Thứ Tư, 24 tháng 6, 2026

THỰC TẬP HÀNG NGÀY VỚI TRÌ THẾ BỒ TÁT VÀ PHỐI NGẪU

Concise Daily Practice of Noble Vasudhārā and Consort

Tác giả:  Jamyang Khyentse Wangpo
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển


***

 Oṃ svasti (Nguyện vạn điều cát tường)! Những ai mong muốn thực hành giáo pháp cốt tủy về Bồ-tát Trì Thế (Vasudhārā) và Hộ pháp phối ngẫu của Ngài một cách độc tôn (không bao gồm quyến thuộc) như được tìm thấy trong nghi quỹ tu trì (sādhana) về bậc Bồ-tát Trì Thế tôn kính từ "Đại Định Như Ý Vân"[1], cần thực hiện như sau[2]:

Trước hết, hành giả phải nhận được quán đảnh phù hợp và giữ gìn các giới nguyện (samaya)[3]. Sau đó, được thúc đẩy bởi lòng vị tha và lòng đại bi mãnh liệt đến mức không thể làm điều gì khác ngoài việc cứu độ chúng sinh, hãy thực hành giáo pháp này với tâm nguyện làm chủ bốn mục tiêu cao cả của đời người,[4] nhằm mang lại lợi ích và hạnh phúc vô song.

Quy Y

Trước sự hiện diện của các cội nguồn quy y đang thật sự ngự trên bầu trời trước mặt con:

Namo (Kính lạy). Cùng với tất cả chúng sinh vô biên,
Và lòng sùng mộ ngập tràn, con xin quy y chư hội chúng
Bổn Tôn của Tam Bảo và Tam Gốc.
Và vì lợi lạc của hữu tình chúng sinh,
Con nguyện sẽ đạt được quả vị Giác ngộ vô thượng.
(Tụng ba lần)

Tu Tập Tâm Tứ Vô Lượng

Nguyện chúng sinh luôn được hạnh phúc.
Nguyện chúng sinh thoát mọi khổ đau.
Nguyện chúng sinh chẳng rời hỷ lạc,
Nguyện
chúng sinh  chứng ngộ tánh bình đẳng của muôn pháp.

ཛཿཧཱུྃ་བཾ་ཧོཿ

dza hung bam ho

jaḥ hūṃ baṃ hoḥ

Năng sở ruộng phước hòa nhập vào con.
(Hoặc: Quy y xứ/Tích lũy ruộng phước tan hòa vào tôi.)

Phần Chính Hạnh: Khởi Hiện Chư Tôn

A. Tự tánh muôn pháp trong luân hồi và niết-bàn là bình đẳng.
Sự hợp nhất của chúng, tánh không vô vi,
Là ánh tạng của tỉnh giác, diệu dụng mạnh mẽ của lòng đại bi
yêu thương.

Từ định lực của tầng mây bảo báu,
Khởi hiện chủng tự nhân \(va\) sắc vàng tươi,
Ánh kim sắc rạng ngời như nhật chiếu.
Phóng quang minh tịnh hóa môi
trường và chúng sinh.

Ở trung tâm của một cõi tịnh độ được tạo thành từ châu báu,
Có một đóa sen nhiều màu và một tòa nguyệt luân (đĩa mặt trăng).
Trên đó hiện hữu chủng tự “vaṃ”, và ngay tức khắc chủng tự ấy hóa hiện
Thành Bồ tát
Trì Thế tôn quý.

Thân Ngài có sắc vàng rực rỡ, một mặt và hai tay.
Tay phải kết ấn Đại Thí Tối Thượng,[5]
Cầm quả như ý mãn nguyện mọi ước cầu.[6]
Tay trái ban sự che chở quy y và cầm một bó lúa vàng,
Từ đó tuôn xuống cơn mưa của mọi điều tốt đẹp và mong cầu.

Ngài được trang nghiêm bằng nhiều loại y phục tơ lụa quý báu
Và các loại châu báu đa diện rực rỡ.
Dung nhan Ngài vô cùng xinh đẹp, luôn nở nụ cười hiền hòa,
Và đôi chân an trụ trong tư thế kiết già của nữ Bồ Tát.

Từ hào quang của chính Ngài hiện khởi thần tài Jambhala, hiện thân của phương tiện thiện xảo tối thượng.
Ngài có thân sắc vàng sáng chói, một mặt và hai tay.
Tay phải ôm vị phối ngẫu nơi cổ
Và cầm một quả bījapūra.[7]

Tay trái Ngài nắm nơi cổ một con chuột mangút phun châu báu,
Nguồn cội của tài sản vô tận.
Ngài có dung mạo anh tuấn, được trang nghiêm bằng hoa sen
utpala, y phục tơ lụa và các loại châu báu,
Và rực cháy trong ngọn lửa khát vọng.

Ba nơi của các Ngài được đánh dấu bằng ba chủng tự kim cang (om,ah, hum),
Là sự hiện diện tự nhiên của thân, khẩu và ý giác ngộ.
Cam lồ bồ-đề tâm ban sự quán đảnh,
Và ấn chứng bằng trí ấn của năm bộ Phật.

ཨོཾ་ཨཱཿཧཱུྃ༔

om ah hung

oṃ āḥ hūṃ

ཏྲཱཾ་ཧཱུྃ་ཨོཾ་ཧྲཱིཿཨཱ༔

tram hung om hrih a

trāṃ hūṃ oṃ hrīḥ āḥ

Oṃ.
Kính thỉnh Bồ tát Trì Thế tôn quý,
Cùng vị phối ngẫu và đoàn quyến thuộc hóa hiện của Ngài,
Xin nhớ lại thệ nguyện đã phát từ thuở trước,
Và mau chóng quang lâm đến nơi này.

ཨོཾ་ཤྲཱི་སརྦ་བཱ་སུ་དྷཱ་རི་ཛམྦྷ་ལ་ས་པ་རི་ཝཱ་ར་ཨེ་ཧྱ་ཧི༔ མ་ཧཱ་ཀ་རུ་ཎི་ཀ་དྲྀ་ཤྱ་ཧོ༔

om shri sarva basudhari dzambhala sapariwara é hya hi | maha karunika drishya ho

oṁ śrī sarva vasudhāri jambhala saparivāra e hya hiḥ | mahā kāruṇika dṛśya hoḥ

ས་མ་ཡ་ཧོ༔ ས་མ་ཡ་སཏྭཾ༔

samaya ho | samaya satom

samaya hoḥ | samaya stvaṃ

ཛཿཧཱུྃ་བཾ་ཧོ༔

dza hung bam ho

jaḥ hūṃ baṃ hoḥ

ཨ་ཏི་པཱུ་ཧོ༔ པྲ་ཏཱིཙྪ་ཧོ༔

ati pu ho | pratitsa ho

atipu hoḥ | pratīccha hoḥ

Oṃ.
Đại cúng dường ấn này,
Là kho tàng trân bảo viên mãn mọi ước nguyện của tâm,
Bao gồm vô lượng lạc thú của các giác quan và các phẩm vật cúng dường truyền thống,[8]
Chúng con xin dâng lên Ngài như những đám mây cúng dường của Phổ Hiền.

ཨོཾ་ཤྲཱི་བཱ་སུ་དྷཱ་རི་ཛམྦྷ་ལ་ས་པ་རི་ཝཱ་ར་ཨརྒྷཾ་ཨ༔

om shri basudhari dzambhala sapariwara argham a

oṁ śrī vasudhāri jambhala saparivāra arghaṃ aḥ

པཱ་དྱཾ་པཾ༔

om shri basudhari dzambhala sapariwara padyam pam

oṁ śrī vasudhāri jambhala saparivāra pādyaṃ paṃ

པུཥྤེ་ཏྲཱཾ༔

om shri basudhari dzambhala sapariwara pupé tram

oṁ śrī vasudhāri jambhala saparivāra puṣpe traṃ

དྷཱུ་པེ་ཧཱུྃ༔

om shri basudhari dzambhala sapariwara dhupé hung

oṁ śrī vasudhāri jambhala saparivāra dhūpe hūṃ

ཨཱ་ལོ་ཀེ་ཧྲཱི༔

om shri basudhari dzambhala sapariwara aloké hri

oṁ śrī vasudhāri jambhala saparivāra āloke hrīḥ

གནྡྷེ་ཨཱ༔

om shri basudhari dzambhala sapariwara gendhé a

oṁ śrī vasudhāri jambhala saparivāra gandhe āḥ

ནཻ་བིདྱཱ་ཨཾ༔

om shri basudhari dzambhala sapariwara naibidya am

oṁ śrī vasudhāri jambhala saparivāra naivedye aṃ

ཤབྡ་ཧོ༔

om shri basudhari dzambhala sapariwara shabda ho

oṁ śrī vasudhāri jambhala saparivāra śabda hoḥ

རཱུ་པ༔ ཤབྡ༔ གནྡྷེ༔ ར་ས༔ སྤརྴེ༔ དྷརྨ་དྷཱ་ཏུ་ཧོ༔

rupa | shabda | gendhé | rasa | parshé | dharmadhatu ho

rūpa | śabda | gandhe | rāsa | sparśa | dharmadhātu hoḥ

སརྦ་པཱུ་ཛ་ག་ག་ན་མེ་གྷ་ས་མ་ཡེ་ཧཱུྃ༔

sarva pudza gagana megha samayé hung

sarva-pūja gagana megha samaye hūṃ

Oṃ.
Thân tướng Ngài khả ái, mang sắc vàng rực rỡ,
Và thấm nhuần trí tuệ như châu báu.
Được trang nghiêm bởi huyễn hóa diệu dụng của các tướng hảo lớn và nhỏ—
Con xin đảnh lễ Ngài, bậc Nữ Chủ của Mạn-đà-la!

Tụng Trì Mật Ngôn

Nơi tim con là nút thắt cát tường,
Một pháp giới ánh sáng ngũ sắc—tinh túy của tất cả hữu tình và vô tình,
Và chủng tự sinh mệnh bất động “vaṃ”.
Chủng tự ấy được bao quanh bởi vòng chân ngôn,
Từ đó ánh sáng tỏa ra, cúng dường chư Phật và các vị Phật tử
kế thừa,
Diệt trừ nghèo khổ và khổ đau của chúng sinh,
Thu nhiếp tất cả điều thiện lành và đáng mong cầu trong luân hồi và niết-bàn,
Như hào quang của mặt trời mới mọc.
Chúng con đạt được thành tựu tối thắng, ban mọi điều như ý,
Và chứng đắc quyền năng đối với kho tàng của hư không.

Tụng trì chân ngôn

Nơi tim con là nút thắt cát tường,
Một pháp giới ánh sáng ngũ sắc—tinh túy của tất cả hữu tình và vô tình,
Và chủng tự sinh mệnh bất động “vaṃ”.
Chủng tự ấy được bao quanh bởi vòng chân ngôn,
Từ đó ánh sáng tỏa ra, cúng dường chư Phật và các vị Phật tử
kế thừa,
Diệt trừ nghèo khổ và khổ đau của chúng sinh,
Thu nhiếp tất cả điều thiện lành và đáng mong cầu trong luân hồi và niết-bàn,
Như hào quang của mặt trời mới mọc.
Chúng con đạt được thành tựu tối thắng, ban mọi điều như ý,
Và chứng đắc quyền năng đối với kho tàng của hư không.

ཨོཾ་བཱ་སུ་དྷཱ་རི་སྭཱ་ཧཱ༔

om basudharini soha

oṁ vasudhāriṇi svāhā[9]

Hãy trì tụng nhiều nhất như có thể

ཨོཾ་ཛམྦྷ་ལ་ཛ་ལེནྡྲ་ཡ་སྭཱ་ཧཱ༔

om dzambhala dzalendraya soha

oṁ jambhala-jalendrāya svāhā[10]

Hãy trì tụng chân ngôn của Đức Vasudhārā nhiều nhất có thể để nhận được sự gia trì.

Các giai đoạn tan rã

Từ chủng tự nơi tim ta, ánh sáng tỏa chiếu,
Làm tan rã luân hồi và niết-bàn thành quang minh rồi quay trở về tự thân.
Chủng tự sinh mệnh tan vào âm thanh vi tế (nāda), rồi tan vào không gian quang minh,
Trạng thái tánh Không vượt ngoài mọi đối tượng khái niệm.

Hãy trì tụng điều này, quán tưởng và an trụ trong định tĩnh quân bình của thiền định.

Khởi hiện thành thân tướng của bổn tôn

Một lần nữa, con khởi hiện trong thân tướng của bổn tôn,
Đại huyễn võng của trạng thái hợp nhất.
Tất cả các pháp của sắc tướng, âm thanh và ý niệm
Đều khởi hiện như sự hiển bày của ba mật của Bồ tát
tôn quý.

Hồi hướng và phát nguyện

Nhờ thiện hạnh và công đức này, nguyện con nhanh chóng
Thành tựu sự chứng ngộ của Bồ tát
Trì Thế, và nhờ đó
Nguyện cho tất cả mọi chúng sinh
Cũng đều đạt đến cảnh giới viên mãn của Ngài.

Lời Nguyện Kiết Tường

Không bị ô nhiễm bởi sự gắng sức và nỗ lực,
Như ngọc như ý, như cây ban điều mong ước,
Nguyện con thành tựu mọi hy vọng của chúng sinh,
Và nguyện tất cả đều kiết
tường, thành tựu mọi điều mong cầu!

 

***

KẾT THÚC NGHI QUỸ:

Hãy trì tụng thêm các lời nguyện cát tường khác nếu thấy phù hợp, và sau đó tiếp tục các hoạt động hằng ngày của bạn.

Văn bản này được soạn thảo bởi Pema Ösal Dongak Lingpa (Đức Jamyang Khyentse Wangpo), kẻ tôi tớ nguyện làm vui lòng Đạo Sư Sinh Trên Hoa Sen (Đức Liên Hoa Sanh). Nguyện cầu giáo pháp này mang lại công đức và sự thù thắng vô thượng! Sarvadā maṅgalam (Nguyện vạn điều cát tường luôn hiện hữu)!

 

| Translated by Han Kop with the kind assistance of Tulku Rigdzin Pema Rinpoche, 2023.

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/jamyang-khyentse-wangpo/daily-vasudhara

 



[1] Điều này đề cập đến bản văn gốc (gốc văn), từ chu kỳ giáo pháp Rtsa gsum sgyu 'phrul drwa ba las: 'Dod rgu'i sprin gyi ting 'dzin (Mạng Lưới Thần Biến của Tam Gốc: Đại Định Như Ý Vân/Mây Như Ý Hiện Thực Mọi Ước Nguyện).
[2] Pháp tu này là một phần thuộc chu kỳ giáo pháp Mạng Lưới Thảo Khấu của Tam Gốc (rtsa gsum sgyu 'phrul drva ba), được khai hiển bởi Đại sư Khyentse Wangpo tại Senggö Yutso (seng rgod g.yu mtsho), tức Hồ Ngọc Bích. Trong kho tàng Kho Tàng Quý Báu của các Giáo Pháp Khai Hiển (⁠Precious Treasury of Revelations / Rinchen Terdzö), hiện chỉ có sẵn văn bản phục tạng (gter ma), nghi quỹ thực hành hằng ngày và phần sắp xếp nghi lễ do Đức Karmapa thứ 15 soạn thảo. Một ghi chú trong cuốn Cuộc đời của Jamyang Khyentse Wangpo (trang 315, chú thích 382) có đoạn viết:

"Nghi quỹ tu trì Bồ-tát Trì Thế (Vasudhārā) chín vị tôn từ chu kỳ giáo pháp đó, đi kèm với sách hướng dẫn thực hành và nghi lễ quán đảnh, đã được ghi chép lại. Bản hướng dẫn về các giai đoạn chín muồi và hoàn thiện mà [Terchen Chokling] gTer chen mChog gling truyền trao cho con gái của ngài là [Konchok Paldron] dKon mchog dpal sgron hiện vẫn đang được lưu truyền. Tuy nhiên, ngoại trừ phần sắp xếp nghi lễ của Đức Karmapa thứ 15 và pháp tu hằng ngày do 'Bậc Thầy Chánh Biến Tri' [Dzongsar Khyentse] (rDzong sar mkhyen brtse) truyền dạy, không còn gì khác được truyền xuống cho các hành giả thông thường."
[3] Sách hướng dẫn quán đảnh có thể được tìm thấy trong Kho Tàng Quý Báu của các Giáo Pháp Khai Hiển (Rinchen Terdzö) và dòng truyền thừa của nó hiện vẫn còn tiếp nối. Tuy nhiên, do tính chất vô cùng hy hữu của truyền thừa này, Tulku Rigdzin Pema Rinpoche nói rằng hành giả hoàn toàn có thể tuân theo các chỉ dẫn do Đức Khyentse Wangpo đưa ra trong tác phẩm Bình Như Ý Cát Tường: Giáo Huấn Cốt Tủy về Trì Tụng Gia Trì Bình Tài Bảo Dựa Trên Mạn-đà-la Dạ-xoa (gnod sbyin 'khor lo'i cho ga la brten nas gter bum sgrub pa'i man ngag 'dod rgu'i bum bzang). Trong đó có dạy rằng một người có thể thực hành pháp tu này nếu đã nhận được một trong các quán đảnh sau: quán đảnh Bồ-tát Trì Thế (Vasudhārā) từ tuyển tập Kim Cương Man (rdo rje phreng ba / Vajramālā), quán đảnh của một trong Tam Tộc Tính Tôn (gồm Văn Thù Sư Lợi, Kim Cương Thủ hoặc Quán Thế Âm), hoặc quán đảnh mạn-đà-la Ngũ Tôn Arapacana (một sắc tướng của Đức Văn Thù).
[4] Bốn mục tiêu cao cả của đời người (tiếng Phạn: puruṣārtha - Tứ chính sự) bao gồm: 1) Pháp / Dharma (chánh hạnh, các giá trị đạo đức), 2) Tài / artha (thịnh vượng, các giá trị kinh tế), 3) Dục / kāma (hỷ lạc, tình yêu) và 4) Giải thoát / mokṣa.
[5] Ấn thí nguyện (tiếng Phạn: varada-mudrā) là một thủ ấn trong đó cánh tay duỗi thẳng xuống phía dưới và lòng bàn tay hướng ra ngoài.
[6] Danh tính chính xác của loại quả này vẫn chưa rõ ràng và các mô tả cũng có sự khác biệt. Tulku Rigdzin Pema Rinpoche nói rằng đó có thể là một quả dứa. Shaw nhận định: “Để biểu thị sự ban ban phát của cải vật chất, một biểu tượng của sự giàu có xuất hiện trên lòng bàn tay Ngài dưới hình thức một viên ngọc nhỏ hoặc một vật thể hình bầu dục lớn hơn — có thể là một viên bảo châu lớn hoặc một loại trái cây, tương tự như quả mộc qua (bilva) và quả chanh yên (citron) được hiển thị bởi các vị thần tài bảo khác.
[7] Điều này có thể đề cập đến quả chanh yên (citrus medica). Tulku Rigdzin Pema Rinpoche nói rằng đó có thể là một quả lựu.
[8] Tib. nyer spyod 
[9] Bản văn Tây Tạng của chúng tôi ghi là vasudhāri và một bản văn khác ghi là vasuṇidhāri. Cách ghi sau rõ ràng là không chính xác. Tuy nhiên, mật điển Siddhaikavīra Tantra lại ghi là vasudhāriṇi, và đây cũng chính là âm phạn mà Tulku Rigdzin Pema Rinpoche đã trì tụng khi thực hành pháp tu này. Sau đó, ngài đã xác nhận rằng vasudhāriṇi có khả năng cao là cách viết chính xác.
[10] Điều này có nghĩa là: Oṁ, svāhā gửi đến Jambhala, vị chủ tể của các nguồn nước! Chân ngôn của Bồ-tát Trì Thế (Vasudhārā) và Thần Tài Bảo (Jambhala) được tìm thấy trong mật điển Siddhaikavīra Tantra. Các chân ngôn này, cùng tất cả chân ngôn thuộc quyến thuộc của các Ngài, cũng được Đức Khyentse Wangpo sử dụng trong tác phẩm Bình Như Ý Cát Tường: Giáo Huấn Cốt Tủy về Trì Tụng Gia Trì Bình Tài Bảo Dựa Trên Mạn-đà-la Dạ-xoa (gnod sbyin 'khor lo'i cho ga la brten nas gter bum sgrub pa'i man ngag 'dod rgu'i bum bzang). Có lẽ không phải ngẫu nhiên mà Đức Jamyang Khyentse Wangpo đã viết một bản luận giải cho chính mật điển đó, văn bản được tìm thấy trong tuyển tập Đại Tập Nghi Quỹ (sgrub thabs kun btus), mang tên: Sna tshogs pa'i las rab tu 'byung ba 'jam dpal dpa' bo gcig pu grub pa'i rgyud 'grel man ngag dang bcas pa (Luận giải và Giáo huấn Cốt tủy về Mật điển Thành tựu Độc tôn Văn Thù Anh Hùng Khởi sinh các Diệu dụng Nghiệp lực Đa dạng).



Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét