The Symbolism of Thousand Armed Avalokiteshvara – Universal Compassion
Việt dịch: Quảng CơBiên tập: Tuệ Uyển
***
Có vẻ như chưa có nhiều tài liệu được viết về
biểu tượng của Đức Phật Từ Bi, Quán Thế Âm - Avalokiteshvara, trong hình
tướng Nghìn Tay, vì vậy tôi nghĩ mình sẽ thử ghi lại vài lời ở đây. - Jason Espada
Tôi nhớ vài năm trước đã
ngạc nhiên khi thấy Quán Thế Âm - Avalokiteshvara
được thể hiện là nam ở Ấn Độ và Tây Tạng, rồi lại là nữ ở Viễn Đông, nơi ngài được
biết đến với các tên Quan Âm (hoặc Guan Yin) và Kannon.
Tôi luôn cảm thấy mình
liên hệ nhiều hơn với khía cạnh nữ tính, mặc dù điều này vượt ra ngoài giới
tính hay bất kỳ biểu hiện đơn lẻ nào. Tôi có thể cảm nhận cả những phẩm chất
nam tính và nữ tính trong Quan Thế Âm .
Những điều này lần lượt
được biểu trưng bởi mặt trời và mặt trăng.
Ngài, Ông hoặc Bà, là
Lòng Từ Bi Giác Ngộ, gần gũi với mọi chúng sinh, và được yêu mến với danh xưng
Tara ở Tây Tạng, và hiện nay ở phương Tây.
Những huyền thoại về sự
ra đời kỳ diệu của Tara kể rằng bà xuất hiện từ những giọt nước mắt của Quan Thế Âm , từ lòng đại bi của Ông, và đã nói với Ông rằng: Chúng tôi sẽ
giúp Ngài…
Hình tướng Ngàn Tay, Mười
Một Đầu xứng đáng được nhắc đến và suy ngẫm. Đây là lòng từ bi của tất cả các bậc
Giác Ngộ, cũng như bản tính chân thật đầy từ bi của chính chúng ta, cuối cùng
cũng hiển lộ.
Giống như tất cả các vị
Phật và Bồ Tát siêu việt khắp mười
phương, các Nguyên Mẫu, cùng các Danh Xưng
và Hình Thức Thiêng Liêng, Quan Thế Âm có thể được thỉnh cầu, và Ngài sẽ hồi
đáp. Đây đã là lời chứng thực của nhiều người qua các nền văn hóa và suốt nhiều
thế kỷ.
Về việc tại sao cầu nguyện
hay nghi thức lại hiệu quả với người này mà không với người khác, hoặc có lúc
hiệu quả vượt xa bất cứ điều gì ta từng có thể tưởng tượng, còn những lúc khác
lại không có phản hồi đáng chú ý nào, tất cả những gì tôi có thể nói là – điều
đó vượt ngoài sự hiểu biết của tôi, và dù vậy, tôi tin rằng luôn luôn có một lợi
ích nào đó.
Để tiếp tục, có lẽ điều
gây ấn tượng nhất ngay từ cái nhìn đầu tiên vào hình ảnh này là ngàn cánh tay… Điều này có thể có ý nghĩa gì?
“Ngàn” trong các truyền thống
phương Đông có nghĩa là vượt ngoài sự
đếm được. Đôi khi điều này được diễn đạt là “vạn”, “muôn” hay “mười ngàn” với cùng ý nghĩa.
Vậy nên Quan Thế Âm ,
hình ảnh đang nói với chúng ta, có lòng bi mẫn là vô lượng, lan tỏa khắp mọi
nơi; và hơn nữa, trong tay Ngài có những pháp khí khác nhau – tôi sẽ nói cụ thể
thêm một vài lời về điều đó trong chốc lát, nhưng trước hết tôi muốn chỉ ra rằng
việc có những pháp khí khác nhau có ý
nghĩa gì.
Quán Thế Âm hiện thân
theo bất kỳ cách nào mà chúng sinh cần.
Nếu họ cần một cây cầu,
Ngài hiện thân thành một cây cầu; nếu cần bác sĩ và thuốc men, thức ăn và quần
áo, hoặc giáo pháp, Ngài hiện thân thành những điều đó…
Trong lòng bàn tay của mỗi
một trong ngàn cánh tay của Quán Thế Âm, chúng ta có thể thấy có một con mắt,
biểu trưng rằng ngài biết mình đang làm gì, rằng ngài có trí tuệ giải thoát, và
có tầm nhìn xa để dẫn dắt chúng sinh đến tự do và an lạc tạm thời cũng như cứu
cánh, thông qua những phương tiện thiện xảo phong phú và luôn sáng tạo của
ngài.
Ngài ấy giữ trong hai
tay trước trái tim mình một viên ngọc như ý, bởi vì, suy cho cùng, điều chúng
ta mong muốn là sự thoải mái và niềm vui, ở hiện tại và sau cuộc đời này, là sự
an lạc và bình yên bền lâu, và biểu tượng này đang nói rằng: Điều bạn thật sự mong muốn, tôi sẽ mang lại.
Ở một bàn tay khác có một chiếc bình đang rót ra một dòng
cam lồ…
Điều này cũng được thấy trong các hình tượng của Quán Âm,
và dòng nước này không phải là loại nước thông thường…
Nó được gọi là nước của sự sống.
Đó chính xác như lời
Chúa Giê-su đã nói với người phụ nữ Sa-ma-ri bên giếng nước,
“Bất cứ ai uống nước này sẽ không bao giờ khát nữa….”
và quả thật, nước ta ban cho họ sẽ trở thành trong họ một mạch nước vọt lên đem
lại sự sống đời đời…
Một bàn tay khác cầm một
bông hoa sen, và một bàn tay khác cầm một tràng hạt pha lê.
Hoa sen biểu trưng cho việc được sinh ra từ bùn lầy,
những điều đời thường mà con người vướng vào, nhưng lại không bị vấy bẩn bởi
chúng; đẹp như thế, tinh khiết không tì vết, theo cách nói là không có gì ‘bám
vào nó’, đến mức nó trở nên đáng yêu, truyền cảm hứng và nâng đỡ tinh thần…
Chuỗi hạt, thường có một
trăm lẻ tám hạt, là một công cụ truyền thống được sử dụng trong các truyền thống
tâm linh để hỗ trợ sự tập trung, và ý nghĩa ở đây là Quán Thế Âm luôn tham gia
vào việc cầu nguyện, ban rải ân điển của Ngài, và các hoạt động mang tính cầu
nguyện….
Điều này có thể là một
thứ gì đó đơn giản, hoặc kịch tính, ẩn giấu, hoặc hiện hữu rõ ràng ngay trước mắt…
Cung và mũi tên trong một
bàn tay khác mà tôi đã từng nghe được giải thích là sự hợp nhất của chỉ (samatha)
và quán (vipassana), tĩnh lặng và tuệ giác.
Chúng ta có thể có một
tâm trí ổn định, và điều này cần được kết hợp bằng cách này hay cách khác với sự
thấy rõ vào bản chất thật của chúng ta. Đây chính là điều mang lại sự giải
thoát. Trí tuệ, xét đến cùng, là câu trả lời của Phật giáo đối với khổ đau.
Chúng ta có thể có mũi
tên tốt nhất, sự nhắm mục tiêu rõ ràng nhất, hoặc sự hiểu biết tốt nhất về mặt
trí tuệ, nhưng để thật sự có hiệu quả trong việc giải thoát tâm trí khỏi khổ
đau và hơn thế nữa là các nguyên nhân của nó, chúng ta cần sự hợp nhất giữa trạng
thái an trú tĩnh lặng và trí tuệ siêu việt. Đây chính là điều giúp chúng ta đạt
được mục tiêu.
Chúng ta cần đưa sức mạnh
to lớn của một tâm trí hợp nhất vào thực hành tuệ giác giải thoát của mình, và cung tên tượng trưng cho nhu cầu này.
Một bàn tay khác cầm Bánh xe Pháp, biểu thị rằng Quán Thế Âm
Bồ Tát luôn giảng dạy và truyền cảm hứng cho chúng sinh, để họ có thể tìm thấy
sự tự do và an lạc.
Và một cử chỉ khác là sự
biểu hiện của lòng hào phóng tối thượng, thể hiện chính bản chất của lòng từ bi giác ngộ…
Để nói điều gì đó về mười
một cái đầu của Quán Thế Âm, điều này gợi lại câu chuyện nguồn gốc của hình tướng
này của Đức Phật của Lòng Từ Bi. Câu chuyện đại khái như sau:
Quán Thế Âm Bồ Tát đã phát nguyện giải thoát tất cả chúng
sinh khỏi mọi khổ đau, và bắt tay vào thực hiện đúng như vậy. Trong hàng trăm
nghìn năm, ngài đã thật sự giải thoát chúng sinh và mang lại cho họ sự an lạc lớn
lao nhất, nhưng khi ngài nhìn lại khắp cõi luân hồi, không những số lượng chúng
sinh đau khổ không giảm, mà còn nhiều hơn nữa!
Bị choáng ngợp bởi cường độ cảm xúc của mình, người ta
nói rằng đầu của Quán Thế Âm đã tách ra thành mười một mảnh…
May mắn thay, Đức Phật A Di Đà, Đức Phật của Ánh Sáng Vô Lượng,
ngay tại khoảnh khắc đó đã xuất hiện và thu gom những mảnh này lại, khôi phục lại
Quán Thế Âm Bồ Tát trong hình dạng như bây giờ.
Ba khuôn mặt được nhìn
thấy, theo ba tầng, tiếp theo là một cái đầu màu xanh đậm hoặc xanh đen, và sau
đó là đầu của một vị Phật Đỏ, chính là Phật A Di Đà.
Các màu sắc cũng có ý
nghĩa quan trọng, thể hiện phần nào bản chất biến đổi của Quán Thế Âm Bồ Tát.
Trong hình tôi có, được
hiển thị ở đây, phía trên và lần lượt bên trái và bên phải là Liên Hoa Sanh (Padmasambhava)
và các đệ tử thân cận của ngài, cùng với Je Tsongkhapa và các đệ tử tâm truyền
của ngài; Tara Trắng và Tara Xanh xuất hiện xung quanh nhân vật trung tâm, cũng
như nhiều hóa hiện phẫn nộ của lòng bi mẫn, chẳng hạn như Mahakala.
Có vẻ như một khuôn mặt ở
tầng đầu tiên có màu trắng {cũng như toàn bộ cơ thể tinh khiết, trong suốt của ngài,
và tất cả các cánh tay}, tiếp theo là một khuôn mặt khác trông có màu xanh đang
hướng sang trái, và một khuôn mặt khác màu đỏ đang hướng sang phải.
{Tôi đã nhận được điều
này từ Tu viện của Đức Đạt Lai Lạt Ma ở Dharamsala, Ấn Độ, vào năm 1998.}
Hầu hết các mô tả đều
như thế này:
‘Tầng đầu tiên có một mặt
trung tâm màu trắng, một mặt bên phải màu xanh lá, và một mặt bên trái màu đỏ.
Tầng thứ hai đảo ngược mẫu với một mặt trung tâm màu xanh lá, một mặt bên phải
màu đỏ, và một mặt bên trái màu trắng. Tầng cuối cùng có một mặt trung tâm màu
đỏ, một mặt bên phải màu trắng, và một mặt bên trái màu xanh lá cây….’
Màu trắng là màu của sự
điều phục, và vì vậy có thể nhắc đến bốn loại Hoạt động của Phật ở đây. Chúng
là: làm dịu, làm tăng trưởng, thu hút, và phá hủy, còn được gọi là an bình, gia
tăng, quyền năng, và phẫn nộ.
Hòa bình được biểu thị bằng
màu trắng, sự tăng trưởng được biểu thị bằng màu xanh lá hoặc xanh lam xanh lá cây,
giống như một khu vườn hoặc những cánh đồng nở rộ vào mùa xuân, quyền lực được
biểu thị bằng màu đỏ, và xanh đen, giống như một đám mây giông là màu của cơn
thịnh nộ, hoặc sức mạnh áp đảo.
Theo như tôi được nghe
giải thích, các Đức Phật và các Bồ-tát sẽ sử dụng mọi phương tiện cần thiết để
mang lại lợi ích cho chúng sinh. Họ sẽ thử các phương pháp hòa bình, và nếu những
cách đó không hiệu quả, họ sẽ sử dụng nhiều sức mạnh hơn, thậm chí cả phẫn nộ,
hoặc sức mạnh từ bi mang tính quyết đoán để bảo vệ khi cần thiết.
Màu xanh đậm, hay khuôn
mặt xanh đen được thấy ở phía trên các hàng ba, tượng trưng cho các hoạt động
phẫn nộ của chư Phật.
Đức Phật A Di Đà ở đỉnh
đầu trên cùng của mười một khuôn mặt đối với tôi có nghĩa là sự bất khả phân ly
của các ngài. Tôi cũng đã nghe rằng điều này liên quan đến việc Phật A Di Đà là
thầy của Quán Thế Âm, và sự hiện diện của Ngài ở đó là biểu tượng của lòng tôn
kính, niềm tin và sự sùng kính.
Vì đây là một hình ảnh
có nguồn gốc từ tâm linh Ấn Độ, có một chiều sâu kết nối với một bậc giác ngộ
được thể hiện mà là độc đáo và quý giá trong thế giới của chúng ta. Cũng giống
như khi gặp một vị thầy chân chính, đã chứng ngộ, đây là nguồn gốc của tất cả
những điều tốt đẹp theo sau, hoặc chúng ta có thể nói, tuôn chảy từ đó…
Mật ngôn mạnh
mẽ của Quán Thế Âm Bồ Tát là OM MANI PEME HUM, hoặc OM MANI PEME HOONG (với âm
mũi ở cuối)
{Here
are a few audio recordings of
the mantra…}
Những phẩm chất tuyệt vời của mật ngôn này đã được giảng dạy
bởi những bậc thầy tuyệt vời như Đức Đạt Lai Lạt Ma, Lama Zopa Rinpoche và
Geshe Dhargye.
{Here is a
document with their teachings on
the subject.}
Để nói thêm một chút về
các hình ảnh xung quanh Quán Thế Âm
Thiên Thủ Thiên Nhãn: mặc dù không thuộc vào hình ảnh chính, nhưng chúng ta thường
sẽ thấy các chư thiên, hay những chúng sanh mang tính thiên thần, các vị Thánh,
Đức Phật, và các vị Phật khác trong mandala, hiện diện cùng với nhân vật trung
tâm.
Chúng ta có thể xem xét
điều này theo hai cách. Một là nói rằng đây là tùy tùng của Quán Thế Âm, giống như một vị vua hoặc hoàng hậu luôn
được đi cùng bởi các quan đại thần, người hầu, cố vấn và những người bảo vệ của
họ;
Một cách nhìn khác, sâu
sắc hơn về các hình tượng xung quanh là xem tất cả chúng như những biểu hiện của
bản chất giác ngộ của Quán Thế Âm.
Tôi đã từng viết trước
đây về các Biểu tượng, và các biểu tượng phức hợp (Symbols, and composite symbols) trong Phật giáo.
Ý chính của những gì tôi
đã viết năm ngoái là như sau:
Biểu tượng thuộc về những tầng lớp sớm nhất của tâm trí con
người và giao tiếp con người. Chúng nói trực tiếp với chúng ta, nếu chúng ta
hòa hợp với chúng, hoặc khi có những yếu tố khác được đặt đúng chỗ, chẳng hạn
như có sự đồng cảm với những gì chúng thể hiện…
Nếu chúng ta mở khóa được ý nghĩa của một biểu tượng, có
thể nói rằng đôi khi điều đó xảy ra một cách tự phát, ngay lập tức, còn những
lúc khác, chúng ta cần thiền định về biểu tượng để nó tự bộc lộ với chúng ta.
Điều này rất rõ ràng khi nó xảy ra. Một sự hiểu biết vừa không tồn tại ngay trước
đó bỗng xuất hiện trực tiếp trong tâm trí, và không bằng lời, và đó là điều
chúng ta hiểu bằng toàn bộ con người mình….
và,
Bây giờ, một hình ảnh tổng hợp là điều khác biệt ở chỗ mỗi
phần của một thangka, {một bức tranh hoặc tấm thảm Phật giáo Tây Tạng} chẳng hạn,
đều có ý nghĩa riêng của nó. Khi kết hợp lại, các biểu tượng soi chiếu lẫn
nhau.
Các chương trong một cuốn sách, hay các khổ thơ của một
bài hát, hay những bức ảnh trong một bài tiểu luận đều là độc đáo, nhưng khi kết
hợp lại, chúng có thể biểu đạt một ý nghĩa lớn hơn tổng các phần, và thậm chí
còn mạnh mẽ hơn…
Các yếu tố khác nhau khi kết hợp có thể bổ sung và làm
phong phú lẫn nhau. Tất cả điều này trở nên rõ ràng một cách trực tiếp. Có một
sự thống nhất nội tại, mang tính hữu cơ trong những gì thangka và nghệ thuật
tôn giáo truyền tải…
Như với các hình ảnh
ghép khác trong nghệ thuật Phật giáo, chúng ta có thể bắt đầu cảm nhận rằng tất
cả những gì được trình bày cùng nhau đều mang một ý nghĩa rõ ràng và sống động.
Đây là hình tướng của
Quán Thế Âm Bồ Tát nghìn tay nghìn mắt, cùng quyến thuộc của Ngài.
Thêm một điểm đáng lưu
ý. Khi thiền quán về chư Phật hoặc Bồ Tát, các vị thầy thường khuyên rằng chúng
ta hãy thấy cả các Ngài và chính mình đều trong suốt và tỏa sáng…
{Xem: Một hình dung đơn giản
(A simple visualization, ), để có mô tả đầy đủ hơn…}
Sau đó, khi thực hành một
pháp tu, chẳng hạn như quán chiếu, cầu nguyện hoặc trì tụng thần chú, chúng ta
quán tưởng rằng mình nhận được gia trì từ Phật, Pháp và Tăng, cũng như từ tất cả
các Bồ Tát và chư Thiên dưới hình thức ánh sáng và cam lồ…
Những điều này tan hòa
vào chính chúng ta, và vào tất cả những người mà chúng ta thấy đang ở bên chúng
ta lúc này, gia đình và bạn bè của chúng ta, những người chúng ta không biết,
và những người đang trải qua bất kỳ khó khăn nào…
Chúng ta hình dung rằng
ánh sáng và cam lồ chữa lành và xoa dịu, nuôi dưỡng và truyền cảm hứng cho tất
cả chúng ta…
Tất nhiên, tôi tin rằng
phần lớn nghệ thuật tâm linh, chẳng hạn như hình tượng Quan Thế Âm Bồ Tát Ngàn
Tay, được trao cho chúng ta như một lời mời gọi. Để hiểu những biểu tượng này,
chúng ta được khuyến khích thiền định về chúng.
Khi có một sự đồng cảm
cá nhân, ý nghĩa của chúng có thể trở nên rõ ràng với chúng ta, và nó giống như
ai đó vừa đặt một viên ngọc quý ngay vào lòng bàn tay ta…
Một cách kỳ diệu, thông
qua việc kết nối với chư Phật và chư Bồ Tát, và thiền định về các Ngài, chúng
ta có thể nhận được sự gia trì của các Ngài, và đánh thức những phẩm chất tương
tự nơi chính mình.
Chúng ta cũng có thể trở
thành Quán Thế Âm, hoặc Tara, hoặc Văn Thù Sư Lợi trong thế giới của chúng ta.
Thật tuyệt vời.
Namo Avalokiteshvaraya!
Nam
mô Quán Thế Âm Bồ-tát!
* * *
Đây là sưu tập
những hình ảnh của Thiên Thủ Thiên Nhãn Quán Thế Âm [ a collection of images]
Một tập hợp những
Luận Giải Về Quán Thế Âm [ Chenrezig Commentaries,]
Và một cuốn sách
về thi kệ tán dương Quán Thế Âm Bồ Tát,[ In Praise of Avalokiteshvara]
Dale Goodyear
Ý tưởng kết nối 11 diện tướng của Đức Quán Thế Âm với Thập
độ (Mười Ba-la-mật) và quả vị Phật của bạn rất sâu sắc. Dưới đây là âm Hán-Việt
tương ứng cho danh sách 10 Ba-la-mật (\(Pāramitā\)) và quả vị thứ 11 mà bạn đã
đề cập:
1-Generosity
(\(Dāna\)): Bố thí
Ba-la-mật.
2-Moral conduct
(\(Sīla\)): Trì giới
Ba-la-mật.
3-Renunciation (\(Nekkhamma\)): Xuất ly Ba-la-mật (hoặc Ly dục).
4-Wisdom (\(Paññā\)): Bát-nhã Ba-la-mật (hoặc Trí tuệ).
5-Energy (\(Viriya\)): Tinh tấn Ba-la-mật.
6-Patience (\(Khanti\)): Nhẫn nhục Ba-la-mật.
7-Truthfulness (\(Sacca\)): Chân thật Ba-la-mật.
8-Determination (\(Adhitthāna\)): Nguyện Ba-la-mật (hoặc Quyết định).
9-Loving-kindness (\(Mettā\)): Từ Ba-la-mật.
10-Equanimity (\(Upekkhā\)): Xả Ba-la-mật.
11-Full Buddhahood: Viên mãn Phật quả (hoặc Thành
tựu Phật đạo).
Ghi chú thêm:
Trong truyền thống Bắc truyền (Đại thừa), danh sách 10 Ba-la-mật thường có chút
khác biệt (\(Thập \text{ } độ\): Bố thí, Trì giới, Nhẫn nhục, Tinh tấn, Thiền định,
Trí tuệ, Phương tiện, Nguyện, Lực, Trí). Tuy nhiên, danh sách bạn đưa ra thuộc
hệ truyền thừa Nam truyền (Theravada), vốn là danh mục cổ xưa và rất căn bản.
Sự tương ứng này rất thú vị vì diện tướng thứ 11 của Ngài
Quán Thế Âm (diện tướng Phật trên đỉnh đầu) chính là biểu tượng cho sự viên mãn
của lộ trình tu tập các Ba-la-mật này.
Thật ra, bản chất phẫn nộ
của Khuôn Mặt thứ 10, ngay dưới Khuôn Mặt cao nhất, có thể liên quan đến sự Xả
(Equanimity), bao gồm công lý và tính khách quan. Và Khuôn Mặt Phật thứ 11, cao
nhất, tóm lược mọi thứ!
Người khác có thể sử dụng
một danh sách khác để tương ứng với 11 Khuôn Mặt, nhưng danh sách này phù hợp với
tôi và khiến chúng trở nên trực tiếp và chân thực hơn đối với tôi./.
https://buddhaweekly.com/the-symbolism-of-thousand-armed-avalokiteshvara-universal-compassion/


