Thứ Hai, 26 tháng 1, 2026

NGUYỆN PHÁT BỒ ĐỀ TÂM TỐI THẮNG THANH TỊNH

 



Tác giả: Patrul Rinpoche
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***

Namo Guru!

Tâm Ngài từ muôn kiếp xa xưa đã dứt sạch mọi dối lừa,
Lời Ngài chân thật, thẳng ngay, chẳng chút khiên cưỡng,
Thân Ngài hành xử kỷ luật và khiêm cung—
Bậc Đại Sĩ chân thực và trí tuệ, con xin đảnh lễ Ngài!

Những người con của Phật đã thấu suốt nghĩa rốt ráo,
Những bậc nói lời chân thực với năng lực tiên tri,
Những vị đang trên đường giải thoát qua Ba Thừa—
Trước tất cả các Ngài, với lòng thành kính, con xin cúi đầu!

Từ nay cho đến muôn kiếp vị lai, trong mọi đời sống,
Chư Phật và Bồ-tát, nguyện con chẳng rời xa!
Chư Phật và Bồ-tát, xin nhận con làm kẻ tùy tùng!
Chư Phật và Bồ-tát, nguyện con đạt thành tựu như các Ngài!

Thân con hành động—nguyện được kỷ luật và khiêm cung,
Lời con nói năng—nguyện được thành thật, không giả dối lọc lừa,
Tâm con ý nghĩ—nguyện được chân phương, không bày vẽ gian trá,
Và nguyện con luôn nương tựa bậc Thầy tâm linh và thiện hữu tri thức!

Cửa ngõ đầu tiên bước vào con đường giải thoát,
Lối thoát đầu tiên khỏi hiểm họa luân hồi,
Pháp tiên quyết cho mọi sự tu tập:
Tâm xả ly chân thực—nguyện hiển lộ trong tâm con!

Có tâm ấy, con có đủ mọi điều cần để chứng ngộ,
Thiếu tâm ấy, chẳng thể nào tìm thấy sự tỉnh thức,
Hạt giống không thể bàn cãi để đạt quả vị Phật,
Nguyện con phát Bồ-đề tâm tối thắng và thanh tịnh!

Nguyện Bồ-đề tâm tối thắng ngày càng tăng trưởng,
Suốt các đời con, nguyện không bao giờ quên mất,
Hết lần này đến lần khác, nguyện con thiền định về Bồ-đề tâm,
Và luôn rèn luyện theo hạnh nguyện Bồ-tát!

Bất kể hành trạng giác ngộ nào của bậc Đại Sĩ,
Của Văn Thù dũng mãnh hay của Phổ Hiền—
Trong mọi đời, nguyện hành động của con cũng được như các Ngài,
Và tự nhiên thành tựu lợi lạc cho chính mình và tha nhân!

Con đường thù thắng giúp thành Phật chỉ trong một đời,
Với phương tiện thiện xảo lợi mình lợi người cùng lúc,
Và cái nhìn về thực tại duy nhất nơi Luân hồi và Niết bàn bất nhị—
Nguyện con dấn thân vào con đường độc nhất của Kim Cương thừa!

Hàng hàng trì kim cương giả tu tập theo đạo lộ này,
Hòa hợp cùng những vị mang đến Đại lạc và Tính Không,
Như một cách để trí tuệ câu sinh (1) được hiển lộ—
Nguyện con được thọ hưởng đạo lộ độc nhất này nơi cõi của các Dakini!

Gương mặt của bản tính nguyên sơ, là chính tâm này, không sửa đổi,
Tinh túy của chính con, vượt ngoài mọi sự tạo tác—nguyện con thấy được rõ ràng,
Duy trì trạng thái thiền định không chút biến đổi,
Nguyện con đạt được quả vị rốt ráo, lìa mọi sự dụng công!

Trong thời gian đó, nguyện mọi ước nguyện của con đều viên mãn!
Chừng nào còn sống, nguyện con không có ý niệm bất thiện,
Và khi lâm chung, nguyện con không chịu cái chết đớn đau,
Khi đã lìa đời, nguyện không hãi hùng trước những ảo tượng huyễn hóa!

Nguyện tất cả những ai thấy con, nghe con, nghĩ về con, hay chạm vào con bằng bất cứ cách nào,
Đều phát khởi tâm xả ly, Bồ-đề tâm và trí tuệ câu sinh,
Theo cách phù hợp nhất với tâm thức của họ,
Để họ nhanh chóng đạt đến quả vị Phật toàn giác!

Nguyện con thấy Phật rạng ngời như mặt trời với các tướng tốt,
Nguyện con nếm vị cam lồ Pháp như mặt trời trong tim,
Và nguyện Tăng đoàn như mặt trời đồng hành cùng con đến giải thoát—
Từ ánh sáng của Ba Đấng Tối Thắng ấy, nguyện con chẳng rời xa!/.

 

སྒྲུབ་པ་པོ་ཉི་མའི་ཐུགས་བཞེད་བཞིན་བཙུན་གཟུགས་དཔལ་དགེས་བྲིས་པའོ། །དགེའོ།

To fulfil the wishes of the practitioner Nyima, this was written by Palge, the mere reflection of a genuine monk. May virtue abound!

 

| Translated by Adam Pearcey 2010. Many thanks to Alak Zenkar Rinpoche. Revised 2012 & 2020.

Phụ thích:

(1) Co-emergent Wisdom (tiếng Tây Tạng: Lhenchik Kyépa Yeshe; chữ Hán: Câu Sinh Trí - 生智) là một trong những khái niệm cốt tủy và sâu sắc nhất của Kim Cương thừa (Vajrayana) và Đại Thủ Ấn (Mahamudra).

Để hiểu một cách đơn giản nhưng chính xác, chúng ta có thể phân tích như sau:

1. Ý nghĩa mặt chữ

• Co-emergent (Câu sinh): Nghĩa là "cùng sinh ra", "vốn có sẵn". Nó ám chỉ rằng trí tuệ này không phải là thứ từ bên ngoài đến, cũng không phải do tu luyện mà tạo ra mới. Nó sinh ra cùng lúc với tâm ta, tồn tại song hành với mọi ý niệm.  

• Wisdom (Trí tuệ/Bản trí): Là sự nhận thức thuần khiết, không bị vẩn đục bởi khái niệm hay nhị nguyên.

2. Định nghĩa cốt lõi

Co-emergent Wisdom là trạng thái mà trong đó Vô minh (phiền não) và Giác ngộ (trí tuệ) không tách rời nhau.

Giống như sức nóng luôn có sẵn trong lửa, hay tính ướt luôn có sẵn trong nước, trí tuệ này luôn có sẵn ngay trong tâm của mỗi chúng sinh, kể cả khi chúng ta đang giận dữ hay mê lầm.

• Mê lầm là sự vận hành bề mặt.
• Câu sinh trí là bản thể nền tảng bên dưới.

3. Hai khía cạnh quan trọng của Câu sinh trí

Trong thực hành Kim Cương thừa, khái niệm này thường được nhắc đến qua hai cặp phạm trù:

• Câu sinh phiền não và Câu sinh trí: Ngay khi một ý niệm khởi lên (dù là tham hay sân), bản chất của ý niệm đó chính là trí tuệ. Nếu ta chạy theo nội dung của ý niệm, ta là phàm phu. Nếu ta nhận diện được bản chất "không" và "sáng" của ý niệm ngay khi nó khởi lên, đó là Câu sinh trí.

• Lạc - Không song vận (Co-emergent Union of Bliss and Emptiness): Trong các pháp tu cao cấp, hành giả sử dụng các năng lượng của thân thể để đạt đến trạng thái đại lạc. Khi cái "Lạc" này khởi lên cùng lúc với sự nhận thức về tính "Không", đó gọi là Câu sinh trí.

4. Tại sao nó quan trọng?

Thay vì nỗ lực tiêu diệt phiền não (như các con đường khác), con đường của Co-emergent Wisdom dạy hành giả:

• Không xua đuổi: Vì phiền não và trí tuệ có cùng bản chất.

• Nhận diện trực tiếp: Chỉ cần nhận ra bản tính của tâm ngay trong giây phút hiện tại, thì mọi cảm xúc tiêu cực tự giải thoát vào trong trí tuệ có sẵn đó.

Ví dụ về "Băng và Nước":

Phiền não giống như băng, trí tuệ giống như nước. Chúng có cùng một bản chất (HO). Người tu tập theo lối "Câu sinh" không đập nát tảng băng, mà chỉ cần hơi ấm của nhận thức để tảng băng tự tan chảy trở lại thành nước. Nước không đi đâu cả, nó luôn ở đó.

Trong bài có câu:

“As a way for co-emergent wisdom to be introduced—”
(Như một cách để trí tuệ câu sinh được hiển lộ)

Điều này ám chỉ việc bậc Thầy truyền dạy hoặc ban quán đảnh để giúp người học trực tiếp nhận ra bản tâm mình (tâm bình thường, không sửa đổi) chính là trí tuệ giác ngộ vốn có.

 

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/patrul-rinpoche/aspiration-generate-bodhichitta

 

LUẬN GIẢI TÓM TẮT VỀ QUY Y VÀ NGUYỆN CẦU BỒ ĐỀ TÂM

 



Sangyé Chö Tsok Ma của Ngài Dzatrul Ngawang Tenzin Norbu.
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***

 

I. Lời Dẫn Giải về Quy Y

1. Đối tượng Quy y

Nếu chúng ta khai triển bài nguyện Sangyé Chö Tsok Ma, dòng đầu tiên (“Con xin quy y Phật, Pháp và Tăng đoàn tối thắng”) hiển lộ các đối tượng quy y, tức Tam Bảo.

Tam Bảo gồm có:

• Bậc thầy không ai hơn: Đức Phật toàn giác. (Sự tỉnh thức và rộ nỡ của tứ thân, ngũ trí)

• Sự bảo hộ không ai hơn: Giáo pháp thiêng liêng.(Gồm tam tạng kinh điển và sự chứng đắc Diệt – Đạo đế)

• Bậc dẫn đường không ai hơn: Tăng đoàn cao quý.(Các bồ tát thập địa với trí tuệ tính không và lòng bi mẫn)

a-   Đức Phật (Jewel of Buddha)

Bậc thầy, Đức Phật toàn giác (Tạng ngữ: Sang-gyé) bao gồm Tứ thân và Ngũ trí. Ở đây:

• "Tỉnh thức" (Sang): chỉ về "cái năng đỡ" – chính là Tứ thân (1)

• "Nở rộ" (Gyé): chỉ về "cái được đỡ" – chính là Ngũ trí.(2)

Vì sự tỉnh thức rốt ráo là Pháp thân và sự nở rộ rốt ráo là Trí tuệ nguyên sơ, nên đây chính là Phật Bảo.

b-   Giáo Pháp (Jewel of Dharma)

Giáo pháp thiêng liêng bao gồm Pháp Giáo triển (truyền thừa qua kinh điển) và Pháp Chứng ngộ. Pháp Giáo triển đề cập đến Tam Tạng:

• Luật tạng (Vinaya): giúp ta điều phục mọi cảm xúc tiêu cực.

• Kinh tạng (Sūtra): gồm các bài thuyết giảng súc tích được phân loại theo từng chủ đề.

• A-tì-đạt-ma tạng (Abhidharma): giúp phát sinh Trí tuệ (Prajñā), nhờ đó ta nhận chân trực tiếp thực tại.

Luật tạng dạy về Giới học, Kinh tạng dạy về Định học, và Luận tạng dạy về Tuệ học. Bằng cách thực hành Tam vô lậu học này, ta được dẫn đến sự giải thoát thực thụ. Do đó, Pháp Bảo gồm hai chân lý: Diệt đế (sự đoạn tận hoàn hảo) và Đạo đế (sự chứng ngộ hoàn hảo).

c-   Tăng đoàn (Jewel of Saṅgha)

Tăng đoàn, hay Hội chúng tối thắng, bao gồm các bậc Bồ-tát bất thoái chuyển. Các vị Bồ-tát trụ ở Thập địa không rơi trở lại luân hồi vì đã trực nhận tính Không bằng trí tuệ. Họ cũng không rơi vào cực đoan của sự tịch tĩnh (Niết bàn cực đoan), vì với lòng bi mẫn, họ thương yêu mọi chúng sinh như con một. Đây chính là Thánh Tăng đoàn.

Ngoài ra, dù không phải là nguồn quy y thực thụ theo nghĩa tuyệt đối, vẫn có các biểu tượng tương ứng: hình tượng Phật (thân), kinh văn chữ viết (khẩu), và những người đã bước vào giáo pháp (vì họ cao quý hơn phàm phu nên được gọi là thuộc về Tăng đoàn cao quý).

 Bản Hán Việt Tổng Kết

Quy Y Đối Tượng Chú Giải

Tam Bảo Tôn:

Vô thượng đạo sư: Viên mãn Phật.
Vô thượng cứu hộ: Diệu pháp tôn.
Vô thượng dẫn đạo: Thánh Tăng chúng.

1. Phật Bảo:

Phật giả, Tạng ngữ viết Sang-gyé.

Sang (Tỉnh) năng trì Tứ thân;
Gyé (Phát) sở trì Ngũ trí.

Cứu cánh tỉnh giác tức Pháp thân,
Cứu cánh khai triển tức Bản trí.

2. Pháp Bảo:

Bao hàm Giáo pháp cập Chứng pháp.
Giáo pháp tức Tam Tạng:

• Luật tạng: Điều phục chư phiền não.
• Kinh tạng: Nhiếp tóm chư khế kinh.
• Luận tạng: Hiển lộ trực quán tuệ.

Tu tập Tam học (Giới, Định, Tuệ) chứng đắc chân giải thoát. Pháp Bảo tức nhị đế: Diệt đế (đoạn đức) cập Đạo đế (chứng đức).

3. Tăng Bảo:

Tối thắng hội chúng, vị bất thoái Bồ-tát.

Trụ Thập địa không lạc luân hồi (do chứng Tính Không), không trụ tịch diệt (do vận Đại bi). Thị danh Đại Thánh Tăng.

Mạt pháp tượng trưng: Phật tượng (thân), kinh văn (khẩu), tu hành hành giả (phụ thuộc Tăng).

2. Quy y Nhân và Quy y Quả

Dòng tiếp theo là: “Con xin quy y cho đến khi đạt được giác ngộ.” Với câu này, chúng ta cùng với tất cả chúng sinh đồng thanh tuyên bố ý nguyện của mình. Trước các nguồn quy y là Tam Bảo cao quý, chúng ta tiếp nhận nền tảng tu tập, đó là thái độ

a- Quy y nhân:
Bồ-tát hạnh theo kiểu "người chăn cừu" (đây là tâm nguyện muốn dẫn dắt chúng sinh đạt đến giác ngộ trước khi bản thân mình đạt đến đó (giống như người chăn cừu đi sau để bảo vệ đàn cừu về chuồng trước))hoặc Bồ-đề tâm vô song; chúng ta tuyên cáo rằng từ nay cho đến khi đạt được tinh túy của giác ngộ, tất cả chúng ta – những kẻ đang bị dày vò bởi khổ đau khôn xiết và những trói buộc của luân hồi – không có nơi nương tựa hay hy vọng nào khác ngoài các Ngài. Vì vậy, từ tận đáy lòng, chúng ta quy y nơi các Ngài với niềm tin tưởng rằng các Ngài sẽ không bao giờ từ bỏ chúng ta. Đây gọi là Quy y Nhân.

b- Quy y Quả là sự nhận diện một trạng thái vốn là tinh túy rốt ráo của các đối tượng quy y – đó chính là Pháp thân (Dharmakāya), vượt ngoài sự sinh diệt, nơi mà chúng ta không còn tập trung vào bất kỳ đối tượng quy y nào, cũng không còn khái niệm về một người đang quy y.

II. Phát Bồ Đề Tâm)

Phần này bao gồm cả Bồ-đề tâm tương đối và Bồ-đề tâm tuyệt đối.

1. Bồ Đề Tâm Tương Đối

Bồ-đề tâm tương đối bao gồm

-        Bồ-đề tâm nguyện: tâm nguyện rằng tất cả chúng sinh, bao gồm cả chính mình, đều đạt được quả vị Phật (Nguyện tâm: Phát nguyện tự tha giai thành Phật đạo) và

-        Bồ-đề tâm hành: hành động, việc dấn thân trực tiếp vào các phương pháp để đạt thành quả vị Phật, tức là các hạnh nguyện của Bồ-tát.(Trực nhập Bồ tát hạnh, thực tu thành Phật pháp môn).

Bồ-đề tâm nguyện bao gồm: (i) hướng nguyện về phía nhân, tức là công đức; và (ii) hướng nguyện về phía quả, tức là sự giác ngộ viên mãn.

a-Nguyện nhân (công đức) Hướng nguyện về phía nhân được thể hiện qua dòng tiếp theo: “Bằng công đức tu tập hạnh bố thí và các thiện hạnh khác.”

Mọi nguồn thiện lành có được từ việc thực hành bố thí và các hạnh khác đều nằm trong ba yếu tố tạo ra công đức:
(i) công đức sinh từ bố thí,
(ii) công đức sinh từ trì giới, và
(iii) công đức sinh từ thiền định.
Hạnh bố thí và trì giới được nêu trực tiếp, còn thiền định đề cập đến công đức có được thông qua sức mạnh của việc tu tập nhẫn nhục, thiền định và trí tuệ. Hạnh tinh tấn hỗ trợ cho tất cả các hạnh trên.

b- Nguyện quả (Viên mãn giác ngộ): “Vì lợi hữu tình nguyện thành Phật.”
 Vì lợi hữu tình:
Hướng nguyện về phía quả giác ngộ viên mãn: Trong phần này, cụm từ
-
vì lợi ích của chúng sinh” chỉ việc dùng lòng bi mẫn để tập trung vào chúng sinh. Nó cho thấy lý do tại sao chúng ta nỗ lực hướng tới mục tiêu cụ thể: đó là để mang lại lợi lạc cho tất cả hữu tình. Cụm từ
-
Nguyện con đạt thành Phật quả” chỉ rõ mục tiêu cụ thể mà chúng ta đang nỗ lực vì chúng sinh. Nói cách khác, đây là việc dùng trí tuệ tập trung vào sự giác ngộ toàn vẹn, với ước nguyện rằng chúng ta có thể nhanh chóng chứng đạt Phật quả.

2. Bồ Đề Tâm Tuyệt Đối

Bồ-đề tâm tuyệt đối là an trụ trong một trạng thái vượt ngoài cả "tâm cần được phát khởi" lẫn "người phát khởi tâm" ấy. Trạng thái này đạt được thông qua sự thấu thị không mê lầm rằng: bản tính trong dòng tâm thức của chính ta và của tất cả chúng sinh vốn dĩ đã luôn giác ngộ dưới dạng Như Lai Tạng (Sugatagarbha); và thông qua việc chứng ngộ trí tuệ mang lại sự xác quyết, vốn đã được thanh tịnh hóa hoàn toàn khỏi ba luân (ba phương diện khái niệm/ chủ thể, đối tượng, và hành động)./.
***

Bản chú giải về các lời nguyện trong bài “Sangyé Chö Tsok Ma” này được soạn bởi Dzatrul, cốt chỉ để đưa ra một khung sườn căn bản. Nguyện cầu đức hạnh và sự cát tường được lan tỏa khắp nơi!

-Translated by Adam Pearcey, 2009. With thanks to Khenpo Dawa Paljor for his clarifications.

Phụ thích
(1)(2) Trong Phật giáo Kim Cương thừa, Tứ thân và Ngũ trí là cách mô tả toàn diện về các phẩm tính và trạng thái giác ngộ của một vị Phật.

Dưới đây là bảng giải nghĩa chi tiết:

I. Tứ Thân (The Four Kayas)

Thân ở đây không phải là thân xác vật lý, mà là các "tầng thân" hay các khía cạnh của giác ngộ.

1. Pháp thân (Dharmakaya): Thân chân thật. Là bản tính tuyệt đối của tâm, trống rỗng, không hình tướng, không sinh diệt, tựa như không gian vô tận.

2. Báo thân (Sambhogakaya): Thân hưởng dụng. Là phương diện rạng rỡ của giác ngộ, chỉ các bậc thượng căn (Bồ-tát) mới nhận thấy được qua các linh kiến, biểu hiện bằng các tướng tốt và ánh sáng.

3. Hóa thân (Nirmanakaya): Thân biến hóa. Là hình tướng hóa thân vào thế giới để cứu độ chúng sinh (ví dụ: Đức Phật Thích Ca Mâu Ni lịch sử).

4. Tự tính thân (Svabhavikakaya): Tự tính hợp nhất. Đây không phải là một thân riêng biệt thứ tư, mà là trạng thái bất khả phân (hợp nhất) của ba thân trên.

II. Ngũ Trí (The Five Wisdoms)

Ngũ trí là sự chuyển hóa của 5 loại tâm thức mê lầm (ngũ uẩn/ngũ độc) thành 5 loại trí tuệ giác ngộ.
1- Pháp giới thể tính trí: trí tuệ thấu suốt bản chất thật sự của vạn pháp là tính không.
2- Đại viên cảnh trí: trí tuệ như chiếc gương lớn, phản chiếu vạn vật rõ ràngmaf không bám chấp hay biến dạng.
3- Bình đẳng tính trí: trí tuệ nhận ra tính bình đẳng tuyệt dối giữa ta và người, giữa luân hồi và niết bàn.
4- Diệu quan sát trí: trí tuệ quan sát tinh tế, thấu hiểu căn cơ từng chúng sinh để cứu độ mà không bị lụy.
5- Thành sở tác trí: trí tuệ giúp thành tựu mọi hành động lợi lạc cho chúng sinh một cách tự nhiên, không dụng công.

III. Mối liên hệ giữa Tứ thân và Ngũ trí

Trong bài chú giải của Ngài Dzatrul có đoạn: "'awakened' (sang) refers to the support, the four kāyas, and 'unfolded' (gyé) to the supported, the five wisdoms."

• Tứ thân được coi là "Năng trì" (Support): Giống như cái bình chứa.

• Ngũ trí được coi là "Sở trì" (Supported): Giống như phần nước quý bên trong bình.

Nói cách khác, một vị Phật không chỉ có trạng thái trống rỗng (Thân) mà còn có sự vận hành không ngừng nghỉ của trí tuệ và lòng từ bi (Trí) để giúp đỡ chúng sinh.

Ví dụ dễ hiểu: Nếu coi một bóng đèn là Pháp thân (tiềm năng), thì luồng điện bên trong là Ngũ trí (năng lượng trí tuệ), và ánh sáng tỏa ra chiếu sáng căn phòng là Hóa thân (hành động cứu độ).

 

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/ngawang-tenzin-norbu/commentary-refuge-bodhichitta


SỰ HUY HOÀNG THỊNH VƯỢNG CỦA TRÍ TUỆ

Tán thán Bồ Tát Văn Thù



Nguyên tác: The Flourishing Splendour of Intelligence/ In Praise of Mañjuśrī
Tác giả: Do Dasel Wangmo
Việt dịch : Quảng Cơ 
Biên tập: Tuệ Uyển 

***

Trước mặt tôi, giữa hư không, mây trắng cuồn cuộn,
Trong trung tâm của vòm ánh sáng cầu vồng rực rỡ,
Trên tòa sen và mặt trăng,
Hiện thân của toàn bộ trí tuệ chư Phật an tọa,
Thân sắc cam vàng, trẻ trung, đầy đủ tướng hảo.
Ngài cầm bảo vật có thể chặt đứt lưới mê lầm,
Thanh kiếm trí tuệ màu xanh thẫm, rực cháy ngọn lửa giác ngộ thanh tịnh.
Để biểu trưng cho sự thấu suốt toàn bộ giáo pháp sâu rộng,
Ngài cầm hoa ưu-bát-la, trên đó đặt quyển kinh.
Ngài trang sức châu báu, khoác y lụa mềm mại,
Ngồi kiết già, mỉm cười và nhìn về phía tôi.
Dung mạo đoan nghiêm, trẻ trung, khiến người chiêm ngưỡng luôn hoan hỷ.
Kho tàng trí tuệ vĩ đại không thể nghĩ bàn,
Chỉ vì những che chướng cứng cỏi từ nhiều đời của tôi,
Nên tôi không thể thấy được dung nhan của Ngài,
Đấng tối thượng trong các hàng chư thiên.
Tôi bị giam hãm trong luân hồi, bị trói buộc bởi xiềng xích mê lầm.
Giờ đây chính là lúc—xin Ngài dùng trí tuệ và từ bi nhiếp thọ tôi!
Nguyện ánh sáng trí tuệ của Ngài xua tan bóng tối trong tâm tôi!
Nguyện sức mạnh của công đức xóa tan khổ não của tất cả chúng sinh,
Làm tăng trưởng ánh sáng trí tuệ và niềm tin,
Tự do vận dụng, không chướng ngại, đối với mọi pháp có thể nhận biết.

— Dasel kính viết

| Translated by Adam Pearcey, 2023.

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/do-dasel-wangmo/manjushri-praise


Thứ Bảy, 24 tháng 1, 2026

TINH TÚY VIÊN MÃN MỌI HẠNH LÀNH - QUÁN THẾ ÂM

 



Pháp tu hằng ngày của Đấng Đại Bi, Bánh Xe Như Ý

Nguyên tác: The Essence of Cintāmaṇi
A Daily Practice of the Great Compassionate One, Wish-fulfilling Wheel
Tác giả:  Jamyang Khyentse Wangpo
Việt dịch: Quảng Cơ
Biên tập: Tuệ Uyển
***

namo guru mahā-kāruṇika-cintā-maṇi-cakrāya1

Pháp tu hằng ngày ngắn gọn này của Đấng Đại Bi – Bánh Xe Như Ý, một mật pháp kỳ diệu thuộc kho tàng thâm sâu do đại hóa thân khai tạng Chokgyur Dechen Lingpa phát lộ, gồm ba phần: phần chuẩn bị, phần chính và phần kết.

I. Phần Chuẩn Bị

Trong khi quán tưởng ruộng tích lũy (ruộng phước), hãy đọc:


Con quy y Đấng Đại Bi, bản thể của Tam Bảo,
Và bậc Đạo Sư.

Để cứu vớt luân hồi từ tận đáy sâu,
Con nguyện mau chóng thành tựu Bánh Xe Như Ý.
Con đảnh lễ các Đấng Chiến Thắng, các bậc thừa tự và quyến thuộc,
Cúng dường, sám hối mọi nghiệp chướng đã tạo.
Con tùy hỷ mọi công đức,
Thỉnh các Ngài chuyển bánh xe Pháp,
Và trụ thế lâu dài.
Mọi thiện căn con đều hồi hướng cho hết thảy chúng sinh.
Nguyện tất cả đều đạt giác ngộ viên mãn!

Sau đó, thực hành quy y, phát tâm Bồ-đề và tích tập công đức, ba lần.

Ruộng tích lũy tan hòa vào tự thân.

II. Phần chính 

om shunyata jñana benza sobhava etma ko hang

oṃ śūnyatā-jñāna-vajra-svabhāvātmako ‘haṃ

Từ trong trạng thái đại không nguyên sơ,
Từ bi huyễn hóa, sự hiển lộ linh động của tánh giác,
Hiện khởi thành chủng tự hrīḥ như ánh trăng.
Ánh sáng từ hrīḥ tỏa ra, một cung điện hiện bày,
Tựa mạng lưới cầu vồng đan xen. Nơi trung tâm,
Trên tòa sen, đĩa mặt trời và mặt trăng,
Chủng tự hrīḥ hóa thành Quán Thế Âm – Bánh Xe Như Ý,
Thân màu trắng,
Ba mặt, tám tay,
Nở nụ cười an nhiên.

Mặt bên phải của Ông Ngài màu xanh đậm, mặt bên trái màu đỏ,
Ngài có chín con mắt.
Đôi tay thứ nhất giơ lên trong ấn Pháp giới,
Đồng thời nắm chày kim cang năm chấu.
Đôi tay phía dưới cầm bảo châu và bình bảo.
Đôi tay kế tiếp cầm cán hoa sen và khaṭvāṅga (trượng thiêng).
Đôi tay cuối cùng cầm móc và dây thòng lọng.

Ngài đứng uy nghi, trang nghiêm bằng lụa là và châu báu,
An trụ trong không gian rực sáng của vô số tia cầu vồng,
Giữa đại dương chư Phật và Bồ-tát.

Ngài là tam-muội-da và trí huệ bất nhị, viên dung không phân.
Tại tâm luân của Ngài, trên liên hoa và nguyệt luân,
An trụ chủng tự hrīḥ, được man-tra luân vây quanh.
Từ đó quang minh phóng chiếu,
Cúng dường chư Thánh chúng, thỉnh cầu gia trì,
Tịnh trừ nhất thiết chướng ngại của hữu tình,
Viên mãn nhất thiết sở nguyện, sở cầu.
Quang minh thu nhiếp trở lại, nhập vào tự thân,
Do vậy đắc nhất thiết thù thắng thành tựu cùng thế gian thành tựu.

om pema tsinta mani dzala hung pé

oṃ padma-cintā-maṇi-jvala hūṃ phat

Như vậy, nhất tâm chuyên chú nơi tướng hảo rõ ràng của Bổn Tôn,
Quán tưởng quang minh phóng xuất rồi thu nhiếp,
Và trì tụng thần chú tùy theo thời lượng mong muốn.

III. Phần Kết

Khi xuất tọa, hãy xướng:

Nguyện do công đức này,
Con mau chóng chứng đắc cảnh giới Bánh Xe Như Ý,
Và an lập hết thảy hữu tình lưu chuyển,
Không sót một ai,
Đều đồng đăng cảnh giới ấy.

Ngài không nhiễm công phu tạo tác,
Không do cần lao gắng sức,
Mà như bảo châu Như Ý và cây Như Ý,
Viên mãn nhất thiết nguyện vọng và hy vọng của hữu tình.
Nguyện cát tường cho mọi sở nguyện đều được viên thành!

***

Hãy trì tụng những kệ trên, cùng với các bài hồi hướng, phát nguyện hay kệ cát tường khác mà bạn đã biết.

Sau đó, tiến hành các sinh hoạt thường nhật.

Về công đức và lợi ích của việc thường xuyên hành trì pháp này,
bản tạng văn căn bản dạy rằng:

Trong ngắn hạn, bạn sẽ được hưởng một cuộc sống lâu dài,
Bạn sẽ thoát khỏi bệnh tật và những ảnh hưởng tiêu cực,
Và mọi mục tiêu của bạn sẽ được thành tựu đúng như mong muốn.
Nơi ở của bạn sẽ tràn đầy những điều cát tường,
Và bạn sẽ sống không xung đột với những người đồng hành của mình, dù họ là ai.

Công hạnh tu tập thanh tịnh của bạn sẽ ngày càng tăng trưởng,
Và trí giác của bạn sẽ trở nên sáng tỏ, rõ ràng.
Cuối cùng, bạn sẽ được giải thoát và vãng sinh về Tịnh độ thanh tịnh của bậc Thánh.
Vì vậy, những ai thuộc dòng truyền thừa mật chú của Đức Liên Hoa
Nên lấy điều này làm cốt tủy cho sự tu hành cá nhân của mình.

Pema Ösel Dongak Lingpa, người phụng sự hoan hỷ của bậc Đạo sư Liên Hoa Sinh,
đã sắp xếp nghi quỹ này để tụng đọc, hoàn toàn phù hợp với thâm ý của bản mật tạng
Nguyện cho công đức của việc này trở thành nhân duyên
để tất cả chúng sinh đều được thọ hưởng mọi lợi lạc và an vui,
đúng như những gì họ mong cầu.
Sarvadā su-śreya-siddhir astu!

(Nguyện cho mọi thiện lành và thành tựu thù thắng luôn hiện hữu.)

Nếu bạn muốn bản dịch sát nghĩa hơn, hoặc muốn giữ nguyên danh xưng – thuật ngữ Tây Tạng/Sanskrit nhiều hơn, mình chỉnh lại cho đúng gu của bạn nhé.

Samye Translations, 2023 (trans. Laura Swan, ed. Libby Hogg).

Source:

mkhyen brtse'i dbang po. “thugs rje chen po yid bzhin 'khor lo'i rgyun khyer tsin+tA ma Ni'i snying po.” In sprul pa’i gter chen o rgyan mchog gyur bde chen zhig po gling pa phrin las ’gro ’dul rtsal gyi zab gter yid bzhin nor bu’i mdzod chen po, Vol. 20: 201-205. Kathmandu: Ka-Nying Shedrub Ling Monastery, 2004.

Version: 1.0-20230502

1.  ↑ This Sanskrit expression translates as “Homage to the guru, the Great Compassionate One, Wish-fulfilling Wheel!”

2.  ↑ This Sanskrit expression translates as “May good fortune always prevail!”

 

https://www.lotsawahouse.org/tibetan-masters/jamyang-khyentse-wangpo/daily-wish-fulfilling-wheel