu cực.

• Kinh tạng (Sūtra): gồm các bài thuyết giảng súc tích được phân loại theo từng chủ đề.

• A-tì-đạt-ma tạng (Abhidharma): giúp phát sinh Trí tuệ (Prajñā), nhờ đó ta nhận chân trực tiếp thực tại.

Luật tạng dạy về Giới học, Kinh tạng dạy về Định học, và Luận tạng dạy về Tuệ học. Bằng cách thực hành Tam vô lậu học này, ta được dẫn đến sự giải thoát thực thụ. Do đó, Pháp Bảo gồm hai chân lý: Diệt đế (sự đoạn tận hoàn hảo) và Đạo đế (sự chứng ngộ hoàn hảo).

c-   Tăng đoàn (Jewel of Saṅgha)

Tăng đoàn, hay Hội chúng tối thắng, bao gồm các bậc Bồ-tát bất thoái chuyển. Các vị Bồ-tát trụ ở Thập địa không rơi trở lại luân hồi vì đã trực nhận tính Không bằng trí tuệ. Họ cũng không rơi vào cực đoan của sự tịch tĩnh (Niết bàn cực đoan), vì với lòng bi mẫn, họ thương yêu mọi chúng sinh như con một. Đây chính là Thánh Tăng đoàn.

Ngoài ra, dù không phải là nguồn quy y thực thụ theo nghĩa tuyệt đối, vẫn có các biểu tượng tương ứng: hình tượng Phật (thân), kinh văn chữ viết (khẩu), và những người đã bước vào giáo pháp (vì họ cao quý hơn phàm phu nên được gọi là thuộc về Tăng đoàn cao quý).

 Bản Hán Việt Tổng Kết

Quy Y Đối Tượng Chú Giải

Tam Bảo Tôn:

Vô thượng đạo sư: Viên mãn Phật.
Vô thượng cứu hộ: Diệu pháp tôn.
Vô thượng dẫn đạo: Thánh Tăng chúng.

1. Phật Bảo:

Phật giả, Tạng ngữ viết Sang-gyé.

Sang (Tỉnh) năng trì Tứ thân;
Gyé (Phát) sở trì Ngũ trí.

Cứu cánh tỉnh giác tức Pháp thân,
Cứu cánh khai triển tức Bản trí.

2. Pháp Bảo:

Bao hàm Giáo pháp cập Chứng pháp.
Giáo pháp tức Tam Tạng:

• Luật tạng: Điều phục chư phiền não.
• Kinh tạng: Nhiếp tóm chư khế kinh.
• Luận tạng: Hiển lộ trực quán tuệ.

Tu tập Tam học (Giới, Định, Tuệ) chứng đắc chân giải thoát. Pháp Bảo tức nhị đế: Diệt đế (đoạn đức) cập Đạo đế (chứng đức).

3. Tăng Bảo:

Tối thắng hội chúng, vị bất thoái Bồ-tát.

Trụ Thập địa không lạc luân hồi (do chứng Tính Không), không trụ tịch diệt (do vận Đại bi). Thị danh Đại Thánh Tăng.

Mạt pháp tượng trưng: Phật tượng (thân), kinh văn (khẩu), tu hành hành giả (phụ thuộc Tăng).

2. Quy y Nhân và Quy y Quả

Dòng tiếp theo là: “Con xin quy y cho đến khi đạt được giác ngộ.” Với câu này, chúng ta cùng với tất cả chúng sinh đồng thanh tuyên bố ý nguyện của mình. Trước các nguồn quy y là Tam Bảo cao quý, chúng ta tiếp nhận nền tảng tu tập, đó là thái độ

a- Quy y nhân:
Bồ-tát hạnh theo kiểu "người chăn cừu" (đây là tâm nguyện muốn dẫn dắt chúng sinh đạt đến giác ngộ trước khi bản thân mình đạt đến đó (giống như người chăn cừu đi sau để bảo vệ đàn cừu về chuồng trước))hoặc Bồ-đề tâm vô song; chúng ta tuyên cáo rằng từ nay cho đến khi đạt được tinh túy của giác ngộ, tất cả chúng ta – những kẻ đang bị dày vò bởi khổ đau khôn xiết và những trói buộc của luân hồi – không có nơi nương tựa hay hy vọng nào khác ngoài các Ngài. Vì vậy, từ tận đáy lòng, chúng ta quy y nơi các Ngài với niềm tin tưởng rằng các Ngài sẽ không bao giờ từ bỏ chúng ta. Đây gọi là Quy y Nhân.

b- Quy y Quả là sự nhận diện một trạng thái vốn là tinh túy rốt ráo của các đối tượng quy y – đó chính là Pháp thân (Dharmakāya), vượt ngoài sự sinh diệt, nơi mà chúng ta không còn tập trung vào bất kỳ đối tượng quy y nào, cũng không còn khái niệm về một người đang quy y.

II. Phát Bồ Đề Tâm)

Phần này bao gồm cả Bồ-đề tâm tương đối và Bồ-đề tâm tuyệt đối.

1. Bồ Đề Tâm Tương Đối

Bồ-đề tâm tương đối bao gồm

-        Bồ-đề tâm nguyện: tâm nguyện rằng tất cả chúng sinh, bao gồm cả chính mình, đều đạt được quả vị Phật (Nguyện tâm: Phát nguyện tự tha giai thành Phật đạo) và

-        Bồ-đề tâm hành: hành động, việc dấn thân trực tiếp vào các phương pháp để đạt thành quả vị Phật, tức là các hạnh nguyện của Bồ-tát.(Trực nhập Bồ tát hạnh, thực tu thành Phật pháp môn).

Bồ-đề tâm nguyện bao gồm: (i) hướng nguyện về phía nhân, tức là công đức; và (ii) hướng nguyện về phía quả, tức là sự giác ngộ viên mãn.

a-Nguyện nhân (công đức) Hướng nguyện về phía nhân được thể hiện qua dòng tiếp theo: “Bằng công đức tu tập hạnh bố thí và các thiện hạnh khác.”

Mọi nguồn thiện lành có được từ việc thực hành bố thí và các hạnh khác đều nằm trong ba yếu tố tạo ra công đức:
(i) công đức sinh từ bố thí,
(ii) công đức sinh từ trì giới, và
(iii) công đức sinh từ thiền định.
Hạnh bố thí và trì giới được nêu trực tiếp, còn thiền định đề cập đến công đức có được thông qua sức mạnh của việc tu tập nhẫn nhục, thiền định và trí tuệ. Hạnh tinh tấn hỗ trợ cho tất cả các hạnh trên.

b- Nguyện quả (Viên mãn giác ngộ): “Vì lợi hữu tình nguyện thành Phật.”
 Vì lợi hữu tình:
Hướng nguyện về phía quả giác ngộ viên mãn: Trong phần này, cụm từ
-
vì lợi ích của chúng sinh” chỉ việc dùng lòng bi mẫn để tập trung vào chúng sinh. Nó cho thấy lý do tại sao chúng ta nỗ lực hướng tới mục tiêu cụ thể: đó là để mang lại lợi lạc cho tất cả hữu tình. Cụm từ
-
Nguyện con đạt thành Phật quả” chỉ rõ mục tiêu cụ thể mà chúng ta đang nỗ lực vì chúng sinh. Nói cách khác, đây là việc dùng trí tuệ tập trung vào sự giác ngộ toàn vẹn, với ước nguyện rằng chúng ta có thể nhanh chóng chứng đạt Phật quả.

2. Bồ Đề Tâm Tuyệt Đối

Bồ-đề tâm tuyệt đối là an trụ trong một trạng thái vượt ngoài cả "tâm cần được phát khởi" lẫn "người phát khởi tâm" ấy. Trạng thái này đạt được thông qua sự thấu thị không mê lầm rằng: bản tính trong dòng tâm thức của chính ta và của tất cả chúng sinh vốn dĩ đã luôn giác ngộ dưới dạng Như Lai Tạng (Sugatagarbha); và thông qua việc chứng ngộ trí tuệ mang lại sự xác quyết, vốn đã được thanh tịnh hóa hoàn toàn khỏi ba luân (ba phương diện khái niệm/ chủ thể, đối tượng, và hành động)./.
***

Bản chú giải về các lời nguyện trong bài “Sangyé Chö Tsok Ma” này được soạn bởi Dzatrul, cốt chỉ để đưa ra một khung sườn căn bản. Nguyện cầu đức hạnh và sự cát tường được lan tỏa khắp nơi!

-Translated by Adam Pearcey, 2009. With thanks to Khenpo Dawa Paljor for his clarifications.

Phụ thích
(1)(2) Trong Phật giáo Kim Cương thừa, Tứ thân và Ngũ trí là cách mô tả toàn diện về các phẩm tính và trạng thái giác ngộ của một vị Phật.

Dưới đây là bảng giải nghĩa chi tiết:

I. Tứ Thân (The Four Kayas)

Thân ở đây không phải là thân xác vật lý, mà là các "tầng thân" hay các khía cạnh của giác ngộ.

1. Pháp thân (Dharmakaya): Thân chân thật. Là bản tính tuyệt đối của tâm, trống rỗng, không hình tướng, không sinh diệt, tựa như không gian vô tận.

2. Báo thân (Sambhogakaya): Thân hưởng dụng. Là phương diện rạng rỡ của giác ngộ, chỉ các bậc thượng căn (Bồ-tát) mới nhận thấy được qua các linh kiến, biểu hiện bằng các tướng tốt và ánh sáng.

3. Hóa thân (Nirmanakaya): Thân biến hóa. Là hình tướng hóa thân vào thế giới để cứu độ chúng sinh (ví dụ: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lịch sử).

4. Tự tính thân (Svabhavikakaya): Tự tính hợp nhất. Đây không phải là một thân riêng biệt thứ tư, mà là trạng thái bất khả phân (hợp nhất) của ba thân trên.

II. Ngũ Trí (The Five Wisdoms)

Ngũ trí là sự chuyển hóa của 5 loại tâm thức mê lầm (ngũ uẩn/ngũ độc) thành 5 loại trí tuệ giác ngộ.
1- Pháp giới thể tính trí: trí tuệ thấu suốt bản chất thật sự của vạn pháp là tính không.
2- Đại viên cảnh trí: trí tuệ như chiếc gương lớn, phản chiếu vạn vật rõ ràngmaf không bám chấp hay biến dạng.
3- Bình đẳng tính trí: trí tuệ nhận ra tính bình đẳng tuyệt dối giữa ta và người, giữa luân hồi và niết bàn.
4- Diệu quan sát trí: trí tuệ quan sát tinh tế, thấu hiểu căn cơ từng chúng sinh để cứu độ mà không bị lụy.
5- Thành sở tác trí: trí tuệ giúp thành tựu mọi hành động lợi lạc cho chúng sinh một cách tự nhiên, không dụng công.

III. Mối liên hệ giữa Tứ thân và Ngũ trí

Trong bài chú giải của Ngài Dzatrul có đoạn: "'awakened' (sang) refers to the support, the four kāyas, and 'unfolded' (gyé) to the supported, the five wisdoms."

• Tứ thân được coi là "Năng trì" (Support): Giống như cái bình chứa.

• Ngũ trí được coi là "Sở trì" (Supported): Giống như phần nước quý bên trong bình.

Nói cách khác, một vị Phật không chỉ có trạng thái trống rỗng (Thân) mà còn có sự vận hành không ngừng nghỉ của trí tuệ và lòng từ bi (Trí) để giúp đỡ chúng sinh.

Ví dụ dễ hiểu: Nếu coi một bóng đèn là Pháp thân (tiềm năng), thì luồng điện bên trong là Ngũ trí (năng lượng trí tuệ), và ánh sáng tỏa ra chiếu sáng căn phòng là Hóa thân (hành động cứu độ).

 

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/ngawang-tenzin-norbu/commentary-refuge-bodhichitta